|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 169/2025/HS-PT Ngày 17 tháng 11 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng, bà Phan Thị Minh Tâm.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Thiều Thanh Bội Giao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 261/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc P, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc P, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 01/12/1959, tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp C, xã C, huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp C, xã T, tỉnh An Giang); giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Đảng, đoàn: Đảng viên – sinh hoạt tại chi bộ ấp C – Đảng bộ xã C; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Trần Thị E; vợ là Trần Thị X và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/3/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Cơ sở giam giữ Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh A, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Trần Văn P1, sinh năm 1976; nơi thường trú: ấp C, xã C (nay là xã T), tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Ngọc P2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khóm Đ, phường M (nay là phường L), tỉnh An Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 18/12/2024, sau khi uống rượu Trần Văn P1 điều khiển xe mô tô biển số 67N1-056.14 đến trước sân nhà của Nguyễn Ngọc P thuộc ấp C, xã C, huyện T (nay thuộc ấp C, xã T), tỉnh An Giang nẹt pô xe và chửi P lớn tiếng. Nghe vậy, bà Trần Thị X (vợ P) chạy ra can ngăn đuổi P1 về, do sợ P và ông P1 đánh nhau, nên bà X đi tìm người đến can ngăn.
Cùng lúc này, ngay trước hiên nhà P, P1 tiếp tục chửi nên P1 và P xảy ra xô xát đánh nhau. Khi đến đống củi tràm P khom người xuống dùng tay nhặt 01 khúc cây gỗ tràm hình tròn (dài 1,07m, đường kính đầu khúc gỗ lớn nhất là 2,5cm, đường kính đầu khúc gỗ nhỏ nhất là 1,5cm, cân nặng 250g) cầm hai tay đánh từ trên xuống khoảng 04 cái vào đầu ông P1, do P1 đội mũ bảo hiểm nên trượt xuống trúng vào cổ, vai và tay của P1, tiếp theo P dùng hai tay cầm cây tràm đánh ngang từ trái qua phải và từ phải qua trái khoảng 03 cái trúng vào vùng mặt, mắt trái của P1 gây thương tích, thì được mọi người can ngăn. Sau đó, P1 được gia đình đưa đến Bệnh viện mắt tại Thành phố Hồ Chí Minh điều trị, đến ngày 26/12/2024, P1 xuất viện và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Ngọc P.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) khúc gỗ tràm hình tròn, dài 1,07m, đường kính đầu khúc gỗ lớn nhất là 2,5cm, đường kính đầu khúc gỗ nhỏ nhất là 1,5cm, cân nặng 250 gram; Tiền Việt Nam là 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống 95/25/KLTTCT - TTPY ngày 27/02/2025 của Trung tâm P3 – Sở Y, xác định: Trần Văn P1, sinh năm 1976 ngụ: Ấp C, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.
Các kết quả chính:
- - Sây sát da dạng thẳng vùng cổ phải để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (02 x 0.1) cm. Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm).
- - Sẹo vùng khuỷu tay phải, nằm xiên, kích thước (1.2 x 0.3) cm, sẹo lồi, sậm màu. Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm).
- - Sẹo mặt sau cổ tay phải, kích thước (1.3 x 0.3)cm, sẹo lồi, sậm màu. Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm).
- - Chấn thương đầu mặt:
- + Bầm quanh mắt phải và mắt trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00% (không phần trăm).
- + Sây sát da mi trên mắt trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00% (không phần trăm).
- + Gây đụng dập nhãn cầu mắt trái, xuất huyết pha lê thể, bán lệch thủy tinh thể gây ảnh hưởng thị lực. Thị lực mắt phải 8/10, mắt trái bóng bàn tay. Tỷ lệ là 31% (Ba mươi một phần trăm).
- + Gây vỡ xoang trán trái, điều trị nội khoa. Tỷ lệ là 07% (không bảy phần trăm).
- - Sây sát da sống mũi lệch trái để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (0.6 x 0.4) cm. Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm).
- - Sẹo niêm mạc môi dưới, kích thước (0.5 x 0.1) cm. Tỷ lệ là 01% (không một phần trăm).
- - Sây sát da môi trên lệch trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00% (không phần trăm).
Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 39% (Ba mươi chín phần trăm).
Kết luận khác: Tất cả các thương tích trên do vật tày gây nên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh An Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 03 năm 06 tháng tù. Ngoài ra còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/9/2025, bị cáo Nguyễn Ngọc P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Ngọc P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Bị hại Trần Văn P1 trình bày việc bị cáo gây thương tích cho bị hại là có lỗi của bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc P 03 năm 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, trong vụ án bị hại có một phần lỗi gây sự với bị cáo trước dẫn đến việc bị cáo gây thương tích cho bị hại. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại thêm 86.000.000 đồng, đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm; trong hồ sơ thể hiện bị cáo có cung cấp nhiều bằng khen, giấy khen nhưng chưa được cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc P; sửa Bản án hình sự sơ thẩm, giảm cho bị cáo 06 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 03 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc P làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 15 giờ ngày 18/12/2024, tại trước sân nhà của bị cáo Nguyễn Ngọc P thuộc ấp C, xã C, huyện T (nay thuộc ấp C, xã T), tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Ngọc P có hành vi dùng cây gỗ tròn (dài 1,07m, đường kính đầu khúc gỗ lớn nhất là 2,5cm, đường kính đầu khúc gỗ nhỏ nhất là 1,5cm, cân nặng 250g) là hung khí nguy hiểm đánh nhiều cái vào cổ, vai, tay, mặt, mắt trái của P1, hậu quả làm P1 bị tổn thương cơ thể do tất cả các thương tích gây nên 39%. Hành vi của bị cáo P đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự có mức hình phạt từ 05 năm đến 10 năm. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng, nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A số tiền 25.000.000 đồng để tiếp tục khắc phục hậu quả và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử bị cáo P mức án 03 năm 06 tháng tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc P:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ.
Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tác động gia đình tiếp tục bồi thường thêm cho bị hại 86.000.000 đồng (trong đó có 34.312.000 đồng phải bồi thường theo quyết định của bản án sơ thẩm và bồi thường thêm 51.688.000 đồng ngoài quyết định của bản án sơ thẩm để hỗ trợ bị cáo tái khám, phục hồi sức khỏe). Trong giai đoạn phúc thẩm bị cáo P có cung cấp chứng cứ mới, thể hiện: Từ năm 2012 đến năm 2022 bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh A, Ban chấp hành Hội Nông dân tỉnh A, Giám đốc Công an tỉnh A, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, Hội Nông dân xã C tặng rất nhiều bằng khen, giấy khen vì có thành tích trong phòng trào “Nông dân sản xuất-kinh doanh giỏi”, lập thành tích xuất sắc trong thực hiện “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, chưa được cấp sơ thẩm xem xét nên cấp phúc thẩm xem xét áp dụng thêm cho bị cáo. Mặc dù nghề nghiệp bị cáo là làm ruộng, nhưng bản thân bị cáo là đảng viên Đ đang sinh hoạt tại Chi bộ ấp C – Đảng bộ xã C, bị cáo được Ban Chấp hành Trung ương tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng.
Ngoài ra, xét về nguyên nhân dẫn đến hậu quả của tội phạm là có nguyên cớ từ bị hại Trần Văn P1, giữa bị cáo P và bị hại P1 không có mâu thuẫn, nhưng sau khi đã uống rượu say thì P1 đi đến nhà bị cáo P chửi và gây sự trước, khi bà X (vợ bị cáo P) can ngăn thì bị hại không dừng lại mà tiếp tục chửi P, dẫn đến bị cáo P dùng cây đánh nhiều cái vào người P1 gây thương tật tỷ lệ 39%. Do đó, việc bị cáo P gây thương tích thì bị hại P1 cũng có lỗi, sau khi xét xử sơ thẩm ngày 09/9/2025 bị hại P1 cũng có đơn yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo P và tại phiên tòa vẫn giữ nguyên ý kiến.
Bị cáo P được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào; trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; đây là lần đầu bị cáo phạm tội; bị cáo có nhân thân tốt khả năng tự cải tạo, có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục; do đó không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giảm cho bị cáo một phần hình phạt và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Đây là cơ hội để bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam nên áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Ngọc P nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Ngọc P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc P; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc P 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (17/11/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc P cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Ngọc P đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Ngọc P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Tại phiên tòa đã giải thích cho bị cáo về chế định án treo).
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phượng |
Bản án số 169/2025/HS-PT ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 169/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thương tích
