TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2025/KDTM-PT Ngày: 19-11-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng thuê xe ô tô” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền.
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng.
Ông Trương Nam Trung.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Huy - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Nguyễn Xuân Hợp - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLPT-KDTM ngày 16 tháng 7 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng thuê xe ô tổ”.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 35/2025/KDTM-ST ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 148/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 259/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn V (Viết tắt là Công ty V); địa chỉ: 1 H, phường H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Việt D; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Ngọc L; địa chỉ: F D, phường C, thành phố Đà Nẵng (Theo văn bản ủy quyền ngày 06-10-2025). Có mặt.
Bị đơn: Ông Phan Ngọc A; địa chỉ: C B, phường Q, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 (Viết tắt là Công ty D1); địa chỉ: K149 H L, phường H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tấn C; chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- - Ông Lê Anh T; địa chỉ: F D, phường C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- - Ông Trần Quảng H; địa chỉ: 4 T, phường A, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn là Công ty V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty V là ông Đào Ngọc L trình bày:
Ông đại diện cho Công ty V có ký hợp đồng cho thuê 2 xe ôtô khách với ông Phan Ngọc A, cụ thể:
- Hợp đồng thuê xe ô-tô khách số 01/2022/HĐTX ngày 30-3-2022: Xe ô-tô khách 45 chỗ ngồi có biển số 43B-035.69; thời hạn thuê xe 6 tháng (từ ngày 30-3-2022 đến ngày 30-9-2022); giá thuê 20.000.000 đồng/tháng (không bao gồm thuế VAT).
- Hợp đồng thuê xe ô-tô khách số 02/2022/HĐTX ngày 10-5-2022: Xe ô-tô khách 45 chỗ ngồi có biển số 43B-030.59; thời hạn thuê xe 6 tháng (từ ngày 10-5-2022 đến 10-11-2022); giá thuê 20.000.000 đồng/tháng (không bao gồm thuế VAT).
Hình thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản; thanh toán từng tháng, từ ngày 1 đến ngày 5 hàng tháng. Trong quá trình thuê xe, mặc dù Công ty V đã nhắc nhở nhiều lần nhưng ông A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thanh toán tiền thuê xe ô tô theo đúng cam kết trong hợp đồng đã ký. Từ đó, ông đại diện Công ty V đến địa chỉ của ông A để trao đổi, làm việc lại với ông A và làm thủ tục lấy 2 xe về. Ông phải thuê xe ô tô 7 chỗ để di chuyển và thuê 2 lái xe (ông Trần Quảng H, ông Lê Anh T) đi cùng để lái 2 xe về trong từng thời gian cụ thể: Đợt 1 là ngày 07 và ngày 08-8-2022; đợt 2 là ngày 19 và ngày 20-9-2022; đợt 3 là ngày 29 và ngày 30-9-2022. Sau khi bàn giao xe vào tháng 9-2022, mặc dù đã nhắc nhở nhiều lần nhưng đến nay ông A vẫn chưa thanh toán công nợ và các khoản chi phí phát sinh cho Công ty V. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 20-7-2023, qua lời khai của ông A thì ông mới được biết: Khoảng thời gian tháng 6-2022, ông Từ Tấn C có vào Quy Nhơn gây áp lực, ép buộc ông A phải chuyển tiền thuê xe cho Công ty D1 do ông C làm giám đốc; từ đó, ông A đã chuyển cho Công ty D1 120.000.000 đồng mà không chuyển trả cho Công ty V.
Ngày 02-5-2021, Công ty V có ký 2 hợp đồng với Công ty D1 thuê 2 xe ô tô nêu trên, cụ thể: Hợp đồng thuê xe ô tô khách số 02/21/VTA-CMH (xe ô tô biển số 43B-035.69) và Hợp đồng thuê xe ô tô khách số 04/21/VTA-CMH (xe ô tô biển số 43B-030.59); mục đích thuê để phục vụ vận chuyển khách du lịch tham quan theo hợp đồng; thời hạn thuê xe 2 năm (từ ngày 02-5-2021 đến ngày 02-5-2023). Trong thời gian diễn ra dịch bệnh C1, việc kinh doanh du lịch trên địa bàn gặp nhiều khó khăn mà Công ty D1 thì không muốn chấm dứt hợp đồng, đến khi hết dịch bệnh thì gây khó khăn. Cho nên, Công ty V mới cho thuê lại 2 xe ôtô nêu trên để có kinh phí trang trải trả tiền thuê xe cho Công ty D1, không chỉ có 2 xe ô tô này mà còn 2 xe ô tô khác nữa nhưng Công ty D1 không có ý kiến gì phản đối. Cho đến nay, giữa Công ty V và Công ty D1 không có tranh chấp gì liên quan đến 2 xe ô tô này mà dẫn đến khởi kiện ra Tòa án. Vì trước khi cho thuê xe, Công ty D1 có thế chấp 2 xe ô tô này tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 và Ngân hàng Thương mại cổ phần P để vay vốn, nên phát sinh vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng P với Công ty D1 tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Quan hệ trao đổi giữa ông C và ông A với nhau như thế nào thì ông không biết và hoàn toàn không có sự đồng ý của ông cho ông A chuyển tiền thuê xe cho ông C. Qua đó cho thấy những việc này không liên quan đến việc khởi kiện của Công ty V đối với ông A.
Nay Công ty V yêu cầu ông A phải thanh toán các khoản tiền sau đây:
- Tiền thuê xe ô tô biển số 43B-035.69 các tháng 6, 7, 8, 9: Ông A chỉ mới thanh toán tiền thuê xe tháng 4, 5, 6 với tổng số tiền 56.000.000 đồng, còn nợ: (20.000.000 đồng x 6 tháng) - 56.000.000 đồng = 64.000.000 đồng.
- Tiền thuê xe ô tô biển số 43B-030.59 các tháng 6, 7, 8, 9, 10, 11: Ông A chỉ mới thanh toán một phần tiền thuê xe tháng 6 là 13.200.000 đồng, còn nợ: (20.000.000 đồng x 6 tháng) - 13.200.000 đồng = 106.800.000 đồng.
- Tiền lãi phát sinh do ông A chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nêu trên đối với xe ô tô 43B-035.69 tính từ ngày 30-9-2022 đến ngày 03-7-2024 và đối với xe ô tô 43B-030.59 tính từ sau ngày 10-11-2022 đến ngày 03-7-2024, theo lãi suất 10%/năm quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự là: (64.000.000 đồng x 10%/365 ngày x 642 ngày) + (106.800.000 đồng x 10%/365 ngày x 601 ngày) = 28.680.000 đồng.
- Chi phí thuê xe ô tô 7 chỗ từ Đà Nẵng vào T và Q để thu hồi xe trong 3 đợt là 22.000.000 đồng, cụ thể: Đợt 1 (ngày 07 và ngày 08-8-2022): 10.000.000 đồng, đợt 2 (ngày 19 và ngày 20-9-2022): 6.000.000 đồng, đợt 3 (ngày 29 và ngày 30-9-2022): 6.000.000 đồng.
- Chi phí thuê 2 lái xe trong 3 đợt vào T và Quy N lấy xe về Đà Nẵng là 20.000.000 đồng, cụ thể: Ông Lê Anh T 12.000.000 đồng (tham gia 3 đợt, chi phí 4.000.000 đồng/đợt); ông Trần Quảng H 8.000.000 đồng (tham gia đợt 1, đợt 2, chi phí 4.000.000 đồng/đợt).
- Chi phí ăn ngủ cho 2 lái xe (ông T, ông H) trong các đợt vào T và Quy N lấy xe về là 3.500.000 đồng, cụ thể: Ông T là 2.100.000 đồng; ông H là 1.400.000 đồng.
- Chi phí dầu, nhớt lấy xe về là 9.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 20-9-2022, xe 43B-035.69 là 4.500.000 đồng; ngày 30-9-2022, xe 43B-030.59 là 4.500.000 đồng.
- Tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thanh toán của 2 hợp đồng là: 20.000.000 đồng x 2 tháng x 2 xe = 80.000.000 đồng.
- Tiền tổn thất thiệt hại khi lấy lại xe, do bị đơn đã cố ý tháo gỡ, tráo đổi nhiều phụ tùng trong xe, giao trả 2 xe ô tô khách không như hiện trạng ban đầu, xe không hoạt động được là: 50.000.000 đồng x 2 xe = 100.000.000 đồng.
- Tiền Công ty mua bảo hiểm xe 43B-03569 là 6.000.000 đồng; mua lại 5 lốp xe do ông A đã thay toàn bộ dàn lốp cũ 25.000.000 đồng/xe x 2; bình điện 4.000.000 đồng/xe x 2; ông A tháo hết dàn loa, âm ly, bộ đẩy xe 43B-03059 là 45.000.000 đồng; tổng cộng là 109.000.000 đồng.
Như vậy, ông A phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty V tổng số tiền là 542.980.000 đồng.
2. Tại bản khai đề ngày 14-3-2023 và tại phiên toà sơ thẩm ngày 20-7-2023, bị đơn là ông Phan Ngọc A trình bày:
Ông thừa nhận có ký với Công ty V 2 Hợp đồng thuê xe ôtô khách như ông Đào Ngọc L trình bày, mục đích để vận chuyển khách du lịch. Sau khi nhận xe cho đến khi chấm dứt hợp đồng, ông đã thanh toán đầy đủ tiền thuê xe hàng tháng cho Công ty V, cụ thể: Ông đã chuyển tiền thuê 2 xe ô tô nêu trên cho đại diện của Công ty V là ông Đào Ngọc L (Phó Giám đốc); ông cũng đã chuyển tiền thuê 2 xe ôtô đó cho bên trực tiếp cho Công ty V thuê 2 xe ôtô là Công ty D1 qua tài khoản V2 của Từ Ngọc Thanh T1 theo yêu cầu của ông Từ Tấn C (Giám đốc) nhiều lần với tổng số tiền là 120.000.000 đồng. Việc ông chuyển tiền cho Công ty D1 là vì: Khoảng tháng 6-2022, ông C có vào Q tìm gặp ông, cản trở không cho ông sử dụng 2 xe ô tô nêu trên, lý do theo ông C nói 2 xe ô tô này là xe của Công ty D1 nên ép buộc ông phải thanh toán tiền thuê xe cho Công ty D1. Lúc đó, ông có gọi điện thoại cho ông L hỏi thì ông L có nói cứ làm theo ý ông C. Trong tình thế đó, ông mới chuyển tiền cho Công ty D1 để tiếp tục được sử dụng 2 xe ô tô này. Như vậy, hiện nay ông không còn nợ Công ty V nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty V.
Từ khi vụ án được thụ lý, giải quyết lại vào ngày 21-6-2024 cho đến khi đưa ra xét xử, Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn là ông Phan Ngọc A không đến Tòa án để khai báo, không tham gia phiên tòa và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
3. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 01-6-2023, người đại diện theo pháp luật Công ty D1 là ông Từ Tấn C trình bày:
Giữa Công ty D1 và Công ty V không có thỏa thuận thuê xe ô tô 43B-035.69 và xe ô tô 43B-030.59. Công ty D1 có giao cho Công ty V bảo quản giúp 2 xe ô tô nêu trên để giao cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 và Ngân hàng Thương mại cổ phần P. Khi ông vào Q lấy lại 2 xe thì ông Phan Ngọc A đã lấy xe trước, Công ty V không giao xe. Công ty D1 có nhận tiền từ ông A, nhưng không nhớ rõ số tiền bao nhiêu. Nguyên nhân là do Công ty V hứa mượn xe của ông để giải quyết tour và sẽ giao xe sớm cho ông để xử lý ngân hàng, nhưng lại giao xe cho ông A. Khi ông liên hệ lấy xe thì ông A hứa sẽ bảo quản giúp ông 2 xe nêu trên cho đến khi ông lấy xe. Ông A có chuyển tiền cho ông. Việc Công ty V khởi kiện ông Phan Ngọc A thì Công ty D1 không có ý kiến gì. Ông chỉ trình bày sự việc tại thời điểm ông vào Q lấy xe thì 2 xe nêu trên đã hết thời hạn của giấy tờ lưu hành nhưng Công ty V và ông A vẫn tự ý kiểm định xe, lưu hành xe không đúng quy định và không giao xe cho ông để xử lý ngân hàng. Vì ông bận công việc thường xuyên đi xa, không thể tham gia các buổi hòa giải, phiên tòa tại Tòa án, nên ông yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt ông.
Từ khi vụ án được thụ lý, giải quyết lại vào ngày 21-6-2024 cho đến khi đưa ra xét xử, Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty D1 không đến Tòa án để khai báo, không tham gia phiên tòa và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
4. Tại bản tự khai đề ngày 01-02-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng là ông Lê Anh T trình bày:
Giữa ông và ông Đào Ngọc L quen biết nhau do cùng nghề lái xe trước đây. Vào ngày 07, 08-8-2022; ngày 19, 20-9-2022 và ngày 29, 30-9-2022; ông L đại diện cho Công ty V có thuê ông vào Q, T để chạy xe khách 45 chỗ về Đà Nẵng, hai bên chỉ nói miệng không ký hợp đồng văn bản. Ông có ở lại Q, T 2 ngày 1 đêm mỗi đợt và ông L đã trả tiền phí cho ông theo thỏa thuận trước khi đi là 2.000.000 đồng/ngày, tổng cộng 3 đợt là 12.000.000 đồng (không bao gồm phí ăn, ngủ). Đợt 1 vào không lấy được xe; đợt 2 và đợt 3 thì ông có chạy xe về Đà Nẵng. Hình thức thanh toán là trả tiền mặt, không có hóa đơn chứng từ; đi chuyến nào về lấy tiền chuyến đó. Chi phí đi lại ông L thuê xe 7 chỗ ngồi chở ông vào chạy xe về còn ăn, ngủ, phí cầu đường thì ông L tự chi phí hết.
5. Tại bản tự khai đề ngày 01-02-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng là ông Trần Quảng H trình bày:
Trước đây, ông và ông Đào Ngọc L là bạn bè quen biết nhau do cùng chạy xe du lịch. Ông L là Phó Giám đốc Công ty V. Vào ngày 07, 08-8-2022 và ngày 19, 20-9-2022, ông L đại diện cho Công ty V có thuê ông vào Q, T để chạy xe khách 45 chỗ về Đà Nẵng, hai bên chỉ nói miệng không ký hợp đồng văn bản. Ông có ở lại Q, T 2 ngày 1 đêm mỗi đợt và ông L đã trả tiền phí cho ông theo thỏa thuận trước khi đi là 2.000.000 đồng/ngày, tổng cộng 2 đợt là 8.000.000 đồng (không bao gồm phí ăn, ngủ). Đợt 1 vào không lấy được xe; đợt 2 thì ông có chạy xe về Đà Nẵng. Hình thức thanh toán là trả tiền mặt, không có hóa đơn chứng từ; đi chuyến nào về lấy tiền chuyến đó. Chi phí đi lại ông L thuê xe 7 chỗ ngồi chở ông vào chạy xe về còn ăn, ngủ, phí cầu đường thì ông L tự chi phí hết.
6. Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2025/KDTM-ST ngày 05-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai) đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 357, 398, 410, 419, 472, 473, 474, 481, 482, 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty V, buộc ông Phan Ngọc A phải thanh toán và bồi thường chi phí phát sinh khi nhận lại xe cho Công ty V tổng số tiền là 174.807.945 đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty V yêu cầu ông Phan Ngọc A thanh toán và bồi thường chi phí phát sinh khi nhận lại xe số tiền là 368.172.055 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyết định về lãi chậm thực hiện nghĩa vụ, nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự.
7. Kháng cáo:
Ngày 19-5-2025, nguyên đơn là Công ty V có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 35/2025/KDTM-ST ngày 05-5-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai), chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bản án không bị kháng nghị; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
8. Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử phúc thẩm, người tham gia tố tụng bảo đảm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Người đại diện hợp pháp của Công ty D1, ông Lê Anh T và ông Trần Quảng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để họ tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét kháng cáo của Công ty V:
[2.1] Công ty D1 là chủ xe ô tô khách biển số 43B-035.69 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 039270 ngày 13-6-2017 và xe ô tô khách biển số 43B-030.59 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 030008 ngày 18-11-2016.
Ngày 02-5-2021, Công ty V và Công ty D1 ký kết 2 hợp đồng thuê xe ô tô khách số 02/2021/VTA-CMH và số 04/2021/VTA-CMH, thời hạn thuê xe 2 năm từ ngày 02-5-2021 đến ngày 02-5-2023.
Sau đó, Công ty V cho ông Phan Ngọc A thuê lại 2 xe ô tô nói trên theo Hợp đồng thuê xe ô tô khách (v/v cho thuê xe ô tô trọn gói) số 01/2022/HĐTX ngày 30-3-2022 cho thuê xe 43B-035.69, thời hạn thuê xe 6 tháng từ ngày 30-3-2022 đến ngày 30-9-2022 và Hợp đồng thuê xe ô tô khách (v/v cho thuê xe ô tô trọn gói) số 02/2022/HĐTX ngày 10-5-2022 cho thuê xe 43B-030.59, thời hạn thuê xe 6 tháng từ ngày 10-5-2022 đến ngày 10-11-2022; giá thuê 20.000.000 đồng/tháng/xe (không bao gồm thuế VAT).
[2.2] Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 05-5-2025, Công ty V yêu cầu ông Phan Ngọc A phải trả số tiền thuê xe còn nợ và tiền lãi chậm trả với mức lãi 10%/năm tính đến ngày 03-7-2025 nên Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc ông Phan Ngọc A phải trả cho Công ty V 160.707.945 đồng, cụ thể:
- Ông Phan Ngọc A thuê xe ô tô biển số 43B-035.69 từ ngày 30-3-2022 đến ngày 20-9-2022 là 5 tháng 20 ngày, tiền thuê xe phải trả là 113.333.333 đồng, đã chuyển trả 56.000.000 đồng nên số tiền thuê xe còn nợ là 57.333.333 đồng và tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 01-10-2022 đến ngày 03-7-2024 là 10.068.676 đồng.
- Ông Phan Ngọc A thuê xe ô tô biển số 43B-030.59 từ ngày 10-5-2022 đến ngày 30-9-2022 là 4 tháng 20 ngày, tiền thuê xe phải trả là 93.333.333 đồng, đã chuyển trả 13.200.000 đồng nên số tiền thuê xe còn nợ là 80.133.333 đồng và tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 11-11-2022 đến ngày 03-7-2024 là 13.172.603 đồng.
Công ty V kháng cáo yêu cầu ông Phan Ngọc A phải trả tiền thuê xe còn nợ đối với xe ô tô biển số 43B-035.69 (các tháng 6, 7, 8, 9) là 64.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi 20%/năm tính từ sau ngày 30-9-2022 đến ngày 05-5-2025; tiền thuê xe ô tô biển số 43B-030.59 (các tháng 6, 7, 8, 9, 10, 11) là 106.800.000 đồng và tiền lãi với mức lãi 20%/năm tính sau ngày 10-11-2022 đến ngày 05-5-2025, tổng cộng là 214.097.753 đồng là không phù hợp với thời gian thuê xe thực tế và không đúng với quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phan Ngọc A trình bày: Giữa ông Đào Ngọc L, ông Từ Tấn C và ông có thỏa thuận bằng lời nói việc ông có trách nhiệm chuyển trả tiền thuê xe cho Công ty D1 và ông không phải trả tiền thuê xe cho Công ty V, sau đó ông đã chuyển trả cho Công ty D1 120.000.000 đồng tiền thuê xe.
Tuy nhiên, lời trình bày của ông Phan Ngọc A không được ông Đào Ngọc L thừa nhận và ông Phan Ngọc A cũng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình là đúng sự thật. Vì vậy, trong trường hợp ông Phan Ngọc A yêu cầu Công ty D1 trả lại 120.000.000 đồng đã chuyển trước đó thì ông Phan Ngọc A có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.
[2.3] Công ty V yêu cầu ông Phan Ngọc A phải bồi thường 54.500.000 đồng chi phí thu hồi 2 xe cho thuê bao gồm tiền thuê người lái, chi phí ăn ngủ và dầu nhớt.
Theo khoản 2 Điều 482 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp tài sản thuê là động sản thì địa điểm trả lại tài sản thuê là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên cho thuê, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Hợp đồng thuê xe ô tô khách số 01/2022/HĐTX ngày 30-3-2022 và số 02/2022/HĐTX ngày 10-5-2022, các bên không thoả thuận về địa điểm trả lại xe.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Phan Ngọc A phải bồi thường 14.100.000 đồng cho Công ty V gồm tiền thuê tài xế (4.000.000 đồng/đợt/tài xế) và tiền lưu trú cho 2 tài xế (700.000 đồng/đợt/tài xế) phát sinh trong 2 đợt nhận xe ngày 20-9-2022 (2 tài xế) và ngày 30-9-2022 (1 tài xế) là phù hợp với quy định tại Điều 419 Bộ luật Dân sự.
[2.4] Tại giấy nhận xe ngày 20-9-2022 và ngày 30-9-2022, ông Đào Ngọc L xác nhận “Tình trạng xe giấy tờ đầy đủ, về xe chất lượng như ban đầu bàn giao xe”. Quá trình tham gia tố tụng, Công ty V không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh tại thời điểm nhận lại 2 xe ô tô, hiện trạng xe đã thay đổi so với lúc bàn giao xe cho thuê; đồng thời, Công ty V cũng không chứng minh được tại thời điểm viết giấy nhận xe ngày 20-9-2022 và ngày 30-9-2022 là do bị ép buộc, đe doạ.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của Công ty V về việc buộc ông Phan Ngọc A bồi thường 203.000.000 đồng, gồm: 100.000.000 đồng (50.000.000 đồng x 2 xe) tiền tổn thất thiệt hại do xe không như hiện trạng ban đầu và 103.000.000 đồng tiền mua lại lốp xe, bình điện; dàn loa, âm ly và bộ đẩy xe 43B-03059 là có căn cứ.
[2.5] Công ty V yêu cầu ông Phan Ngọc A phải trả 6.000.000 đồng mua bảo hiểm xe cho xe ô tô khách 43B-035.69.
Theo Điều V của Hợp đồng số 01/2022/HĐTX ngày 30-3-2022 và Hợp đồng số 02/2022/HĐTX ngày 10-5-2022, các bên thỏa thuận bên thuê xe có trách nhiệm mua bảo hiểm cho xe, Công ty V không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc Công ty V đã mua bảo hiểm xe ô tô khách 43B-035.69 nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của Công ty V là có căn cứ.
[2.6] Công ty V yêu cầu ông Phan Ngọc A bồi thường 80.000.000 đồng do vi phạm nghĩa vụ thanh toán của 2 hợp đồng.
Theo Điều VIII của Hợp đồng số 01/2022/HĐTX ngày 30-3-2022 và Hợp đồng số 02/2022/HĐTX ngày 10-5-2022, các bên thỏa thuận: “...trường hợp bên thuê xe không thanh toán hoặc chậm ngày thanh toán không đúng như trong hợp đồng đã ký kết, bên cho thuê xe được quyền rút xe không cần thương lượng bên thuê xe".
Sau khi ông Phan Ngọc A không thanh toán tiền thuê xe; ngày 20-9-2022 và ngày 30-9-2022, Công ty V đã nhận lại 2 xe ô tô, yêu cầu bồi thường của Công ty V là không có căn cứ nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của Công ty V là phù hợp.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty V, buộc ông Phan Ngọc A phải trả cho Công ty V 174.807.945 đồng là có cơ sở.
Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Công ty V và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm bị kháng cáo, nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 3 Điều 296 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 357, 398, 410, 419, 472, 473, 474, 481, 482, 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn V; giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 35/2025/KDTM-ST ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai).
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn V, buộc ông Phan Ngọc A phải thanh toán và bồi thường chi phí phát sinh khi nhận lại xe cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn V 174.807.945 đồng (Trong đó có: 137.466.666 đồng tiền thuê xe, 23.241.279 đồng tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền và 14.100.000 đồng chi phí hợp lý).
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn V về việc yêu cầu ông Phan Ngọc A thanh toán và bồi thường chi phí phát sinh khi nhận lại xe là 368.172.055 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của khoản tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất được tính theo Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải chịu 18.409.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, được trừ vào 12.859.600 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002960 ngày 28-11-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Gia Lai); Công ty Trách nhiệm hữu hạn V còn phải nộp 5.549.400 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ông Phan Ngọc A phải chịu 8.740.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 2.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001871 ngày 23-6-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Gia Lai); Công ty Trách nhiệm hữu hạn V đã nộp đủ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Thanh Huyền |
Bản án số 17/2025/KDTM-PT ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng thuê xe ô tô
- Số bản án: 17/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê xe ô tô
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền thuê xe ô tô và bồi thường thiệt hại
