Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 169/2025/HS-PT

Ngày: 17/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hải

Các Thẩm phán: Ông Lâm Bách

Bà Trần Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 162/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Đại N, Lê Đình Hoàng Đ do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 149/2025/QĐXXPT-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, Thông báo hoãn phiên tòa số 72/2025/TB-HSPT ngày 24 tháng 11 năm 2025 và Thông báo hoãn phiên tòa số 74/2025/TB-HSPT ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

* Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Đại N, sinh ngày 21/7/1994 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Số A C, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Nay là số A C, phường N, tỉnh Khánh Hòa); Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trung H (chết) và bà Nguyễn Thị T (chết); Vợ: Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1994; Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Có mặt tại phiên tòa.

  1. Lê Đình Hoàng Đ, sinh ngày 18/01/1996 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Nay là số F H, phường N, tỉnh Khánh Hòa); Chỗ ở hiện nay: Số C L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Nay là số C L, phường N, tỉnh Khánh Hòa); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình L (chết) và bà Ngô Thị Thu H1, sinh năm 1967; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 07/2014/HSST ngày 20/01/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2015, đã đóng án phí.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Có mặt tại phiên tòa.

* Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo:

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đại N: Bà Hoàng Thị Ngọc D - Luật sư Công ty L1 - Chi nhánh N1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 09/01/2023, tại quán N2, địa chỉ F T, phường P, thành phố N, Lê K đang ngồi nhậu cùng với Lê Đình Hoàng Đ, Nguyễn Thành V tại bàn số A; Nguyễn Đại N ngồi nhậu cùng với Hà Minh H2, Nguyễn Cao M tại bàn số 23. Do quen biết với Lê K từ trước nên N qua bàn mời uống bia với K rồi nói to tiếng khiến Lê Đình Hoàng Đ tức giận chửi N nên N về lại bàn.

Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, do còn bực tức nên Lê Đình Hoàng Đ và Nguyễn Đại N tiếp tục xảy ra mâu thuẫn cãi vả với nhau. Lúc này, Đ chỉ tay về phía N chửi bới rồi đứng dậy cầm ly bia qua bàn của N thì được mọi người can ngăn giữ lại ly bia. Đ tiếp tục đứng lên đi về phía N thì N cầm ly bia xông đến đánh vào vùng mặt của Đ gây thương tích. Lúc này, Nguyễn Thành V cầm ly bia xông đến đánh vào vùng đầu N 02 cái, N dùng tay chống đỡ thì bị Đ cầm ly bia trên bàn đánh tiếp vào đầu 02 cái, rồi cầm ly bia ném vào người N. Tiếp theo, V và Đ dùng tay, chân đánh N. Thấy N bị chảy máu nên mọi người can ngăn và đưa N đi cấp cứu, còn nhóm Đ, V sau đó cũng lấy xe đi về.

Nguyễn Đại N, Lê Đình Hoàng Đ đều có đơn đề nghị khởi tố vụ án.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 368/23/KLTTCT-PYKH ngày 22/3/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh K kết luận:

Tổn thương cơ thể của Nguyễn Đại N như sau:

  • Vùng đỉnh có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 01%.
  • Vùng chẩm có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 01%.
  • Vùng thái dương phải có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 01%.
  • Vùng trán có 03 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật mỗi sẹo nhỏ vùng trán là 03%.
  • Vùng mũi có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 03%.
  • Vùng cổ sau có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 02%.
  • Vùng cổ phải có 01 vết sẹo kích thước trung bình, tỷ lệ thương tật: 04%.
  • Vùng vành tai phải có 03 vết sẹo không co rúm, tỷ lệ thương tật mỗi sẹo vành tai là 02%.
  • Vùng vành tai trái có 01 vết sẹo không co rúm, tỷ lệ thương tật: 02%.
  • Vùng bàn tay trái có 02 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật mỗi sẹo là 01%.
  • Vùng bàn tay trái có 01 vết sẹo kích thước trung bình, tỷ lệ thương tật: 02%.
  • Vùng bàn tay phải ngón I có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 01%.
  • Vùng bàn tay phải ngón II có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, tỷ lệ thương tật: 01%.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đại N tại thời điểm giám định là 30%; Cơ chế hình thành thương tích: Ngoại lực tác động; Tác nhân: Vật tày; Những vết thương trên của Nguyễn Đại N không dẫn đến chết người.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 333/24/KLTTCT-PYKH ngày 18/7/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh K kết luận: Tổn thương cơ thể của Lê Đình Hoàng Đ. Cụ thể:

  • Vùng má trái có sẹo kích thước trung bình, tỷ lệ thương tật: 06%.
  • Vùng cổ trái có sẹo kích thước lớn, tỷ lệ thương tật: 06%.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đình Hoàng Đ tại thời điểm giám định là 12%; Cơ chế hình thành thương tích: Ngoại lực tác động; Tác nhân: Vật tày.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa đã căn cứ điểm đ khoản 2 (viện dẫn điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đại N. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại N 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Căn cứ điểm đ khoản 2 (viện dẫn điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Đình Hoàng Đ. Xử phạt bị cáo Lê Đình Hoàng Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 29/8/2025, bị cáo Lê Đình Hoàng Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 05/9/2025, bị cáo Nguyễn Đại N kháng cáo đề nghị xem xét lại việc áp dụng tình tiết “Có tính chất côn đồ”, xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa vẫn giữ nguyên quan điểm về điều luật và tội danh của các bị cáo Nguyễn Đại N, Lê Đình Hoàng Đ như bản án sơ thẩm đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Đình Hoàng Đ, Nguyễn Đại N và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đại N trình bày: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Đình Hoàng Đ thừa nhận: giữa Đ và N không có gì mâu thuẫn từ trước, khi N qua bàn cụng ly với K cũng không có nói gì to tiếng, không mâu thuẫn gì với ai trong bàn. Bản thân có gây sự với N, chỉ tay về phía N to tiếng xúc phạm, chửi bới Nghĩa : “đụ mẹ mày cút đi”, “đụ mẹ mày biến về”, “cút ra khỏi quán” là do đã uống bia trước đó nên không làm chủ được hành vi. Bị cáo Lê Đình Hoàng Đ cầm ly trước mặt và đứng dậy là để tấn công Nguyễn Đại N. Lời khai của N và Đ phù hợp với chứng cứ là đoạn camera tại quán Chị em được ghi lại toàn bộ diễn biến quá trình xảy ra sự việc. Cho thấy nguyên nhân xảy ra sự việc xuất phát từ hành vi trái pháp luật của bị cáo Lê Đình Hoàng Đ, bị cáo Đ vô cớ, có hành vi chỉ tay vào mặt bị cáo N to tiếng dùng những lời lẽ tục tĩu liên tục chửi bới, xúc phạm bị cáo Nguyễn Đại N đòi đuổi bị cáo N ra khỏi quán trước mặt mọi người, đây là hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm bị cáo N và đỉnh điểm là bị cáo Lê Đình Hoàng Đ có hành vi đứng dậy cầm ly bia tấn công bị cáo N. Làm cho bị cáo N bị kích động mạnh về tinh thần nên bị cáo N đã cầm ly bia vung về phía bị cáo Đ với mục đích chống lại sự tấn công của bị cáo Đ nên đã gây thương tích cho Đ tại vùng cổ với tỷ lệ thương tật 12%. Như vậy, việc Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa nhận định tại bản án số 79/2025/HS-ST ngày 26/8/2025: “Nghĩa xác nhận trước đó hai bên không quen biết, không có mâu thuẫn gì, chỉ vì khúc mắc nhỏ, N sử dụng ly thủy tinh đập vào mặt gây thương tích cho Lê Đình Hoàng Đ thể hiện tính côn đồ của bị cáo N” là không phù hợp với diễn biến khách quan của sự việc, cũng như chưa xác định rõ nguyên nhân tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo N, chỉ xem xét phiến diện về hành động của bị cáo N mà chưa xác định rõ bị cáo N thực hiện hành vi gây thương tích cho Đ trong tình thế bị kích động về tinh thần chứ không phải thể hiện tính côn đồ như bản án nhận định. Ngoài tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã xin lỗi, tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội cũng do một phần lỗi của bị hại mà Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa đã áp dụng đối với bị cáo N. Đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát cần xem xét áp dụng thêm cho bị cáo Nguyễn Đại N các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân” quy định điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo N được UBND xã D tặng giấy khen vì có tấm lòng vàng hỗ trợ cho 60 hộ nghèo tại xã D nên cần được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đ đồng thời cũng là bị hại trong vụ án nhận thấy nguyên nhân xảy ra việc gây thương tích là do bị cáo gây ra nên đã xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bản thân bị cáo Nghĩa là công dân tốt, làm ăn lương thiện có nhân thân tốt, là học sinh nghèo vượt khó khi cả cha và mẹ đều mất sớm, trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án tiền sự, chấp hành tốt, tham gia đầy đủ các quy định cũng như nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ không có công việc ổn định và phải nuôi con sinh năm 2019. Hiện nay, bị cáo đang là sinh viên chính quy của trường Cao đẳng Y tại tp HCM. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 65 BLHS không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo N được hưởng án treo theo quy định pháp luật để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo nuôi sống gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đại N và Lê Đình Hoàng Đ được thực hiện trong thời hạn luật định, nên được cấp phúc thẩm xem xét.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Đại N và Lê Đình Hoàng Đ đã khai nhận hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ. Do đó, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 09/01/2023, tại quán N2, địa chỉ F T, phường P, thành phố N, trong lúc ngồi nhậu Lê Đình Hoàng Đ và Nguyễn Đại N có lời qua tiếng lại với nhau. Lúc này, Lê Đình Hoàng Đ chỉ tay về phía N chửi bới rồi đứng dậy cầm ly bia qua bàn của N thì được mọi người can ngăn nhưng Lê Đình Hoàng Đ tiếp tục đứng lên đi về phía bàn của N thì Nguyễn Đại N cầm ly bia đánh vào vùng mặt thì Lê Đình Hoàng Đ đưa tay lên đỡ. Lúc này, Nguyễn Thành V cầm ly bia xông đến đánh vào vùng đầu Nguyễn Đại N 02 cái, N dùng tay chống đỡ thì bị Lê Đình Hoàng Đ cầm ly bia trên bàn đánh tiếp vào đầu 02 cái, rồi cầm ly bia ném vào người Nguyễn Đại N. Hậu quả Nguyễn Đại N dùng ly bia đánh 01 cái vào vùng mặt Lê Đình Hoàng Đ gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%; Lê Đình Hoàng Đ và Nguyễn Thành V dùng ly thủy tinh, tay chân đánh nhiều cái vào vùng đầu và người của Nguyễn Đại N gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30%. Hành vi đó của các bị cáo Lê Đình Hoàng Đ, Nguyễn Thành V và Nguyễn Đại N đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đại N và Lê Đình Hoàng Đ:

[3.1]. Đối với đơn kháng cáo Lê Đình Hoàng Đ xin giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (viện dẫn điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự và với mức hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Bởi vì, bị cáo là người gây sự trước, có hành động xông đến đánh Nguyễn Đại N trước là thể hiện tính chất côn đồ và sau đó dùng ly thủy tinh là hung khí đập vào vùng đầu, vào người của Nguyễn Đại N gây tổn thương cơ thể với tỷ lệ 30%. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân của bị cáo, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Lê Đình Hoàng Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã tỏa ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và bị hại Nguyễn Đại N cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lê Đình Hoàng Đ. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, đây là những tình tiết mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt để trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội. Cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lê Đình Hoàng Đ và sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

[3.2]. Đối với đơn kháng cáo của Nguyễn Đại N và luật sư bào chữa đề nghị xem xét lại việc áp dụng tình tiết “Có tính chất côn đồ” đối với bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo: Bị cáo bị cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật Hình sự và với mức hình phạt 02 (hai) năm tù. Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Đại N cho rằng bị cáo không “có tính chất côn đồ” khi thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại Lê Đình Hoàng Đ mà đây là hành vi chống trả lại khi bị hại Lê Đình Hoàng Đ xông đến đánh bị cáo nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi của bị cáo “có tính chất côn đồ” là không đúng. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, trong vụ án này bị hại Lê Đình Hoàng Đ (cùng là bị cáo trong vụ án) đã có hành vi chửa bới, nhục mạ, đuổi bị cáo đi ra khỏi quán và đã có hành động cầm ly bia thủy tinh đòi đánh bị cáo Nguyễn Đại N (cũng là bị hại trong vụ án) được ngăn cản nhưng liền lúc đó bị hại Lê Đình Hoàng Đ đứng dậy xông đến bàn bị cáo N để đánh thì bị cáo Nguyễn Đại N mới dùng ly bia đánh lại bị hại Lê Đình Hoàng Đ gây thương tích 12%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đại N đã thực hiện là hành vi chống trả vượt quá mức cần thiết để ngăn cản sự tấn công từ phía bị hại Lê Đình Hoàng Đ và do hành vi xử sự trái pháp luật của bị hại đã làm cho bị cáo Nguyễn Đại N tinh thần bị kích động nên không tự kiềm chế được và bản thân bị cáo là người có có nhân thân tốt từ trước đến nay không vi phạm pháp luật nên hành động của bị cáo không “có tính chất côn đồ”. Do vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo và không áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” đối với bị cáo Nguyễn Đại N. Tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử xét thấy, phía bị hại Lê Đình Hoàng Đ có một phần lỗi trong vụ án, bị cáo Nguyễn Đại N xuất trình giấy xác nhận hiện nay đang là sinh viên của Trường Cao Đẳng Y có xác nhận của Hiệu trưởng nhà trường; giấy xác nhận của Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú về việc chấp hành pháp luật tại địa phương từ năm 2020 đến ngày 09/01/2025 đã chấp hành tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương, không có tiền án, tiền sự; bị cáo có giấy khen về việc thực hiện tặng 60 phần quà cho người nghèo, cận nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã D; có nghề nghiệp ổn định, là lao động chính trong gia đình và có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, xét thấy bị cáo Nguyễn Đại N có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Do vậy, cần chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đại N giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

[4]. Về án phí: Các bị cáo Lê Đình Hoàng Đ và Nguyễn Đại N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 344; Điều 345; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • * Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lê Đình Hoàng Đ và sửa bản án sơ thẩm số 79/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Khánh Hòa về phần hình phạt.
    • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
    • + Xử phạt: Lê Đình Hoàng Đ 02 (năm) tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  2. Căn cứ vào Điều 344; Điều 345; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • * Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đại N và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa về phần hình phạt.
    • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    • + Xử phạt: Nguyễn Đại N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 17/12/2025).

    Giao bị cáo Nguyễn Đại N cho Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Khánh Hòa nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  3. [3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • - Các bị cáo Lê Đình Hoàng Đ và Nguyễn Đại N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. [4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 17 tháng 12 năm 2025).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

CÁC THẨM PHÁN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa;
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2025/HS-PT ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 169/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Căn cứ vào Điều 344; Điều 345; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. * Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lê Đình Hoàng Đ và sửa bản án sơ thẩm số 79/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Khánh Hòa về phần hình phạt. - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. + Xử phạt: Lê Đình Hoàng Đ 02 (năm) tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. [2] Căn cứ vào Điều 344; Điều 345; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. * Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đại N và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa về phần hình phạt. - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (viện dẫn điểm a khoản 1); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. + Xử phạt: Nguyễn Đại N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 17/12/2025). Giao bị cáo Nguyễn Đại N cho Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Khánh Hòa nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger