|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 177/2025/HS-PT
Ngày: 25 - 11 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hoàng Vũ
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng và bà Phan Thị Minh Tâm
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Ngô Hồng Đỉnh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (cơ sở B) xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 279/2025/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2025/QĐXXPT-HS ngày 11/11/2025 đối với bị cáo Lê Kha S; do có kháng cáo của bị cáo Lê Kha S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 15 - An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Kha S, sinh ngày 12/02/1983 tại An Giang, số Căn cước công dân: 089083033122; nơi cư trú: khóm L, phường T, tỉnh An Giang; Chỗ ở: khóm L, phường L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng A và bà Nguyễn Thị Mỹ D; anh, chị em có 02 người, bị cáo là người thứ hai; vợ: Nguyễn Ngọc T, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2017;
+ Tiền án: Ngày 11/01/2018, TAND thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tuyên phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009. Ngày 24/01/2023, chấp hành xong hình phạt, nghĩa vụ án phí (Chưa xoá án tích);
+ Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2024 cho đến nay, tại Phân trại tạm giam khu vực T (nay là P trại tạm giam A – Cơ sở 2) thuộc trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh A.
(Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 20/11/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế và ma túy, Công an thị xã T phát hiện bắt quả tang Phạm Văn N, Nguyễn Văn L có hành vi cất giấu 01 bọc nilon trong suốt hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tại khu vực khóm L, phường L, thị xã T (nay là khóm L, phường L, tỉnh An Giang). N, L khai nhận, 01 bọc nilon bị thu giữ bên trong là ma túy, N, L mua của Lê Kha S sinh năm 1983, nơi cư trú khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (nay là khóm L, phường T, tỉnh An Giang), cả 02 cùng nhau hùn tiền đến gặp trực tiếp Lê Kha S mua để sử dụng chung.
Qua quá trình điều tra xác định từ khoảng tháng 6/2024 tại khu vực phường L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (nay là phường T, phường L, tỉnh An Giang), Lê Kha S mua ma túy của người tên K (không rõ họ, tên địa chỉ ở đâu), sau đó đem về phân nhỏ bán cho các con nghiện cụ thể: Lâm Bảo T1 khoảng 07 lần, mỗi lần 200.000 đồng – 1.500.000 đồng, Phạm Văn N, Nguyễn Văn L khoảng 5 lần, mỗi lần 200.000 đồng, Phạm Thị Kiều D1 khoảng 10 lần, mỗi lần từ 200.000 đồng – 300.000 đồng, Lý Quốc V khoảng 02 lần, mỗi lần 300.00 đồng, Nguyễn Quốc L1 khoảng 02 lần mỗi lần 500.000 đồng – 1.500.000 đồng, Nguyễn Bảo T2 01 lần số tiền 300.000 đồng, Phạm Văn Chí C khoảng 02 lần, mỗi lần 300.000 đồng.
Ngày 18/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T, tỉnh An Giang (nay là Công an tỉnh A) tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Lê Kha S về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa bắt được bị can.
Đến ngày 24/12/2024, thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam tại nhà của Lê Kha S thuộc khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (nay là khóm L, phường L, tỉnh An Giang), quá trình thi hành Lệnh bắt, phát hiện bắt quả tang Lê Kha S đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/12/2024, Lê Kha S rủ Phạm Thị Thu D2, Phạm Thị Kiều D1 đến nhà S để dọn dẹp đồ trong nhà. Lúc này, Phạm Thị Kiều D1 rủ thêm Ngô Văn P1 phụ tiếp. Sau khi dọn dẹp, S rủ D2, D1 và P1 sử dụng ma túy chung, S đi lấy ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng (có sẵn tại nhà S), đốt lên cho cả bốn người luân phiên sử dụng bằng cách hút, P1 hút được khoảng 2 - 3 hơi nghỉ về nhà trước, còn lại S, D1 và D2 tiếp tục sử dụng. Cùng lúc đó, lực lượng Công an thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam, thu giữ tang vật một bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 bọc nilon trong suốt bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Sắt thừa nhận bọc ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy đá là của S. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Kha S thuộc khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, tại vị trí phòng ngủ và tủ quần áo thu giữ thêm 02 bọc nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy và một số dụng cụ phục vụ việc bán ma túy. Tất cả số ma túy thu giữ Lê Kha S dùng để phân chia nhỏ bán lại kiếm lời.
- * Căn cứ kết luận giám định số 1644 ngày 27/11/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: (số ma túy thu giữ từ Lê Kha S bán cho Phạm Văn N và Nguyễn Văn L ngày 20/11/2024): Mẫu M gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0535 gam.
- * Căn cứ kết luận giám định số 1828 ngày 30/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: (số ma túy thu giữ tại nhà của Lê Kha S thuộc khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang vào ngày 24/12/2024:
- Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2003 gam.
- Mẫu M2 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0316 gam.
- * Căn cứ kết luận giám định số 1829 ngày 31/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: (số ma túy thu giữ tại nhà của Lê Kha S thuộc khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang vào ngày 24/12/2024:
- Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 4,2075 gam.
- Mẫu M2 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 3,5563 gam.
- * Căn cứ kết luận giám định số 1830 ngày 11/02/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: (giám định mẫu nước tiểu của Lê Kha S, Phạm Thị Kiều D1, Phạm Thị Thu D2 ngày 24/12/2024): Mẫu M1, M2, M3 gửi đến giám định có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine (mẫu vật đã sử dụng hết).
- * Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 04 bọc nilon trong suốt bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, Iphone màu trắng; 04 bật lửa bằng nhựa trong suốt; 03 cây kéo bằng kim loại; 02 cân điện tử; 07 đoạn ống hút nhựa; 04 kẹp bằng kim loại; 02 cọ thuỷ tinh; 06 bọc nilon trong suốt bên trong rỗng; 01 ví da màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý; 02 dao lam kim loại màu trắng; 01 Cuộn băng keo màu đen; 01 hộp giấy tròn màu đỏ; 01 khẩu trang màu xám.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 Tòa án
nhân dân khu vực 15 - An Giang tuyên bố bị cáo Lê Kha S phạm tội “Mua bán
trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm b, c, i, q khoản 2 Điều 251; điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Kha S 11 (mười một) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành án là 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 24/12/2024).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/9/2025 bị cáo Lê Kha S có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lê Kha S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình mong Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo để bị cáo sớm chấp hành xong hình phạt về về nhà chăm sóc cho cha mẹ già.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và cơ quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Kháng cáo của bị cáo trong thời gian luật định, hợp lệ nên được xem xét, giải quyết phúc thẩm. Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới để có thể xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Bị cáo là người có nhân thân xấu, có nhiều tình tiết định khung tăng nặng, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Kha S. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Kha S làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Lê Kha S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Từ tháng 6 năm 2024 bị cáo Lê Kha S đã có hành vi buôn bán trái phép chất ma tuý cho nhiều người, nhiều lần. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/12/2024 bị cáo đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhiều người thì bị bắt quả tang. Tổng số ma tuý bị cáo mua bán bị thu giữ là 8,0176 gam loại Methamphetamine.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Lê Kha S khi thực hiện hành vi phạm tội đã là người trên 18 tuổi, đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất mà tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhận thức được nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã vi phạm nghiêm trọng đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma tuý và ảnh hưởng nghiêm trọng đến trị an khu vực. Bị cáo có tiền án về tội rất nghiêm trọng, chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, toà án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Lê Kha S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c, i, q khoản 2 Điều 251; điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Kha S. HĐXX thấy rằng: Bị cáo phạm tội với tính chất rất nghiêm trọng, vì mục đích thu lợi bất chính mà bị cáo đã bán ma tuý cho nhiều người, nhiều lần. Đồng thời, bị cáo đã tổ chức, rủ rê và cung cấp chất ma tuý cho người khác sử dụng trái phép. Hành vi của bị cáo đã góp phần làm tệ nạn ma tuý trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm khác gây hoang mang, lo sợ cho người dân và ảnh hưởng xấu đến trị an trong khu vực. Toà án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt cho bị cáo đã xem xét các quy định của pháp luật, nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo gây ra và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như là: bị cáo ăn năn, hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 8 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới để HĐXX có thể xem xét chấp nhận, nên HĐXX không chấp nhận kháng cáo bị cáo. Đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo S không được chấp nhận nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Kha S; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án Khu vực 15 - An Giang đối với bị cáo Lê Kha S về phần quyết định hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Lê Kha S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuỷ” và
“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm b, c, i, q khoản 2 Điều 251; điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Kha S 11 (mười một) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành án là 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 24/12/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Lê Kha S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Vũ |
Bản án số 177/2025/HS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 177/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
