|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA Bản án số: 17/2025/DS-ST Ngày: 24-10-2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Kim
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Ngọc .
- Ông Nguyễn Bá Lâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Thành Chế Trọng Triết - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 247/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-DS ngày 09/9/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QÐST-DS ngày 27/9/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L – Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Đ
Địa chỉ cũ: Tháp B1, số C, H, H, Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh N.
Người đại diện theo ủy quyền trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa: Ông Trần Huy H - Chuyên viên phụ trách xử lý nợ của Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh N. (Theo Quyết định ủy quyền số 101/QĐ-BIDVPV.NT ngày 01/4/2022 của Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh N)
Địa chỉ: Số A, Đường B, Phường B, tỉnh Khánh Hòa
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1979 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số I A, thôn E, xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thành S, sinh năm: 1981(Vắng mặt)
- Bà Trần Thị H1, sinh năm: 1994 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn E, xã N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Ngân hàng TMCP Đ và trong quá trình tham gia tố tụng, người được ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Huy H trình bày:
Ngày 14/07/2022, ông Nguyễn Thanh B đã ký kết với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/17808874/HĐTD, cụ thể như sau: Số tiền vay là 1,000,000,000 đồng, thời hạn vay: 96 tháng, mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất vay tại thời điểm ký HĐTD: 9,5%/năm, được áp dụng lãi suất thả nổi và được điều chỉnh 2 lần/năm, thanh toán gốc lãi hàng tháng theo thỏa thuận.
Để bảo đảm cho toàn bộ số tiền vay, ông Nguyễn Thanh B đã ký kết với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất với tài sản thế chấp là thửa đất 535 tờ bản đồ số 16.3 tại khu phố E, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay thuộc thôn E, xã N, tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 100870 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp ngày 04/04/2019.
Sau khi nhận tiền vay, ông Nguyễn Thanh B vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Tòa án:
- Buộc ông Nguyễn Thanh B phải trả ngay toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng TMCP Đ với tổng số tiền tính đến hết ngày 24/10/2025 là:
- + Nợ gốc: 799.300.000 đồng
- + Nợ lãi trong hạn : 175.555.939 đồng
- + Nợ lãi quá hạn: 7.890.211 đồng
Tổng cộng: 982.746.150 đồng (Bằng chữ: Chín trăm tám mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi sáu ngàn một trăm năm mươi đồng)
- Ông Nguyễn Thanh B phải tiếp tục trả tiền lãi vay phát sinh tính từ ngày 25/10/2025 và lãi phạt chậm thi hành án với lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã được ký kết cho đến khi trả hết nợ vay.
- Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2022/17808874/HĐTC ngày 18/07/2022 đã được ký kết để thi hành án trả toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng TMCP Đ.
Qúa trình giải quyết, bị đơn ông Nguyễn Thanh B trình bày:
Ngày 14/07/2022, ông ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ để vay số tiền là số tiền vay: 1,000,000,000 đồng, thời hạn vay: 96 tháng, mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất vay tại thời điểm ký HĐTD: 9,5%/năm. Để đảm bảo khoản vay, ông có thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 535 tờ bản đồ số 16.3 diện tích 304 m² tại khu phố E, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, số CQ 100870 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp ngày 04/04/2019.
Hiện các khoản vay đều bị quá hạn do vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông phải trả các khoản nợ gốc và lãi thì ông đồng ý trả nhưng xin trả dần số nợ.
Qúa trình giải quyết, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Thành S và bà Trần Thị H1 vắng mặt: Mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm mà không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn ông Nguyễn Thanh B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Thành S và bà Trần Thị H1 vắng mặt không lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án, là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng của mình tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:
Căn cứ vào các khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 299, 317, 323 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 100, 103 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2024.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ .
- Buộc ông Nguyễn Thanh B phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tính đến ngày 24/10/2025 là 982.746.150 đồng (Bằng chữ: Chín trăm tám mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi sáu ngàn một trăm năm mươi đồng), gồm:
- +Nợ gốc: 799.300.000 đồng
- + Nợ lãi trong hạn : 175.555.939 đồng
- + Nợ lãi quá hạn: 7.890.211 đồng
- Ông Nguyễn Thanh B phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, tính từ ngày 25/10/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay.
- Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2022/17808874/HĐTC ngày 18/7/2022 để đảm bảo thi hành án.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thanh B phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định tại chỗ.
- Về án phí: Bị đơn Nguyễn Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 BLTTDS 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh B phải trả số tiền nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/17808874/HĐTD ngày 18/07/2022 kiêm phương án vay vốn và duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án. Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định: Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định đây là vụ án dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Thanh B có nơi cư trú tại khu phố E, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là thôn E, xã N, tỉnh Khánh Hòa). Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thanh B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành S và bà Trần Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc buộc ông Nguyễn Thanh B phải trả số tiền là 982.746.150 đồng (Bằng chữ:Chín trăm tám mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi sáu ngàn một trăm năm mươi đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là: 799.300.000 đồng, nợ lãi trong hạn và quá hạn tính đến ngày 24/10/2025 là: 183.446.150 đồng và tiền lãi cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Căn cứ hợp đồng tín dụng số 01/2022/17808874/HĐTD ngày 14/07/2022; phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ, ngày 14/07/2022, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N đã cho ông Nguyễn Thanh B vay tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng, đã giải ngân số tiền vay cho ông Nguyễn Thanh B. Căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên, ông B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tính đến ngày 24/10/2025, ông Nguyễn Thanh B còn nợ Ngân hàng số tiền gốc: 799.300.000 đồng, nợ lãi trong hạn và quá hạn tính đến ngày 24/10/2025 là: 183.446.150 đồng và tiền lãi cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B phải trả số tiền trên.
Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh N với ông Nguyễn Thanh B được ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, mức lãi suất và phương thức tính lãi: Ngân hàng áp dụng mức lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,5%/ năm, lãi suất điều chỉnh 2 lần/ năm. Thấy rằng: Mức lãi suất và phương thức tính lãi của Ngân hàng là đúng như sự thỏa thuận giữa hai bên phù hợp với điều 91 Luật tổ chức tín dụng 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 10, 13, 21, 23 Thông tư số 39 ngày 31/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Khánh Hòa: Buộc ông Nguyễn Thanh B phải trả nợ số tiền gốc: 799.300.000 đồng và lãi trong hạn và quá hạn hạn tính đến ngày 24/5/2025 là 183.446.150 đồng cho Ngân hàng TMCP Đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/10/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
[2.2]. Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ về việc tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp 01/2022/17808874/HĐTC ngày 18/7/2022 để đảm bảo thi hành án:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 01/2022/17808874/HĐTC ngày 18/7/2022 có đối tượng thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 535 tờ bản đồ số 16.3 diện tích 304 m² tại khu phố E, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là thôn E, xã N, tỉnh Khánh Hòa) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 100870 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp ngày 04/04/2019, đây là tài sản riêng của ông Nguyễn Thanh B và đã được đăng ký giao dịch đảm bảo.
Căn cứ vào biên bản thẩm định ngày 03 tháng 4 năm 2025 và sơ đồ đo đạc chỉnh lý do VPĐKDĐ cung cấp thể hiện:
- Thửa đất số 535 đã được cấp GCN CQ 100870 cấp ngày 04/04/2019 ông Nguyễn Thanh B đang thế chấp tại ngân hàng có diện tích 304 m² (tại các điểm A, 2, 3, 3", B, B', C, D, D', I', I, K). Trong đó hiện trạng sử dụng:
- Phần diện tích 158.9 m² đã cấp GCN cho ông Nguyễn Thanh B (tại các điểm K, 2',3',C" C, C, D, D', I, I). Trên phần diện tích này có các tài sản sau: 01 phần căn nhà cấp 4 diện tích 42.2 m² (tại các điểm C', C, D, D', D"), mái che tôn diện tích 2 m² (tại các điểm I, I", D",D) thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Thanh B.
- Phần diện tích ông Nguyễn Thành S đang sử dụng chồng lấn lên đất đã cấp GCN cho ông Nguyễn Thanh B có diện tích 145.1 m² (tại các điểm A, B, C, C', 3', K). Theo đó, trên diện tích này có các tài sản của ông Nguyễn Thành S và bà Lê Thị H2 sau: 01 phần căn nhà cấp 4 diện tích 38.3 m² (tại các điểm 3", B, B', 3"'), chuồng heo diện tích 54.7 m² (tại các điềm A, 2, 2', K), mái che diện tích 21.5 m² (tại các điểm 3, 3", 3"', B', C, 3', 3).
Xét thấy trong quá trình thẩm định tài sản bảo đảm, Ngân hàng không phát hiện trên đất có một phần tài sản của ông Nguyễn Thành S và bà Trần Thị H1 là thiếu sót. Tuy nhiên, xét tính pháp lý hợp đồng thế chấp trên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về nội dung cũng như hình thức của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 298, 317, 318, 319 Bộ luật dân sự 2015; khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013Nghị định số 21/2021/NĐ-CP19/3/2021 quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và các bên đã đăng ký thế chấp; Đồng thời, ông Nguyễn Thanh B chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản trên đất và nguyên đơn chỉ yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án mà không yêu cầu Tòa án phát mãi những tài sản nào để thi hành án; Qúa trình giải quyết, bị đơn ông Nguyễn Thanh B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành S và bà Trần Thị H1 cũng không có yêu cầu độc lập xử lý đối với tài sản của mình trên đất thế chấp. Vì vậy, căn cứ điều 325 của Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử nhận định: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 18/7/2022 có hiệu lực pháp luật, vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án.
[2.3]. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.954.000 đồng (Ba triệu chín trăm năm mươi bốn ngàn đồng), do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ được chấp nhận nên ông Nguyễn Thanh B phải có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền trên.
[3] Về án phí: Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 và 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 289, 317, 318, 319, 325 của Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ khoản 3 điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 (khoản 3 Điều 27 của Luật Đất đai năm 2024).
Căn cứ điều 8, 10 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 25 Nghị định 99/2022/NĐ-CP30/11/2021 về đăng ký biện pháp bảo đảm.
Căn cứ vào khoản 16 Điều 4 và Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 210 Luật các Tổ chức tín dụng 2024.
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng”.
- Buộc ông Nguyễn Thanh B phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ vay tính đến ngày 24/10/2025 là: 982.746.150 đồng (Bằng chữ: Chín trăm tám mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi sáu ngàn một trăm năm mươi đồng)
Bao gồm:
- - Nợ gốc: 799.300.000 đồng.
- - Nợ lãi và quá hạn: 183.446.150 đồng
- Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 01/2022/17808874/HĐTC ngày 18/7/2022 giữa ông Nguyễn Thanh B với Ngân hàng TMCP Đ đã được đăng ký giao dịch bảo đảm để đảm bảo thi hành án.
- Kể từ ngày 25 tháng 10 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Thanh B phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 3.954.000 đồng (Ba triệu chín trăm năm mươi bốn ngàn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Về án phí: Buộc ông Nguyễn Thanh B phải chịu 41.482.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi hai ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - H3 lại cho Ngân hàng TMCP Đ: 20.732.665 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi lăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005426 ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa)
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Kim |
Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng D với Nguyễn Thanh B
