|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày 10/12/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Đoàn Hồng Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Mạnh Cường và bà Bùi Thị Qua
- Thư ký phiên toà: bà Lộc Hồng Nhung - Thư ký, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Vũ Văn Tấp - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tăng Văn K; tên gọi khác: không; sinh ngày: 29/09/1995, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn H, xã H, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; con ông Tăng Văn N và bà Bàn Thị T; vợ là Đặng Thị H và có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam ngày 21/08/2025, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam Đ - Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Bị hại:
- + Anh Đặng Văn V, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn H, xã H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- + Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn H, xã H, tỉnh Quảng Ninh; hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Q- Cục C1 Bộ C2; vắng mặt (xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Đặng Thị H, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn N, xã B, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Những người làm chứng: bà Phạm Thị X, vắng mặt; bà Phạm Thị H1, có mặt; ông Đỗ Văn S, vắng mặt; ông Hoàng Văn S1, có mặt; anh Hoàng Văn P, có mặt; ông Trần Văn S2, vắng mặt; chị Bàn Thị H2, vắng mặt, chị Lê Thị K1, vắng mặt, anh Hoàng Văn T1 vắng mặt, ông Nguyễn Văn C, vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2023, tại thôn H, xã H, tỉnh Quảng Ninh, K rủ anh V góp tiền cho K để mua gỗ Sa mộc của người dân trên địa bàn huyện B để bán kiếm lời, ai có tiền thì đưa ra trước để trả cho chủ rừng (trả hết hoặc đặt cọc), sau khi khai thác gỗ xong trừ đi các chi phí, có lãi thì chia đôi, K bảo anh V bỏ tiền ra trước để cho K đi mua rừng. Do tin tưởng nên các ngày 26, 27/06/2023 và 17/07/2023 anh V đã chuyển khoản 03 (ba) lần từ tài khoản ngân hàng V1 số 0551000249000 của anh V đến tài khoản ngân hàng M số 0396385661 của chị Đặng Thị H (là vợ của K) tổng số tiền là 110.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, K không đi mua gỗ mà sử dụng để trả nợ và tiêu sài cá nhân hết.
Sau khi chuyển tiền không thấy K khai thác gỗ và chuyển tiền gốc, tiền lãi nên anh V nghi ngờ và nhiều lần hỏi K, đồng thời yêu cầu phải xem rừng cụ thể và chuyển tiền trực tiếp cho chủ rừng, nên K đã liên hệ, tìm gặp bà Phạm Thị H1 để thỏa thuận mua rừng. Ngày 02/07/2023, anh V được K giới thiệu với bà H1 để cho anh V tin tưởng việc K đi mua rừng là có thật, sau đó K bảo anh V tiếp tục chuyển tiền cho bà H1 để đặt cọc. Do tin tưởng, anh V đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng cho bà H1 từ tài khoản ngân hàng V1 số 0551000249000 của anh V đến tài khoản ngân hàng A số 8006205038709 của bà H1. Sau đó, K khai thác hết số gỗ trên rừng nhà bà H1 và bán được 20.000.000 đồng, số tiền này K dùng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Cũng với thủ đoạn tương tự, K tiếp tục tìm gặp bà Phạm Thị X thỏa thuận mua gỗ với giá 200.000.000 đồng. Ngày 16/7/2023, K giới thiệu anh V với bà X để cho anh V biết việc K mua rừng là có thật, sau đó K bảo anh V chuyển tiền đặt cọc cho bà X. Do tin tưởng, anh V đã chuyển số tiền 100.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V1 số 0551000249000 của anh đến tài khoản ngân hàng A số 8006205148579 của bà X. Khoảng tháng 08/2023, K khai thác gỗ trên rừng nhà bà X, bán được 230.000.000đ. Ngoài số tiền 100.000.000₫ đặt cọc mà anh V chuyển khoản cho bà X thì K còn trả cho bà X 56.000.000đ tiền mặt (trả nhiều lần), còn nợ bà X 44.000.000đ, số tiền còn lại K sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Cũng trong thời gian này, K còn mượn của anh V 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn trắng đen đỏ, biển số 14K1-011.77 để đi lại. Tuy nhiên, K đã mang chiếc xe đến quán sửa chữa xe mô tô của anh Đỗ Văn S để cầm cố với giá 2.500.000 đồng. Số tiền có được sau khi cầm cố, K đã chi tiêu cá nhân hết.
Khoảng tháng 10/2023, do không tiếp tục lấy được tiền của anh V, nên cũng bằng thủ đoạn tương tự, tại sân cửa hàng X1 thuộc phố L, xã T, tỉnh Quảng Ninh,
3
K gặp và rủ anh Đ góp tiền để mua gỗ Sa mộc, Bạch đàn của người dân trên địa bàn huyện B (cũ) bán kiếm lời chia nhau. Do tin tưởng, nên anh Đ đưa cho K 12.500.000 đồng tiền mặt; các ngày 17, 21/10/2023 anh Đ đã nhờ chị Lê Thị K1 chuyển khoản 02 lần, tổng số tiền là 43.000.000₫ từ tài khoản ngân hàng V1 số 0551000258877 của chị K1 đến tài khoản ngân hàng V1 số 0551000321903 của anh Hoàng Văn P (do K nhờ). Sau đó, anh Đ còn nhiều lần đưa tiền mặt cho K đi mua gỗ, tổng số tiền anh Đ đã chuyển khoản và đưa tiền mặt cho K là 105.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, K đều sử dụng để trả nợ và tiêu sài cá nhân hết. Khoảng tháng 11/2023, anh Đ thấy K không mua gỗ như thỏa thuận nên đã nhiều lần gặp K để đòi tiền, K lấy lý do công ty mua gỗ nợ tiền nên đã viết giấy vay số tiền 105.000.000 đồng của anh Đ, đến nay K mới trả cho anh Đ số tiền 26.000.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tăng Văn K khai: trước đây bị cáo làm công việc thu mua, buôn bán gỗ, do chơi bời không có tiền trả nợ, nên bị cáo đã nảy sinh chiếm đoạt tiền của anh Đặng Văn V và Đỗ Văn Đ là những người bạn của bị cáo đã nhiều lần cùng buôn bán gỗ với nhau. Để lấy được tiền của anh V và anh Đ, bị cáo đã rủ anh V và anh Đ cùng góp tiền mua gỗ. Số tiền mà các anh V và Đ chuyển cho bị cáo, bị cáo sử dụng vào việc trả nợ và tiêu sài hết, không dùng để mua gỗ như thỏa thuận với V và Đ. Đối với số tiền mà anh V chuyển cho bà H1 và bà X để mua gỗ, thì bị cáo đã khai thác gỗ bán được bao nhiêu tiền, bị cáo sử dụng hết không trả lại tiền cho V. Tổng cộng bị cáo đã 03 lần lừa anh V để lấy số tiền 230.000.000 đồng và 03 lần lừa anh Đ để lấy số tiền 105.000.000 đồng. Ngoài ra bị cáo còn mượn 01 chiếc xe mô tô đã cũ của anh V để sử dụng, sau đó đem đi cầm cố được 2.500.000 đồng, đến nay chưa trả cho anh V. Đến nay bị cáo mới trả lại cho anh Đ được số tiền 26.000.000 đồng. Số tiền 50.000.000 đồng gia đình bị cáo nộp vào cơ quan Thi hành án dân sự để khắc phục hậu quả, bị cáo đồng ý dùng để trả cho anh V 30.000.000 đồng và trả cho anh Đ 20.000.000 đồng.
Bị hại anh Đặng Văn V khai tại phiên tòa như sau: đúng như bị cáo K khai, trong thời gian tháng 6 và 7/2023 K đã rủ anh góp tiền mua gỗ bán kiếm lời. Là chỗ bạn bè đã từng nhiều lần cùng nhau thu mua gỗ, nên đã tin tưởng K. Anh đã nhiều lần chuyển khoản theo yêu cầu và đưa tiền mặt cho K với tổng số tiền là 230.000.000 đồng. Sau đó anh phát hiện K không sử dụng tiền của anh chuyển cho để mua gỗ như đã thỏa thuận, mà đã dùng số tiền anh đưa để tiêu vào việc cá nhân. Anh đã nhiều lần yêu cầu K trả lại tiền, nhưng đến nay K vẫn không trả. Sau khi K bị bắt, gia đình K có cầm số tiền 100.000.000 đồng đến trả cho anh, nhưng anh không đồng ý nhận, mà yêu cầu K phải trả đủ cho anh số tiền 230.000.000 đồng anh mới đồng ý nhận. Ngoài ra trong thời gian này K có mượn của anh 01
4
chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát số 14K1-011.77 đã cũ, đến nay chưa trả.
Bị hại Đỗ Văn Đ khai tại cơ quan điều tra có nội dung như sau: từ ngày 17/10/2023 đến cuối tháng 10/2023, K đã nhiều lần rủ anh góp tiền để mua gỗ Bạch đàn và Sa mộc để bán kiếm lời. Do tin tưởng K, anh đã đồng ý và nhiều lần chuyển khoản và đưa tiền mặt cho K với tổng số tiền là 105.000.000 đồng. Sau nhiều lần đưa tiền cho K, không thấy K trả lại anh đã yêu cầu K nhận nợ với anh số tiền mà anh đã đưa cho K, tổng số tiền là 105.000.000 đồng. Đến nay K đã trả cho anh số tiền 26.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 10/KLĐG ngày 14/05/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T đã kết luận: giá trị thiệt hại đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát số 14K1-011.77 là 2.500.000 đồng.
Những người làm chứng:
- - Chị Đặng Thị H khai: chị có cho Tăng Văn K sử dụng tài khoản M số 0396385661 của chị. Trong thời gian K sử dụng tài khoản ngân hàng này, chị không biết việc K đã nhận, chuyển tiền như thế nào. Số tiền 50.000.000 đồng chị nộp tại cơ quan thi hành án dân sự là tài sản chung của vợ chồng.
- - Anh Hoàng Văn P khai: anh và K có quen biết nhau, ngày 21/10/2023 K hai lần chuyển đến tài khoản ngân hàng của anh số tiền 43.000.000 đồng (một lần 33.000.000 đồng và một lần 10.000.000 đồng) để nhận tiền mặt. Sau đó anh đã đưa cho K 43.000.000 đồng tiền mặt. Anh không biết tiền đó là tiền gì.
- - Ông Hoàng Văn S1 khai: ông có biết K vì K hay đến quán Net của gia đình ông chơi và đã nhiều lần nhờ ông chuyển tiền. Trong hai ngày 26 và 27/6/2023 K đã 03 lần nhờ chuyển tiền vào tài khoản của ông để lấy tiền mặt. K đã chuyển tổng cộng 54.200.000 đồng vào tài khoản V1 của ông. Sau khi tài khoản ngân hàng của ông nhận được tiền, ông đã đưa tiền mặt cho K với tổng số tiền là 54.200.000 đồng. Ông không biết số tiền này là tiền gì.
- - Bà Phạm Thị H1 khai: vào tháng 7/2023 K và V có mua của bà một số gỗ Bạch đàn với giá là 20.000.000 đồng. V đã chuyển trả vào tài khoản ngân hàng của bà số tiền 20.000.000 đồng. Sau đó K đến khai thác gỗ như thỏa thuận.
- - Bà Phạm Thị X khai tại cơ quan điều tra: vào tháng 6/2023, K có đến mua rừng Bạch đàn của gia đình bà với số tiền là 200.000.000 đồng. K trả trước vào tài khoản của bà 100.000.000 đồng. Sau đó K cho người đến khai thác toàn bộ số gỗ đã mua. Đến nay K mới chỉ trả cho bà được tổng cộng 156.000.000 đồng, hiện còn nợ bà số tiền 44.000.000 đồng, bà yêu cầu K trả cho bà số tiền còn nợ này.
5
- - Anh Đỗ Văn S khai tại cơ quan điều tra: anh không quen biết K, do thời gian đã lâu anh không nhớ có ai đến cầm cố hay bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 14K1-011.77 hay không.
Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 31/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Tăng Văn K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự,
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Quảng Ninh tại phiên tòa:
căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của các bị hại và của những người làm chứng; các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra và đã được công khai tại phiên tòa. Đủ cơ sở kết luận: từ tháng 06/2023 đến tháng 08/2023, tại thôn H, xã H, tỉnh Quảng Ninh, Tăng Văn K dùng thủ đoạn gian dối rủ anh Đặng Văn V góp tiền mua gỗ Bạch đàn, gỗ Sa mộc để chiếm đoạt của anh V số tiền 230.000.000đồng. Tiếp đó, đến khoảng tháng 10/2023 tại sân cửa hàng xăng dầu PV OIL thuộc phố L, xã T, tỉnh Quảng Ninh, K tiếp tục dùng thủ đoạn tương tự để chiếm đoạt của anh Đỗ Văn Đ số tiền 105.000.000đồng. Tổng số tiền K đã chiếm đoạt của anh V và anh Đ là 335.000.000đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Hành vi nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 335.000.000 đồng của các anh Đặng Văn V và Đỗ Văn Đ của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tăng Văn K với mức hình phạt từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 21/08/2025.
Ngoài hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh V và anh Đ nêu trên, bị cáo K còn có hành vi mượn của anh V 01 chiếc xe mô tô đã cũ trị giá 2.500.000 đồng để sử dụng, sau đó đem đi cầm cố đến nay không thu hồi được. Hành vi này của K chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi này bị cáo thực hiện trong thời gian tháng 6/2023, đến nay đã quá 02 (hai) năm, quá thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, nên không xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo hiện nay không có thu nhập.
Về phần trách nhiệm dân sự: số tiền 50.000.000 đồng bị cáo K đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự, dùng để trả cho anh Đặng Văn V số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và trả cho anh Đỗ Văn Đ số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) như ý kiến của bị cáo. Về số tiền phải trả còn lại, căn cứ
6
khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự: buộc bị cáo Tăng Văn K phải có nghĩa trả lại số tiền đã chiếm đoạt chưa trả cho các bị hại cụ thể như sau: trả cho anh Đặng Văn V số tiền 202.500.000 đồng (Hai trăm linh hai triệu năm trăm nghìn đồng); trả cho anh Đỗ Văn Đ 59.000.000 đồng (Năm mươi chín triệu đồng).
Bà Phạm Thị X yêu cầu bị cáo K trả số tiền mua gỗ rừng của gia đình bà chưa trả là 44.000.000 đồng. Đây là số tiền phát sinh từ giao dịch dân sự, nên bà X có quyền khởi kiện K theo thủ tục tố tụng dân sự.
- Ý kiến của bị cáo: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là không oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo sẽ tác động gia đình sớm trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho anh V và anh Đ.
- Ý kiến của bị hại Đặng Văn V: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật và buộc bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho anh là 232.500.000 đồng.
- Ý kiến của bị hại Đỗ Văn Đ: tại biên bản làm việc ngày 18/11/2025 tại Trại giam Q, anh Đ có yêu cầu bị cáo K phải trả lại cho anh số tiền 79.000.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt chưa trả. Đồng thời xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo Tăng Văn K: lời khai của bị cáo K tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những bị hại và người làm chứng. Phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Như vậy có đủ sơ sở kết luận: để có tiền trả nợ và tiêu sài, lợi dụng sự quen biết, tin tưởng của các anh Đặng Văn V và Đỗ Văn Đ, bị cáo Tăng Văn K bằng thủ đoạn gian dối đã nhiều lần rủ anh V và anh Đ góp tiền mua chung gỗ, nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của anh V và anh Đ. Từ tháng 6 đến cuối tháng 10/2023, bị cáo K đã 03 (ba) lần chiếm đoạt tiền của anh V với tổng số tiền là
7
230.000.000đồng và 03 (ba) lần chiếm đoạt tiền của anh Đ với số tiền 105.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của anh V và anh Đ là 335.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng). Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 335.000.000 đồng của anh V và anh Đ, của bị cáo Tăng Văn K đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Quảng Ninh truy tố bị cáo Tăng Văn K là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Tăng Văn K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội nhiều lần (06 lần), nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. sau khi hành vi phạm tội của bị cáo bị tố giác, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, chủ động và đề nghị gia đình khắc phục hậu quả, trả lại một phần (76.000.000đồng) số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại. Do vậy xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Tuy bị cáo lần đầu phạm tội, nhưng mức độ phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nên căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Ngoài hành vi phạm tội như đã nêu trên, vào thời gian tháng 6/2023, bị cáo K còn có hành vi mượn 01 chiếc xe mô tô đã cũ trị giá 2.500.000 đồng của anh Đặng Văn V, sau đó đem đi cầm cố, đến nay không thu hồi được. Hành vi này của bị cáo có dấu hiệu của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo phải trả số tiền lớn cho các bị hại và bản thân hiện không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của anh Đ là 105.000.000 đồng, đã trả 26.000.000 đồng, còn lại 79.000.000 đồng; chiếm đoạt của anh Đặng Văn V 232.500.000 đồng (gồm 230.000.000 đồng do lừa đảo và 2.500.000 đồng giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 14K1-011.77). Ngày 05/12/2025 chị Đặng Thị H (vợ của bị cáo) đã nộp thay cho bị cáo số tiền
8
50.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho các bị hại, trong đó để trả cho anh V 30.000.000 đồng, trả cho anh Đ 20.000.000 đồng). Nay bị cáo còn phải trả cho anh V 202.500.000 đồng và trả cho anh Đ 59.000.000 đồng.
[9] Về những vấn đề khác.
Chị Đặng Thị H có hành vi cho bị cáo mượn tài khoản ngân hàng của mình để sử dụng, nhưng không biết K sử dụng vào mục đích phạm tội, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ông Hoàng Văn S1 và anh Hoàng Văn P có hành vi dung tài khoản ngân hàng của mình nhận hộ tiền cho K, nhưng không biết số tiền nhận là do phạm tội mà có, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bà Phạm Thị X yêu cầu bị cáo K trả số tiền mua gỗ rừng của gia đình bà chưa trả là 44.000.000 đồng. Đây là số tiền phát sinh từ giao dịch dân sự, nên bà X có quyền khởi kiện K theo thủ tục tố tụng dân sự.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tăng Văn K 08 (tám) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 21/8/2025), về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự: buộc bị cáo Tăng Văn K phải có nghĩa trả lại số tiền đã chiếm đoạt chưa trả cho các bị hại cụ thể như sau:
- + Trả cho anh Đặng Văn V số tiền 202.500.000 đồng (Hai trăm linh hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- + Trả cho anh Đỗ Văn Đ 59.000.000 đồng (Năm mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành xong thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
- Về số tiền bị cáo K đã nộp: trả cho anh Đặng Văn V số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và trả cho anh Đỗ Văn Đ số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), trong tổng số tiền 50.000.000 đồng mà Tăng Văn K (chị
9
Đặng Thị H nộp thay) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000759 ngày 05/12/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Q.
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Tăng Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 13.075.000 đồng (Mười ba triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo Tăng Văn K, bị hại Đặng Văn V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại Đỗ Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Hồng Thắng |
Bản án số 17/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 17/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: để có tiền trả nợ và tiêu sài, lợi dụng sự quen biết, tin tưởng của các anh Đặng Văn Vượng và Đỗ Văn Đạt, bị cáo Tăng Văn Khánh bằng thủ đoạn gian dối đã nhiều lần rủ anh Vượng và anh Đạt góp tiền mua chung gỗ, nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của anh Vượng và anh Đạt. Từ tháng 6 đến cuối tháng 10/2023, bị cáo Khánh đã 03 (ba) lần chiếm đoạt tiền của anh Vượng với tổng số tiền là 230.000.000đồng và 03 (ba) lần chiếm đoạt tiền của anh Đạt với số tiền 105.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của anh Vượng và anh Đạt là 335.000.000 đồng
