Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2025/HS-PT

Ngày 18/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hải

Các Thẩm phán: Ông Trần Anh Khoa

Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 166/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Lê Thanh P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2025/QĐXXPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

* Bị cáo có kháng cáo:

Lê Thanh P, sinh ngày 23/6/1984 tại tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; (Nay là tiểu khu N, xã N, tỉnh Thanh Hóa); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Ánh H, sinh năm 1958 và bà Trần Thị N, sinh năm 1964; có vợ tên Lê Thị H1, sinh năm 1992; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 02/3/2021, bị Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 09/2021/HS-ST; đến ngày 30/8/2023 chấp hành xong hình phạt tù.

Nhân thân:

  • + Năm 14/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 8.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 31/2018/HS-ST.
  • + Ngày 25/12/2024, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố G, tỉnh Đắk Nông khởi tố bị can về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Bị cáo bị tạm bắt, tạm giam từ ngày 17/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phan R - T, Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh K, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, còn có bị cáo Nguyễn Văn N1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị; Không liên quan đến kháng cáo của bị cáo Lê Thanh P nên không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2024 đến tháng 11/2024, Lê Thanh P hoạt động cho vay tiền lấy lãi trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà (tỉnh Ninh Thuận cũ). Từ tháng 8/2024 đến tháng 10/2024, P thuê Nguyễn Văn N1 cùng tham gia vào hoạt động cho vay và trả công cho N1 với số tiền là 8.000.000 đồng/tháng. Quá trình hoạt động, P lập nhiều trang thông tin điện tử trên mạng xã hội Facebook như “cho vay lãi suất ngắn hạn”, “cho vay trả góp Phan R” để tìm kiếm người vay, khi có người liên hệ vay tiền, P thu thập thông tin cá nhân của người vay như: số điện thoại, địa chỉ nhà ở, số tiền vay và đưa cho N1 đi xác minh các thông tin trên. Khi thông tin được N1 xác nhận, P chuyển tiền vào tài khoản của N1 để N1 chuyển cho người vay. Khi cho vay, tuỳ trường hợp P và N1 yêu cầu người vay viết giấy vay tiền nhưng không ghi lãi suất vay, đồng thời giữ các căn cước công dân và giấy phép lái xe của người vay. Hoạt động cho vay được thực hiện với hai hình thức là vay “góp” và vay “đứng”, cụ thể:

+ Hình thức vay “góp” thì số tiền cho vay từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, thời gian trả từ 21 đến 28 ngày, mỗi ngày trả từ 250.000 đồng đến 2.500.000 đồng, thu phí hồ sơ vay từ 250.000 đồng đến 1.200.000 đồng tùy vào số tiền vay.

+ Hình thức vay “đứng” thì số tiền cho vay từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và trả lãi 100.000 đồng/ngày.

P là người bỏ tiền gốc ra cho vay và là người quyết định ai được vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất cho vay, còn N1 có nhiệm vụ quản lý việc thu tiền hàng ngày và giữ giấy tờ của người vay như: Căn cước công dân, giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe để xác minh thông tin người vay. Hàng ngày, N1 sử dụng xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, biển số 85C1-57259, đi tới nhà người vay để thu tiền góp trực tiếp hoặc người vay chuyển khoản cho N1 qua tài khoản ngân hàng S1 số 050144181971, đứng tên Nguyễn Văn N1. Nếu ai không trả lãi đúng hẹn N1 dùng số điện thoại 0389117603 gọi nhắc nhở và đến trực tiếp nhà để thu tiền. Số tiền thu lợi từ các khoản vay được N1 chuyển hết cho P.

Việc giao dịch các khoản tiền cho vay và tiền thu lợi từ các khoản vay được P sử dụng tài khoản ngân hàng M, đứng tên Lê Thanh P và tài khoản ngân hàng S1 số 030082612161, đứng tên Lê Thị H1 (vợ của P) để giao dịch với N1 qua tài khoản ngân hàng S1 số 050144181971, đứng tên Nguyễn Văn N1.

Quá trình điều tra xác định: Từ ngày 12/3/2024 đến ngày 30/11/2024, Lê Thanh P đã cho 19 người vay tiền, với tổng số tiền cho vay là 715.000.000 đồng, lãi suất từ 183,69% đến 1.204,5%/năm cao gấp 9,18 đến 60,23 lần so với mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự. P đã thu lợi thực tế số tiền 226.039.545 đồng (trong đó: Số tiền lãi thu theo quy định của Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015 là 6.453.881 đồng; Số tiền thu lợi bất chính là 219.585.664 đồng), cụ thể như sau:

  1. Anh Lê Quang Q: Từ ngày 25/8/2024 đến ngày 03/10/2024, anh Q đã vay tiền của P 04 lần, với tổng số tiền 40.000.000 đồng bằng hình thức vay trả góp với lãi suất từ 590,95% đến 1.128,18%/năm. P đã thu lợi thực tế của anh Q với số tiền là 11.942.857 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 241.096 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 11.701.761 đồng). Anh Q đã trả cho P số tiền gốc là 32.857.143 đồng, tiền gốc chưa trả là 7.142.857 đồng.
  2. Anh Trương Minh K: Từ ngày 09/8/2024 đến ngày 03/11/2024, anh K đã vay tiền của P 06 lần với tổng số tiền 60.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất từ 556,19% đến 898,46%/năm, P thu lợi thực tế của anh K với số tiền 17.495.238 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 487.671 đồng, tiền thu lợi bất chính là 17.007.567 đồng). Anh K1 đã trả cho P số tiền gốc là 51.904.762 đồng, tiền gốc chưa trả là 8.095.238 đồng.
  3. Anh Võ Ngọc L: Ngày 18/8/2024 anh L đã vay tiền của P 01 lần với số tiền 10.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 481,8%/năm, P đã thu lợi thực tế của anh L với số tiền 3.300.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 136.986 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.163.014 đồng). Anh L đã trả hết tiền gốc cho P.
  4. Anh Lê P1: Ngày 08/10/2024 anh P1 đã vay tiền của P 01 lần với số tiền 10.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 590.95%/năm, P đã thu lợi thực tế của anh P1 với số tiền 3.276.190 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 109.589 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.166.601 đồng). Anh P1 đã trả cho P số tiền gốc là 9.523.810 đồng, số tiền chưa trả là 476.190 đồng.
  5. Ông Bùi Văn T: Ngày 09/10/2024, ông T đã vay tiền của P 01 lần với số tiền 5.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 590.95%/năm, P đã thu lợi thực tế của ông T với số tiền 1.700.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 57.534 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.642.466 đồng). Ông T đã trả hết số tiền gốc cho P.
  6. Chị Nguyễn Thị Hồng V: Từ tháng 04/2024 đến tháng 09/2024, chị V đã vay tiền của P 03 lần với số tiền 15.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất từ 438% đến 1.204,5%/năm, P đã thu lợi thực tế của chị V với số tiền 4.800.000 đồng (trong đó, số tiền thu lợi hợp pháp là 164.383 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 4.635.617 đồng). Chị V đã trả hết tiền gốc cho P.
  7. Chị Hồ Nguyễn Ngọc T1: Từ ngày 20/06/2024 đến ngày 11/08/2024, chị T1 đã vay tiền của P 06 lần với số tiền 45.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp và vay đứng với lãi suất từ 183,69% đến 1.087,98%/năm, P đã thu lợi thực tế của chị T1 với số tiền 17.500.000 đồng (trong đó, số tiền thu lợi hợp pháp là 625.419 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 16.874.581 đồng). Chị T1 đã trả hết tiền gốc cho P.
  8. Chị Nguyễn Thị Thanh T2: Từ ngày 19/5/2024 đến ngày 10/11/2024, chị T2 đã vay tiền của P 14 lần với số tiền 170.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp và vay đứng với lãi suất từ 462,33% đến 926,54%/năm, P đã thu lợi thực tế của chị T2 với số tiền 55.300.000 đồng (trong đó, số tiền thu lợi hợp pháp là 1.439.422 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 53.860.578 đồng). Chị T2 đã trả cho P số tiền gốc là 156.800.000 đồng, số tiền chưa trả là 13.200.000 đồng.
  9. Chị Đỗ Thị T3: Từ ngày 13/8/2024 đến ngày 31/10/2024, chị T3 đã vay tiền của P 08 lần với số tiền 40.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất từ 556,19% đến 1.168%/năm, P đã thu lợi thực tế của chị T3 với số tiền 11.909.524 đồng (trong đó, số tiền thu lợi hợp pháp là 235.616 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 11.673.908 đồng). Chị T3 đã trả cho P số tiền gốc là 36.190.476 đồng, số tiền chưa trả là 3.809.524 đồng.
  10. Anh Nguyễn Thành Quốc H2: Từ ngày 13/8/2024 đến ngày 26/9/2024, anh H2 đã vay tiền của P 04 lần với số tiền 20.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 451,9% đến 954,6%/năm, P đã thu lợi thực tế của anh H2 với số tiền 6.400.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 175.432 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.224.658 đồng). Anh H2 đã trả hết số tiền gốc cho P.
  11. Chị Đặng Thị Thanh N2: Từ ngày 23/8/2024 đến ngày 10/9/2024, chị N2 đã vay tiền của P 04 lần với số tiền 30.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 438% đến 591%/năm, P đã thu lợi thực tế của chị N2 với số tiền 8.257.143 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 339.726 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 7.917.417 đồng). Chị N2 đã trả cho P tiền gốc là 25.942.857 đồng, số tiền chưa trả là 4.057.143 đồng.
  12. Chị Phạm Thị Thanh T4: Từ ngày 18/8/2024 đến ngày 15/9/2024, chị T4 đã vay tiền của P 03 lần với số tiền 15.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất từ 556% đến 1.034%/năm, P đã thu lợi thực tế của chị T4 với số tiền 4.900.000 đồng (trong đó, số tiền thu lợi hợp pháp là 134.247 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 4.765.753 đồng). Chị T4 đã trả hết tiền gốc cho P.
  13. Anh Tô Văn T5: Ngày 10/10/2024, anh T5 đã vay tiền của P 01 lần với số tiền 10.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 590.95%/năm, P đã thu lợi thực tế của anh T5 với số tiền 923.810 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 5.479 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 918.330 đồng). Anh T5 đã cho P số tiền gốc là 476.190 đồng, số tiền chưa trả là 9.523.810 đồng.
  14. Anh Nguyễn Hữu Q1: Ngày 08/10/2024, anh Q1 đã vay tiền của P 01 lần với số tiền 10.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 590.95%/năm, P đã thu lợi thực tế của anh Q1 với số tiền 2.533.333 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 76.712 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.456.621 đồng). Anh Q1 đã trả cho P số tiền gốc là 6.666.667 đồng, số tiền chưa trả là 3.333.333 đồng.
  15. Anh Huỳnh Ngọc S: Ngày 13/8/2024, anh S đã vay tiền của P 01 lần với số tiền 5.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 590,95%/năm, P đã thu lợi thực tế của anh S với số tiền 1.266.667 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 38.356 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.228.311 đồng). Anh S đã trả cho P số tiền gốc là 3.333.333 đồng, số tiền chưa trả là 1.666.667 đồng.
  16. Anh Nguyễn Trần Vũ T6: Ngày 07/8/2024, anh T6 đã vay tiền của P 01 lần với số tiền 5.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 396,7%/năm, P đã thu lợi thực tế của anh T6 với số tiền 1.184.783 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 57.535 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.127.248 đồng). Anh T6 đã trả cho P số tiền gốc là 4.565.217 đồng, số tiền chưa trả là 434.783 đồng.
  17. Anh Lê Kim Bình A: Từ ngày 13/9/2024 đến ngày 01/10/2024, anh A đã vay tiền của P 02 lần với số tiền 20.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 708,53% đến 860,36%/năm, P đã thu lợi thực tế của anh A với số tiền 6.600.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 169.863 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.430.137 đồng). Ông A đã trả cho P hết số tiền gốc.
  18. Ông Đinh Văn N3: Từ ngày 30/9/2024 đến ngày 30/11/2024, ông N3 đã vay tiền của P 04 lần với số tiền 200.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 511% đến 912,5%/năm, P đã thu lợi thực tế của ông N3 với số tiền 65.000.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 1.890.411 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 63.109.589 đồng). Ông N3 đã trả cho P số tiền gốc là 180.000.000 đồng, số tiền chưa trả là 20.000.000 đồng.
  19. Chị Đỗ Hồng L1: Ngày 12/3/2024 chị L1 đã vay tiền của P 01 lần với số tiền 5.000.000 đồng, bằng hình thức vay trả góp với lãi suất 511%/năm, P đã thu lợi thực tế của chị L1 với số tiền 1.750.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 68.493 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.681.507 đồng). Chị L1 đã trả hết tiền gốc cho P.

Trong quá trình hoạt động cho vay từ tháng 8/2024 đến tháng 10/2024 Nguyễn Văn N1 đã tham gia giúp P cho 16 người vay (trong số 19 người mà P cho vay nêu trên), gồm: Anh Lê Quang Q, anh Nguyễn Thành Quốc H2, anh Trương Minh K, anh Võ Ngọc L, chị Đặng Thị Thanh N2, anh Lê P1, chị Đỗ Thị T3, chị Phạm Thị Thanh T4, ông Bùi Văn T, chị Nguyễn Thị Hồng V, anh Tô Văn T5, anh Nguyễn Hữu Q1, anh Huỳnh Ngọc S, anh Nguyễn Trần Vũ T6, anh Lê Kim Bình A và chị Nguyễn Thị Thanh T2 với tổng số tiền cho vay là 280.000.000 đồng, lãi suất từ 396,74% đến 1.128%/năm cao gấp 19,84 đến 56,41 lần so với mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Số tiền đã thu lợi thực tế 81.734.783 đồng (Trong đó: Số tiền thu lợi hợp pháp là 2.309.741 đồng; Số tiền thu lợi bất chính là 79.425.042 đồng).

Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa đã căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thanh P. Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh P 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2025. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lê Thanh P số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn N1, quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/9/2025, bị cáo Lê Thanh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu quan điểm và đề nghị: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với các lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình, có 03 con nhỏ nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh nên không có cơ sở xem xét. Đối với tình tiết bị cáo đã liên hệ người nhà khắc phục tiền thu lợi bất chính cho người vay, bị cáo cung cấp được 03 biên lai nộp trả tiền cho 03 người vay gồm T5: 918.330 đồng, S: 1.228.311 đồng, và T6: 1.127.248 đồng) số tiền bị cáo thực hiện nghĩa vụ trả lại cho người vay là quá ít, không đáng kể (hơn 3.000.000 đồng) so với trách nhiệm mà bị cáo phải thực hiện theo bản án sơ thẩm (hơn 800.000.000 đồng) nên không có cơ sở để xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 08/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Lê Thanh P được thực hiện trong thời hạn luật định, nên được cấp phúc thẩm xem xét.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thanh P:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thanh P đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại và các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ. Do đó, đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 12/3/2024 đến ngày 30/11/2024, Lê Thanh P đã cho 19 người vay tiền, với tổng số tiền cho vay là 715.000.000 đồng, lãi suất từ 183,69% đến 1.204,5%/năm cao gấp 9,18 đến 60,23 lần so với mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự. P đã thu lợi thực tế số tiền 226.039.545 đồng (trong đó: Số tiền lãi thu theo quy định của Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 6.453.881 đồng; Số tiền thu lợi bất chính là 219.585.664 đồng). Hành vi đó của bị cáo Lê Thanh P đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, tham lam tư lợi cá nhân, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ mà còn xâm phạm đến quyền lợi của công dân được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự tại địa phương. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày sau khi cấp sơ thẩm xét xử và trong thời gian bị tạm giam thì gia đình bị cáo có đi thăm nên bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho ông Tô Văn T5 số tiền 918.330 đồng theo biên lai thu tiền số 0001361 vào ngày 16/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa, ông Huỳnh Ngọc S số tiền 1.228.311 đồng theo biên lai thu tiền số 0001362 vào ngày 16/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa, ông Nguyễn Trần Vũ T6 số tiền 1.127.248 đồng theo biên lai thu tiền số 0001363 vào ngày 16/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, việc bị cáo khắc phục cho một số trên số tiền nêu trên là tình tiết giảm nhẹ mới nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Thanh P.

[3] Về án phí: Bị cáo Lê Thanh P không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343; Điều 345; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh P.

- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Thanh P.

* Tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thanh P.

+ Xử phạt: Lê Thanh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2025.

[2] Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.273.889 đồng (Ba triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm tám mươi chín đồng) mà bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001361 vào ngày 16/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa, biên lai thu tiền số 0001362 vào ngày 16/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa và biên lai thu tiền số 0001363 vào ngày 16/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa để đảm bảo thi hành án.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Lê Thanh P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 12 năm 2025).

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa (PC10);
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa (PV06);
  • - Phân trại tạm giam Phan Rang – Tháp Chàm, Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Khánh Hòa (Nơi bị cáo Lê Thanh Phong đang bị tạm giam);
  • - TAND Khu vực 5 - Khánh Hòa;
  • - VKSND Khu vực 5 - Khánh Hòa;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2025/HS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 172/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào Điều 343; Điều 345; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. [1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh P. - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2025/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Thanh P. * Tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. - Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thanh P. + Xử phạt: Lê Thanh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2025.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger