TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 176/2025/HS-ST Ngày 29 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Đăng và ông Đoàn Mạnh Hà
- Thư ký phiên tòa: ông Đinh Xuân Giáp – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Lê Hữu Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 140/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Văn Đ - sinh ngày 26/7/1983 tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: xóm D xã N, huyện N (nay là xã P), tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị T1; vợ (đã ly hôn) và có 02 con; Tiền sự, Tiền án: không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: ông Võ Văn T – sinh năm 1954; Địa chỉ: xóm D xã N, huyện N (nay là xã P), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị T1; Địa chỉ: xóm D, xã P (tức xã N, huyện N cũ), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Võ Văn D và anh Nguyễn Duy N; Địa chỉ công tác: Công an xã P, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn Đ và bị hại ông Võ Văn T (cha bị cáo, trên 70 tuổi) có một số mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày liên quan đến lối sinh hoạt cũng như việc tách bìa đất, trước đó, hai bên đã xảy ra xô xát một vài lần.
Sẵn có tâm trạng bức xúc sự việc vào chiều ngày 25/02/2025, Đ bị ông T xô gãy chốt cửa phòng ngủ và đuổi bạn bè, không cho hát karaoke trong phòng, khoảng 18h30 phút ngày 28/02/2025, sau khi đi đám cưới về và đã uống nhiều rượu, thấy ông T và bà T1 (mẹ của Đ) đang đứng ở cửa, Đức vung côn 2 khúc bằng kim loại đánh 2 phát vào ngực và tay ông T thì bị bà T1 ngăn lại. Ông T đi vào nhà nằm. Còn bà T1 gọi điện thoại báo công an xã đến giải quyết sự việc. Khoảng 19h thì có anh D và anh N (an ninh cơ sở) đến nhà; ông T đi ra sân rồi ôm bụng kêu đau. Anh D nói Đ “anh say rồi thì đi ngủ đi”; Đ im lặng đi vào phòng ngủ nhưng trong lòng vẫn muốn tiếp tục đánh ông T. Đ vào bếp, lấy 01 con dao bầu dài 35,5cm chạy ra vung dao chém ông T (lúc này đang đứng nói chuyện với anh D, anh N ngoài sân) 02-03 nhát, ông T cúi người né thì bị dao sượt qua phần thái dương + trán + đỉnh đầu bên trái làm mất lớp da thượng bì. Ngay lúc đó, anh D và anh N đã khống chế bắt giữ Đ. Ông T được đưa đi bệnh viện cấp cứu và điều trị 01 tuần thì được ra viện.
Tại bản Kết luận giám định số 21/KL-KTHS(Đ3 - SĐ) ngày 14/5/2025 Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu vật ký hiệu A1 (hình dạng con dao) gửi đến giám định là dao sắc, nhọn thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” và mẫu vật ký hiệu A2 (hình dạng côn) gửi đến giám định là côn hai khúc thuộc Phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 80/KLTTCT-TTPY ngày 12/4/2025 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Văn T tại thời điểm giám định là 17%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Ngày 20/8/2025 Cơ quan điều tra đã chuyển con dao bầu và côn nhị khúc sang Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An bảo quản.
Bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nộp giấy tờ chứng minh bị hại là người có công với cách mạng.
Tại bản cáo trạng số 172/CT-VKSNA-P2 ngày 19/8/2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố, đã nhận thức được sai lầm do uống rượu, không làm chủ được bản thân, không làm chủ được hành vi nên đã gây ra thương tích cho cha mình. Bị cáo rất hối hận vì sự bất hiếu của bản thân, nay bị cáo mong muốn được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để trở về nuôi các con đang ăn học do vợ cũ của bị cáo bị ung thư, nếu bị cáo phải thi hành án tại cơ sở giam giữ thì cha mẹ bị cáo không đủ sức và điều kiện kinh tế để chăm sóc, nuôi dạy con thay cho bị cáo. Bản thân bị cáo bị tai nạn lao động, mù một mắt trái từ 08 năm nay nhưng vẫn chưa được hưởng trợ cấp của nhà nước, bị cáo xin được miễn án phí.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tiêu hủy 01 con dao bầu và côn hai khúc đang được bảo quản tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Bị cáo là người bị khuyết tật (mù một mắt), xin miễn nên đề nghị cho bị cáo miễn án phí hình sự.
- - Bị hại ông Võ Văn T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra không yêu cầu bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì mối quan hệ cha con. Bị cáo phạm tội là uống rượu, bột phát không làm chủ được bản thân. Sau khi ly hôn, bị cáo bị tai nạn lao động dẫn đến mù một mắt nên tâm tính có thất thường, chán nản. Nay bị cáo đang nuôi con nhỏ, vợ cũ đã bị ung thư giai đoạn cuối, ông T xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về nuôi con bởi vì ông bà đã quá già, từ khi sự việc xảy ra, bị cáo Đ bị tạm giam thì mẹ là bà T1 trước đây bị chấn thương sọ não nay nằm một chỗ, không tỉnh táo, mất sức lao động không thể chăm sóc cho cháu nội được. Ông T nộp tài liệu chứng minh ông là người có công với cách mạng, xin cho bị cáo giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- - Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.
- - Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Vụ án đã được Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung vào ngày 15/9/2025 để điều tra bổ sung đối với hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự. Ngày 16/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An có văn bản số 2385/CV-VKS-P2 về việc giữ nguyên quyết định truy tố vụ án Võ Văn Đ và chuyển lại toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An để xét xử đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 289 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý để xét xử theo quy định.
[2] Về nội dung: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18h30 phút ngày 28/02/2025, sau khi đi đám cưới về và đã uống nhiều rượu, thấy cha mẹ ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị T1 đang đứng ở cửa, Võ Văn Đ vung côn 2 khúc bằng kim loại đánh 2 phát vào ngực và tay ông T thì bị bà T1 ngăn lại. Ông T đi vào nhà nằm. Còn bà T1 gọi điện thoại báo công an xã đến giải quyết sự việc. Khoảng 19h khi lực lượng an ninh cơ sở đến, ông T đi ra đứng nói chuyện với lực lượng chức năng Đ vào bếp, lấy 01 con dao bầu dài 35,5cm chạy ra chém ông T 02-03 nhát, ông T cúi người né thì bị dao sượt qua phần thái dương + trán + đỉnh đầu bên trái làm mất lớp da thượng bì. Ông T được đưa đi bệnh viện cấp cứu và điều trị 01 tuần thì được ra viện. Theo kết quả giám định pháp y, ông T bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 17%. Việc bị cáo dùng dao chém vào đầu là vùng trọng yếu nhưng khi thực hiện hành vi, bị cáo không chủ ý chém vào vùng trọng yếu (khi dao chém tới thì bị hại cúi đầu né tránh nên lưỡi dao cắt vào vùng đầu), không nhằm mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (dùng hung khí nguy hiểm, phạm tội đối với cha đẻ của mình, gây thương tích tỷ lệ từ 11% đến 30%) nên Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.
Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Ông T sinh năm 1954, tại thời điểm bị cáo gây thương tích cho ông T thì bị cáo biết ông T đã hơn 70 tuổi nên thuộc trường hợp “Phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là hết sức liều lĩnh, coi thường đạo đức xã hội và pháp luật nên cần phải lên một mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, phòng ngừa tái phạm. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Tuy nhiên cần xét: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt (là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự). Mặc dù bị cáo gây thương tích cho ông T nhưng ông T vẫn giao nộp tài liệu chứng minh ông là người có công với cách mạng để bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “có người thân có công với cách mạng” (là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự) nên cần áp dụng thêm đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu; là người khuyết tật (mù 01 mắt); vốn dĩ mâu thuẫn gia đình dù căng thẳng đến đâu cũng không thể làm thay đổi được tình cảm cha con ruột thịt, máu chảy ruột mềm; bị cáo đã thực sự hối hận, nhận ra sự bất hiếu của bản thân, phải chịu sự trừng phạt của pháp luật, của lương tâm nhưng điều này cũng khiến cho người thân đau lòng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy, chỉ cần cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là đủ nghiêm và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về vật chứng: Con dao bầu và côn nhị khúc là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy.
Về án phí: bị cáo là người khuyết tật (mù 01 mắt), xin miễn nên Hội đồng xét xử cho miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Võ Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Về hình phạt: Xử phạt Võ Văn Đ 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28/02/2025.
- Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tiêu hủy 01 con dao bầu chiều dài 35,5cm; thân dao được làm bằng kim loại tối màu, sống dao thẳng, lưỡi dao hình cong; mũi dao nhọn có chiều dài 23,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 05cm; cán dao được làm bằng gỗ tối màu có chiều dài 12cm; hai đầu cán dao được bọc kim loại sáng màu và 01 côn nhị khúc làm bằng kim loại tối màu; mỗi khúc côn được cấu tạo hình trụ đường kính 01cm có chiều dài 23,5cm.
Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2025.
- Về án phí: áp dụng Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: miễn án phí cho bị cáo Võ Văn Đ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Thể |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | ||
| Thẩm phán | Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán chủ tọa phiên tòa |
| Đoàn Thị Kiều Hương | Hồ Bá Võ | Lưu Thị Hồng Thể |
| Trần Xuân Thành | ||
| Bùi Thị Hoa | ||
Bản án số 176/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 176/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 2 năm tù
