|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 167/2025/HSST
Ngày: 17/12/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Ánh Hồng và ông Lê Đình Hoan.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi – Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hán - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 143/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thành T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nguyễn D (chết) và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1948. Có vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1986 và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 08/8/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Huỳnh Tấn C; tên gọi khác: Không; sinh năm 1989 tại tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Huỳnh T1 (chết) và bà Nguyễn Thị H (1948). Có vợ Huỳnh Thị Mỹ X, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 08/8/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
3. Phan Thanh T2; tên gọi khác: Không; sinh năm 1991 tại tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Phan Thanh L1, sinh năm 1960 và bà Hồ Thị T3, sinh năm 1962. Có vợ Lê Thị T4, sinh năm 1996 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 08/8/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
4. Trịnh Minh B; tên gọi khác: Không; sinh năm 1985 tại tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Trịnh Minh T5 (chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1954. Có vợ Võ Thị T6, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 08/8/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
5. Võ Công D1; tên gọi khác: Không; sinh năm 1993 tại tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Võ Công D2, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1968. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 08/8/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
6. Trần H2; tên gọi khác: Không; sinh năm 1977 tại thành phố Đà Nẵng; giới tính: Nam; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Trần C1 (chết) và bà Nguyễn Thị P (chết). Có vợ Phạm Thị X1, sinh năm 1977 và 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 08/8/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1948; địa chỉ: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 30/7/2025, Nguyễn Thành T tổ chức ăn nhậu tại nhà của mẹ mình là bà Lê Thị Đ (sinh năm 1948, trú tại thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk) cùng với Võ Công D1, Huỳnh Tấn C, Phan Thanh T2, Trịnh Minh B, Trần H2. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, tất cả rủ nhau đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài tố. T8 lấy chăn ra trải và lấy bài tú lơ khơ có sẵn trong nhà ra để đánh bạc.
Hình thức đánh bài tố sử dụng bộ bài tú lơ khơ chuẩn 52 lá. Đặc điểm mỗi lá bài gồm số, kí hiệu và chất. Số và các ký hiệu lá bài được quy ước từ nhỏ đến lớn lần lượt từ 02 đến 10, J (Bồi), Q (Đ), K (Già) A (Át, X2). Khi chơi mỗi người phải đặt số tiền tối thiểu là 20.000đ và được chia 02 lá bài. Sau đó mỗi người được bốc thêm 05 lá bài, khi hoàn thành việc bốc bài, tuỳ thuộc vào độ liên kết của các lá bài (như bài có tứ quý, thùng 05 cây cùng một chất bài, sảnh, đôi,...) thì sẽ đặt tiền tố (số tiền tố từ 20.000đ đến 200.000đ). Sau khi đặt tiền tố xong mọi người sẽ lật bài, người thắng là người có chất bài lớn nhất và thắng tất cả những người còn lại. Trong quá trình đánh bạc, ván bạc nào ai thắng cược với số tiền từ 200.000đ trở lên thì sẽ trích ra số tiền 20.000đ mục đích đến khi kết thúc buổi đánh bạc sử dụng số tiền này để cả nhóm mua bia, mồi tiếp tục nhậu.
Đến 17 giờ cùng ngày, trong lúc tất cả đang đánh bạc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 22.420.000đ và một số dụng cụ dùng để đánh bạc.
Về thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu: Quá trình bắt người phạm tội quả tang tạm giữ trên chiếu bạc:
- + Số tiền 22.420.000đ (Hai mươi hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng);
- + 05 bộ bài T9 lơ khơ (01 bộ đã qua sử dụng, 04 bộ chưa qua sử dụng);
- + 01 tấm chăn màu đỏ-vàng nhiều hoa văn, kích thước (1x1,1)m.
Đối với số tiền 22.420.000đ các bị can sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 05 bộ bài T9 lơ khơ, 01 tấm chăn các bị can sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị can phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKSDL-P2 ngày 24/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk truy tố các bị cáo Nguyễn Thành T, Huỳnh Tấn C, Phan Thanh T2, Trịnh Minh B, Võ Công D1, Trần H2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, nhận thấy sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Kiểm sát viên luận tội và đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ nội dung Cáo trạng, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành T, Huỳnh Tấn C, Phan Thanh T2, Trịnh Minh B, Võ Công D1, Trần H2 đều phạm tội Đánh bạc. Xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Đề nghị áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Các bị cáo Nguyễn Thành T, Huỳnh Tấn C, Phan Thanh T2, Trịnh Minh B, Võ Công D1, Trần H2 mỗi bị cáo từ 06 – 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến một năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung các bị cáo từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ.
Về vật chứng: 05 bộ bài tú lơ khơ, 01 cái chăn là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Số tiền 22.420.000đ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, VKSND, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 ngày 30/7/2025, tại nhà của bà Lê Thị Đ ở thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Thành T cùng với Võ Công D1, Huỳnh Tấn C, Phan Thanh T2, Trịnh Minh B, Trần H2 rủ nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền, với hình thức đánh bài tố sử dụng bộ bài tú lơ khơ chuẩn 52 lá; thỏa thuận với nhau ai thắng được ván bạc nào trên 200.000đ thì trích ra số tiền 20.000đ đóng xâu, mục đích khi kết thúc buổi đánh bạc sử dụng số tiền xâu được này để cả nhóm mua bia, mồi tiếp tục nhậu.
Đến 17 giờ cùng ngày, trong lúc tất cả đang đánh bạc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 22.420.000đ, tại vị trí của Nguyễn Thành T số tiền là 4.600.000đ, vị trí của Võ Công D1 số tiền 1.200.000đ, vị trí của Huỳnh Tấn C số tiền 5.600.000đ, vị trí của Phan Thanh T2 số tiền 3.500.000đ, vị trí của Trịnh Minh B số tiền 3.500.000đ, vị trí của Trần H2 số tiền 3.500.000đ và số tiền xâu 520.000đ; và một số dụng cụ dùng để đánh bạc.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thành T, Huỳnh Tấn C, Phan Thanh T2, Trịnh Minh B, Võ Công D1, Trần H2 là nguy hiểm, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 07/CT-VKSDL–P2 ngày 24/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đối với bà Lê Thị Đ là chủ nhà, không biết con trai là Nguyễn Thành T sử dụng nhà để đánh bạc, không hưởng lợi vật chất từ việc đánh bạc nên không có dấu hiệu tội phạm.
[4] Xét tính chất, mức độ phạm tội, vai trò đồng phạm, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:
[4.1] Đối với Nguyễn Thành T: Bị cáo T là người sử dụng địa điểm của mình đang ở nhờ (của bà Lê Thị Đ) và sử dụng các dụng cụ có sẵn tại nhà gồm mền, bài tú lơ khơ để cả nhóm đánh bạc; trực tiếp dùng số tiền 3.000.000đ để tham gia đánh bạc; tại thời điểm bắt quả tang thắng được số tiền 1.600.000đ, thu giữ 4.600.000đ. Tính chất phạm tội của bị cáo T là cao hơn các bị cáo còn lại.
[4.2] Các bị cáo Võ Công D1, Huỳnh Tấn C, Phan Thanh T2, Trịnh Minh B, Trần H2 cùng tham gia đánh bạc với T với số tiền của mỗi bị cáo dùng để đánh bạc từ 2.500.000đ đến 4.500.000đ, cụ thể theo thứ tự từ cao đến thấp như sau:
- Công: Khoảng 4.500.000đ (thu giữ tại chiếu bạc 5.600.000đ);
- Dịu: Khoảng 4.000.000đ (thu giữ tại chiếu bạc là 1.200.000đ);
- B: Khoảng 3.400.000đ (thu giữ tại chiếu bạc 3.500.000đ);
- H2: Khoảng 3.000.000đ (thu giữ tại chiếu bạc 3.500.000đ);
- T2: Khoảng 2.500.000đ (thu giữ tại chiếu bạc 3.500.000đ).
[4.3] Xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng và đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.
[5] Quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử phân hóa theo tính chất, mức độ phạm tội và số tiền mà từng bị cáo sử dụng để đánh bạc theo mức độ từ cao đến thấp như sau:
Bị cáo T: Áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt; áp dụng thêm Điều 65 BLHS, cho bị cáo hưởng án treo và phạt bổ sung bằng hình phạt tiền mức khởi điểm;
Bị cáo C: Tính chất phạm tội của bị cáo thấp hơn bị cáo T nhưng số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc là lớn nhất nên vai trò phạm tội của bị cáo thấp hơn T nhưng cao hơn các bị cáo còn lại. Áp dụng hình phạt tù có thời hạn mức khởi điểm của khung hình phạt; áp dụng thêm Điều 65 BLHS, cho bị cáo hưởng án treo và phạt bổ sung bằng hình phạt tiền mức khởi điểm;
Đối với các bị cáo D1, B: Tính chất phạm tội của bị cáo D1, B thấp hơn bị cáo T và vai trò phạm tội thấp hơn bị cáo C. Áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo D1, B, mức phạt đối với D1 cao hơn B; áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền mức khởi điểm. Khấu trừ thu nhập của mỗi bị cáo D1, B trong thời gian cải tạo không giam giữ mỗi tháng 500.000 đồng nộp sung ngân sách nhà nước.
Đối với các bị cáo H2, T2: Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo H2, T2 thấp hơn các bị cáo khác nên áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo H2, T2; mức phạt tiền áp dụng đối với H2 cao hơn T2.
[6] Về vật chứng: 05 bộ bài tú lơ khơ, 01 cái chăn là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Số tiền 22.420.000đ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào:
- - Khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 47, 50, 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Thành T, Huỳnh Tấn C;
- - Khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các điều 36, 47, 50, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Võ Công D1, Trịnh Minh B;
- - Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các điều 35, 47, 50, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Trần H2, Phan Thanh T2;
- - Các điều 106, 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành T, Võ Công D1, Huỳnh Tấn C, Phan Thanh T2, Trịnh Minh B, Trần H2 đều phạm tội Đánh bạc; xử phạt:
[2.1] Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 07 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Giao bị cáo Nguyễn Thành T cho UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Thành T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
“Trong thời gian thử thách, nếu người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo".
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
[2.2] Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn C 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung: 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Giao bị cáo Huỳnh Tấn C cho UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Huỳnh Tấn C có trách nhiệm phối hợp với UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
“Trong thời gian thử thách, nếu người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo".
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
[2.3] Xử phạt bị cáo Võ Công D1 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ; được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 08/8/2025. Phạt bổ sung: 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Võ Công D1 cho UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Võ Công D1 có trách nhiệm phối hợp với UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian chấp hành án, khấu trừ thu nhập của bị cáo Võ Công D1 mỗi tháng 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) nộp sung ngân sách nhà nước.
[2.4] Xử phạt bị cáo Trịnh Minh B 01 (một) năm cải tạo không giam giữ; được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31/7/2025 đến ngày 08/8/2025. Phạt bổ sung: 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trịnh Minh B cho UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Trịnh Minh B có trách nhiệm phối hợp với UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian chấp hành án, khấu trừ thu nhập của bị cáo Trịnh Minh B mỗi tháng 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) nộp sung ngân sách nhà nước.
[2.5] Xử phạt bị cáo Trần Hải 4 (Bốn mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
[2.6] Xử phạt bị cáo Phan Thanh T2 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 05 bộ bài tú lơ khơ và 01 cái mền có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ và Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 22.420.000đ (Hai mươi hai triệu bốn trăn nghìn đồng) có tại Giấy ủy nhiệm chi ngày 28/10/2025 vào tài khoản Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[4] Về án phí: Mỗi bị cáo Nguyễn Thành T, Võ Công D1, Huỳnh Tấn C, Phan Thanh T2, Trịnh Minh B, Trần H2 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lý Thơ Hiền |
Bản án số 167/2025/HSST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 167/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên xử Nguyễn Thành Tâm và đồng phạm tội Đánh bạc
