|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 175/2025/HS-PT
Ngày 07 - 11 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn
Bà Lê Thị Thọ
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Ngà - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 163/2025/TLPT-HS ngày 08/10/2025 đối với bị cáo Nguyễn Trọng T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Trọng T, sinh ngày 07/6/1996, tại huyện L, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: ấp C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp C, xã V, thành phố Cần Thơ); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc V và bà Trần Thị T1; bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị bắt từ ngày 14/01/2025 đến ngày 18/02/2025. Sau đó, thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh đến nay. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hồ Tấn D - Luật sư của Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1974 (mẹ của bị cáo); Địa chỉ: ấp C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp C, xã V, thành phố Cần Thơ). (có mặt)
Ngoài ra trong vụ án còn có những người sau đây không liên quan đến kháng cáo nên Hội đồng xét xử không triệu tập gồm: Bị hại Công ty cổ phần T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/01/2025, Nguyễn Trọng T điều khiển xe mô tô biển số 95F7-2361 đi từ nhà đến Cửa hàng Đ thuộc khu V, phường T, thị xã L (nay là phường L) để sửa điện thoại di động. Khi đến cửa hàng T gặp nam nhân viên và yêu cầu sửa chữa điện thoại di động cho Thù và yêu cầu tắt chế độ tìm điện thoại của bạn (tính năng định vị trên điện thoại). Khi nhân viên kiểm tra và thông báo cho T biết “điện thoại bị khóa màn hình đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày mới mở khóa màn hình lên được”, T nói 15 giờ 00 phút sẽ quay lại lấy điện thoại. Trước khi đi, T có nói với nhân viên: “nếu mở khóa màn hình và tắt tìm điện thoại của bạn không được thì sẽ quậy đập phá điện thoại của cửa hàng Điện máy xanh".
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T đến Cửa hàng Đ để nhận lại điện thoại. Khi nhận điện thoại Nhân viên Điện máy xanh thông báo không tắt tính năng tìm điện thoại (tắt định vị) được do điện thoại của T bị sự cố tự động bật định vị. Lúc này, T nói “Sửa điện thoại cho tôi không được thì tôi đập điện thoại trong cửa hàng”. Lúc này, T cầm mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đập nhiều cái vào cánh cửa kính trưng bày điện thoại di động nhưng tấm kính không bị bể mà bể cái mũ bảo hiểm của T. Sau đó, T dùng tay trái kéo cửa rồi dùng tay phải lần lượt cầm 07 (bảy) cái điện thoại di động đập xuống nền gạch làm điện thoại bị bể màn hình và cong vênh và trầy xước. Lúc này, có nhiều nhân viên Điện máy xanh chạy đến khống chế, đè bị cáo xuống nền gạch và trình báo Cơ quan Công an.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/HĐĐGTS ngày 16/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thị xã L kết luận:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu Xanh, cong vênh bong hở màn hình, nhiều vết trầy xước, số IMEI1: 869383076073741, số IMEI2: 869383076073758. Tình trạng không hoạt động, điện thoại chưa qua sử dụng. Định giá: 3.290.000 đồng.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VOVO, màu xanh, đen, cong vênh, hở màn hình, nhiều vết trầy xước, số IMEI1: 869383076073709, số IMEI1: 869383076073717. Tình trạng không hoạt động, điện thoại chưa qua sử dụng. Định giá: 3.290.000 đồng.
- - 01 (một) điện thoại di động Sam Sung, màu trắng, cong vênh, trầy xước bên ngoài, bể màn hình, lưng màng hình, số IMEI1: 356026213542314, số IMEI2: 3586070193542311. Tình trạng không hoạt động, điện thoại chưa qua sử dụng. Định giá: 3.190.000 đồng.
- - 01 (một) điện thoại di động Realme Not6ox, màu xanh có nhiều vết trầy xước, số IMEI1: 861569070235397, số IMEI2: 861569070235389. Tình trạng không hoạt động, điện thoại chưa qua sử dụng. Định giá: 2.990.000 đồng.
- - 01 (một) điện thoại di động màu tím, nhãn hiệu APPO, cong vênh, bể màn hình, giềng trầy xước, số IMEI1: 863971075774313, số IMEI2: 863971075774305, Tình trạng không hoạt động, điện thoại chưa qua sử dụng. Định giá: 3.490.000 đồng.
- - 01 (một) điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu VIVO, bể màn hình, bong hở, trầy xước, số IMEI1: 869383078386661, số IMEI2: 869383078386679. Tình trạng không hoạt động, điện thoại chưa qua sử dụng. Định giá: 3.290.000 đồng.
- - 01 (một) điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu APPO, cong biến dạng, giềng bị thụng móp, trầy xước, số IMEI1: 8669986074527055, số IMEI2: 8669986074527048. Tình trạng không hoạt động, điện thoại chưa qua sử dụng. Định giá: 3.490.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 23.030.000 đồng (hai mươi ba triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).
* Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 87/2025/KLGĐ ngày 26/3/2025 của Trung tâm P đối với Nguyễn Trọng T kết luận: Tại thời điểm gây án và hiện tại “Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do rối loạn nhân cách ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi”.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Cần Thơ quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Được khấu trừ thời gian bị bắt để tạm giam (từ ngày 14/01/2025 đến ngày 18/02/2025).
- Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 21/8/2025, bị cáo Nguyễn Trọng T kháng cáo xin giảm hình phạt và chuyển từ hình phạt tù giam sang cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Nguyễn Trọng T giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt và chuyển từ hình phạt tù giam sang cho hưởng án treo, do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, không tiền án, tiền sự và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại và bị hại có đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Hoàn cảnh gia đình khó khăn, neo đơn, cha mẹ bị cáo đã không còn sống chung khoảng 20 năm nay.
Bà T1 là người đại diện hợp pháp cho bị cáo trình bày: Thù khi còn nhỏ khoảng 05 tuổi có bị tai nạn té từ trên giường xuống nền gạch nên có bị chấn thương vùng đầu nên gia đình có đưa đi điều trị và đến năm 15 tuổi thì T uống dầu lửa dẫn đến vùng đầu bị sưng lên, mình mẩy bị teo lại thì có đi bệnh viện điều trị. Nhưng cách nay khoảng 03 năm thì T tính tình không được bình thường so với người khác, thường hay chửi người khác lớn tuổi hay đập đồ tài sản của người khác.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Cần thiết áp dụng Khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự do bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo nhất thời, bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi. Nên cần khoan hồng cho bị cáo. Bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm.
Nói lời sau cùng tại phiên toà: Bị cáo xin được giảm hình phạt và chuyển từ hình phạt tù giam sang cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng T lập và gửi trực tiếp đến Toà án cấp sơ thẩm, ngày 21/8/2025 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào khoảng 15 giờ ngày 14/01/2025, tại Cửa hàng Đ thuộc khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ), bị cáo Nguyễn Trọng T cầm mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đập nhiều cái vào cánh cửa kính trưng bày điện thoại di động nhưng tấm kính không bể, T tiếp tục dùng tay trái kéo cửa rồi dùng tay phải lần lượt cầm 07 (bảy) chiếc điện thoại di động đập xuống nền gạch làm điện thoại bị bể màn hình, cong vênh và trầy xước. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/HĐĐGTS ngày 16/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thị xã L, tổng giá trị thiệt hại của 07 điện thoại bị hư hỏng là 23.030.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Trọng T, Hội đồng xét xử thấy: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, xác định bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; Bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Đồng thời, bị hại có đơn xin miễn, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà lẽ ra bị cáo được áp dụng nhưng cấp sơ thẩm chưa áp dụng. Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định mức hình phạt 06 tháng tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó, bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Trọng T, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo bị cấp sơ thẩm xử phạt 06 tháng tù, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, bà Trần Thị T1 là mẹ của bị cáo T cung cấp thông tin, T khi còn nhỏ khoảng 05 tuổi có bị tai nạn té từ trên giường xuống nền gạch nên có bị chấn thương vùng đầu nên gia đình có đưa đi điều trị và đến năm 15 tuổi thì T uống dầu lửa dẫn đến vùng đầu bị sưng lên, mình mẩy bị teo lại thì có đi bệnh viện điều trị. Nhưng cách nay khoảng 03 năm thì T tính tình không được bình thường so với người khác, thường hay chửi người khác lớn tuổi hay đập đồ tài sản của người khác. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 87/2025/KLGĐ của Trung tâm P kết luận về y học thì trước, trong, sau thời điểm gây án và hiện tại có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định (F60.3 -ICD10). Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện tại: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do rối loạn nhân cách ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi. Tuy nhiên, tình tiết này được quy định tại điểm q Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo, người đại diện, người bào chữa cho bị cáo trình bày tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét áp dụng. Đồng thời, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu đang có chiều hướng gia tăng, việc cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện sẽ gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận.
[5] Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; Không chấp nhận đề nghị của người bào chữa, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình sự đối với bị cáo.
[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do giữ nguyên quyết định về hình sự nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Các phần Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a Khoản 1, Khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng T về việc xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
Giữ nguyên quyết định về hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng T của Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Được khấu trừ thời gian bị bắt để tạm giam (từ ngày 14/01/2025 đến ngày 18/02/2025).
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm.
- Các phần Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Võ Thái Sơn |
Lê Thị Thọ |
Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 175/2025/HS-PT ngày 07/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 175/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên quyết định về hình sự
