Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2025/HS-ST

Ngày: 25/12/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Thẩm phán: Ông Võ Văn Lịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Xuân Vinh
  2. Ông Lưu Kim Oai
  3. Ông Ngô Quang Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Danh Tường Vi- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Thiện T, sinh ngày 19/12/1996 tại T - An Giang. Nơi ĐKTT: ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang); C ở hiện nay: khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1976; Anh, chị,em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; Vợ tên Phạm Hồng L, sinh năm 1989 (không có đăng ký kết hôn); Con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 31/3/2023 bị Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 15.000.000 đồng về hành vi “Chiếm đất phi nông nghiệp”, đến nay chưa nộp phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh A.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1976; nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang)

Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Luật sư Bùi Hảo T2 – Đoàn luật sư tỉnh K.

- Người bị hại: Ông Phạm Hữu N (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1974 (có mặt);
  2. Bà Trần Thị L1, sinh năm 1976 (có mặt).

Cùng địa chỉ: ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố C, đặc khu P, tỉnh An Giang).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Thành Đ1, sinh năm 1989 (có mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (nay là khu phố B, đặc khu P, tỉnh An Giang)

  1. Ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh kiên Giang. (nay là khu phố B D, đặc khu P, tỉnh An Giang)

  1. Bùi Ngọc N1, sinh năm 1991 (có mặt)

Địa chỉ: khu phố B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố B, đặc khu P, tỉnh An Giang)

  1. Bà Phạm Hồng L, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (nay là khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang)

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Quốc T4, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (nay là khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang)

  1. Ông Đặng Thành Tân K, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (nay là khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

2

Năm 2019, Phạm Hồng L nợ Bùi Ngọc N1 146.000.000 đồng, L hứa hẹn mỗi tháng sẽ trả cho N1 3 triệu đồng, nhưng đến tháng 5/2024, L chỉ trả cho N1 1.500.000 đồng, 1.500.000 đồng còn lại hẹn sẽ trả vào ngày 01/6/2024.

Đến khoảng hơn 17 giờ ngày 01/6/2024, N1 đến tiệm T7 của Phạm Hồng L, địa chỉ khu phố A, đặc khu P, tỉnh An Giang để đòi tiền, nhưng do chưa đủ tiền nên giữa N1 và L xảy ra chửi nhau. Lúc này, Nguyễn Văn Thiện T (sống chung với L như vợ chồng) từ trên gác đi xuống nhìn thấy nên đã chửi N1, hai người thách thức đánh nhau. Sau đó, T dùng tay đánh N1 trúng vào người, đầu nhiều cái, N1 dùng nón bảo hiểm đánh lại T, thì L đến can ngăn. Khi bị đánh, N1 đi ra ngoài vẫn còn chửi T, T đã lấy cây dao xếp mang ra dọa rạch mặt của N1, nhưng được Liên can ngăn, kéo T vào trong nhà. Nhớ ngồi bên đường gần tiệm tạp hóa của L gọi điện cho chồng là Lê Thành Đ1 kể lại sự việc bị T đánh cho Đ1 nghe, Đ1 đang uống cà phê cùng với Nguyễn Thanh T3 và Phạm Hữu N nên Đ1 đã rủ N, T3 cùng đi đến nhà của T để xem sự việc thế nào thì tất cả đồng ý. T3 dùng xe ô tô hiệu Xphander, biển số 68A-315.08 (do ông Cao Thanh H1 chủ sở hữu, cho T3 mượn) chở Đ1, N đi và khi xe chạy đến còn cách nhà của L khoảng 30m, thấy N1 đang ngồi dưới lộ, T3 dừng xe lại, N, Đ1 xuống xe, lấy cây gỗ dùng để kiện gạch trong lề đường mỗi người cầm 02 cây trên tay, chạy đến tiệm tạp hóa của L, còn T3 dừng xe lại xuống xe đi bộ lại tiệm tạp hóa của L. Khi Đ1, N đến tiệm tạp hóa do không nhìn thấy T nên N, Đ1 dùng cây đang cầm trên tay dọa đánh L, Đ1 hỏi “Thằng nào đánh vợ tao”, cùng lúc T3 cũng đi tới, nhìn vào trong nhà thấy T đứng phía bên trong nhà; Đ1, N nhìn thấy T nên cùng nhau xông vào dùng cây gỗ đánh trúng vào người T; T lấy cây dao bấm xếp đâm liên tiếp 02 nhát vào tay của Đ1, 02 nhát vào vùng bụng của N, thì được ông Đặng Thành Tân K can ngăn ôm đẩy ra. N, Đ1 bỏ chạy ra ngoài. T3 đi xung quanh tìm được cây búa cầm trên tay để đánh nhau vàkhi nhìn thấy Đ1, N bỏ chạy, T3 cũng ném bỏ cây búa và chạy ra lộ. Thấy N bị thương nặng, Đ1 đã đưa N đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế thành phố P, nhưng N đã chết ngay sau đó. T, Đ1, T3 đến Cơ quan Công an thành phố Phú Quốc đầu thú.

* Căn cứ Kết luận giám định tử thi số 648/KLGÐPYTT-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, kết luận thương tích đối với Phạm Hữu N:

- Các kết quả chính: Khám ngoài.

  • + Vết thương vùng bụng bên trái kích thước 3,5cm x 1,5cm, bờ mép sắc gọn, sâu thủng vào ổ bụng, theo hướng từ dưới lên và chếch sang phải.
  • + Vết thương vùng mạn sườn bên trái kích thước 3cm x 1cm, bờ mép sắc gọn, sâu thủng vào ổ bụng chiều hướng từ dưới lên và chếch sang phải.

- Khám trong:

  • + Đứt xương sườn số 7 và cơ liên sườn 7-8 dài 5,5cm.
  • + Đứt thủng cơ gian sườn 9, 10 bên trái dài 2cm.

3

  • + Khoang màn phổi trái có khoảng 400ml máu loãng.
  • + Đứt thủng cơ hoành bên trái.
  • + 02 vết thương đứt thủng xuyên thấu gan trái.
  • + Đứt bờ dưới gan trái dài 1,5cm.
  • + Tụ máu quanh mặt trong dạ dày.
  • + Dạ dày có 03 vết thương đứt thùy, xuyên thấu lách.
  • + Trong dạ dày có khoảng 4000ml máu loãng và thức ăn.

- Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu cấp do vết thương vùng bụng trái, mạn sườn trái gây đứt thủng gan, lách và dạ dày.

- Vật gây thương tích: Vết thương trên người Phạm Hữu N dẫn đến tử vong có đặc điểm của vết thương do vật sắc nhọn gây nên. (Bút lục số 20-21)

* Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số 410/KL-KTHS, ngày 17/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận thương tích đối với Nguyễn Văn Thiện T:

- Kết quả khám giám định:

  • + Sẹo phần mềm vùng cẳng tay phải (2 vết) và gối phải.
  • + Chấn thương phần mềm vùng cẳng tay trái. Hiện tại, để lại vết biến đổi sắc tố da.
  • + Chấn thương phần mềm vùng nách phải, nách trái, bụng trái và bàn tay trái. Hiện tại, không thấy dấu vết thương tích do đả thương.

- Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Thiện T tại thời điểm giảm định là: 06% (Sáu phần trăm).

Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:

  • - Vùng cẳng tay phải là: 1,99% (Một phẩy chín mươi chín phần trăm).
    • + Vết 1 là 01% (Một phần trăm);
    • + Vết 2 là 01% (Một phần trăm);
  • - Vùng gối phải là: 01% (Một phần trăm).
  • - Vùng cẳng tay trái là: 0,5% (Không phẩy năm phần trăm).
  • - Vùng nách phải là: 0,0% (Không phần trăm).
  • - Vùng nách trái là: 0,0% (Không phần trăm).
  • - Vùng bụng trái là: 0,0% (Không phần trăm).
  • - Vùng bàn tay trái là: 0,0% (Không phần trăm).

4

Vật gây thương tích:

  • - Thương tích ở vùng cẳng tay phải (02 vết) và gối phải do vật tày có cạnh gây nên.
  • - Thương tích vùng cẳng tay trái, nách phải, nách trái, bụng trái và bàn tay trái do vật tày gây nên.(Bút lục số 44-46)

* Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 419/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận thương tích đối với Lê Thành Đ1:

- Kết quả khám giám định:

  • + Sẹo phần mềm vùng cẳng tay phải và cánh tay trái.
  • + Chấn thương phần mềm vùng ngực phải, cánh tay phải, bụng trái (02 vết) và khuỷu tay trái. Hiện tại, còn để lại vết biến đổi sắc tố đa.

- Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thành Đ1 tại thời điểm giám định là: 04% (Bố phần trăm.

Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:

  • - Vùng ngực phải là: 0,5% (Không phẩy năm phần trăm).
  • - Vùng cánh tay phải là: 0,5% (Không phẩy năm phần trăm).
  • - Vùng cẳng tay phải là: 1% (Một phần trăm).
  • - Vùng bụng trái là: 0,99% (Không phẩy chín mươi chín phần trăm).
    • + Vết 1 là: 0,5% (Không phẩy năm phần trăm).
    • + Vết 2 là: 0,5% (Không phẩy năm phần trăm).
  • - Vùng cánh tay trái là: 1% (Một phần trăm).
  • - Vùng khuỷu tay trái là 0,5% (Không phẩy năm phần trăm).

Vật gây thương tích:

  • - Thương tích ở vùng ngực phải, cẳng tay phải, bụng trái (02 vết) và cánh tay trái do vật có cạnh sắc gây nên.
  • - Thương tích ở vùng cánh tay phải do vật có góc cạnh gây nên.
  • - Thương tích ở vùng khuỷu tay trái do vật tày gây nên.(Bút lục số 52-54)

5

* Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 421/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận thương tích đối với Phạm Hồng L:

- Kết quả khám giám định:

  • + Sẹo phần mềm vùng cẳng tay phải (2 vết) và gối phải.
  • + Chấn thương phần mềm vùng cẳng tay trái. Hiện tại, để lại vết biến đổi sắc tố da.
  • + Chấn thương phần mềm vùng nách phải, nách trái, bụng trái và bàn tay trái. Hiện tại, không thấy dấu vết thương tích do đã thương.

- Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Hồng L tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm).

Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:

  • - Vùng cẳng tay phải là: 1,99% (Một phẩy chín mươi chín phần trăm).
    • + Vết 1 là 01% (Một phần trăm);
    • + Vết 2 là 01% (Một phần trăm);
  • - Vùng gối phải là: 01% (Một phần trăm).
  • - Vùng cẳng tay trái là: 0,5% (Không phẩy năm phần trăm).
  • - Vùng nách phải là: 0,0% (Không phần trăm).
  • - Vùng nách trái là: 0,0% (Không phần trăm).
  • - Vùng bụng trái là: 0,0% (Không phần trăm).
  • - Vùng bàn tay trái là: 0,0% (Không phần trăm).

Vật gây thương tích:

  • - Thương tích ở vùng cẳng tay phải (02 vết) và gối phải do vật tày có cạnh gây nên.
  • - Thương tích vùng cẳng tay trái, nách phải, nách trái, bụng trái và bàn tay trái do vật tày gây nên.(Bút lục số 48-50)

6

* Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 420/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận thương tích đối với Bùi Ngọc N1:

- Kết quả khám giám định:

  • + Chấn thương phần mềm vùng chẩm trái, trán, cánh tay trái và bàn tay trái. Hiện tại, không thấy dấu vết thương tích do đả thương.
  • + Sẹo phần mềm vùng cẳng tay trái và cẳng chân trái.

- Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Ngọc N1 tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm).

Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:

  • - Vùng chẩm trái là: 00% (Không phần trăm).
  • - Vùng trán là: 00% (Không phần trăm).
  • - Vùng cánh tay trái là: 00% (Không phần trăm).
  • - Vùng cẳng tay trái là: 1% (Một phần trăm).
  • - Vùng bàn tay trái là: 0,0% (Không phần trăm).
  • - Vùng cẳng chân trái là: 2% (Hai phần trăm).

Vật gây thương tích:

  • - Thương tích ở vùng cẳng tay trái và cẳng chân trái do vật tày có góc cạnh gây nên.
  • - Thương tích ở vùng chẩm trái, trán, cẳng tay trái do vật tày gây nên.(Bút lục số 56-58)

* Căn cứ Kết luận giám định AND số: 4537/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

Trên con dao gửi giám định có AND của Phạm Hữu N; không phát hiện AND của Lê Thành Đ1 trên con dao. (Bút lục số 63)

* Căn Cứ Kết luận giám định số 437/KL-GĐ ngày 31/10/2024 và Công văn số 437.1/PYTTTNB ngày 31/10/2024 của Trung tâm P kết luận tình trạng tâm thần của Nguyễn Văn Thiện T:

- Kết luận theo tiêu chuẩn y học:

  • + Trước, trong thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 01/6/2024; Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm (F41.2-ICD10), giai đoạn ổn định.
  • + Hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm (F41.2-ICD10), giai đoạn bệnh tiến triển.

- Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:

  • + Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 01/6/2024: Đương sự đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do giai đoạn bệnh ổn định.
  • + Hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do giai đoạn bệnh tiến triển.

- Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 01/6/2024 và hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự. (Bút lúc số 25 - 27)

Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn Thiện T thành khẩn khai báo nhận tội, phù hợp lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

7

* Vật chứng thu giữ: 01 cây dao kim loại dạng gấp có cán dao bằng kim loại ốp nhựa hai bên kích thước 13cm x 3cm; 01 búa cán gỗ kích thước 4cm x 3cm dài 30cm; 01 đoạn gỗ kích thước 4cm x 3cm, dài 65cm; 01 đoạn gỗ kích thước 5cm x 3cm, dài 105cm; 01 đoạn gỗ kích thước 7cm x 1,3cm, dài 99cm; 01 đoạn gỗ kích thước 4cm x 3cm, dài 80cm và các vật chứng khác có liên quan.

* Phần trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Văn Đ và bà Trần Thị L1 (cha, mẹ Phạm Hữu N) yêu cầu Nguyễn Văn T5 T bồi thường tiền chi phí mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần tổng cộng 160.000.000 đồng. Bà Phạm Hồng L đại diện cho T đã bồi thường được số tiền 50.000.000 đồng. Lê Thành Đ1, Bùi Ngọc N1 không yêu Nguyễn Văn Thiện T bồi thường trách nhiệm dân sự. Nguyễn Văn Thiện T không yêu cầu Lê Thành Đ1, Nguyễn Thanh T3 bồi thường trách nhiệm dân sự.

Tại Cáo trạng số: 34/CT-VKSAG-P2 ngày 11 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Văn T5 T về tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện Kiểm sát tỉnh An Giang phát biểu quan điểm luận tội và tranh luận: Từ mâu thuẫn trước giữa Nguyễn Văn Thiện T với Phạm Hồng L, dẫn đến việc Lê Thành Đ1, Nguyễn Thanh T3 và Phạm Hữu N cầm cây xông vào nhà tìm đánh T. Do không kiềm chế được T đã lấy cây dao bấm xếp đâm trúng vào tay của Đ1 và đâm 02 nhát vào bụng của N. Hậu quả làm cho Phạm Hữu N tử vong do đứt thủng gan, lách và dạ dày.

Trên cơ sở tài liệu chứng cứ thu thập được, Viện Kiểm sát có đủ cơ sở giữ nguyên Cáo trạng truy tố tại phiên tòa. Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T5 T phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm e, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 07 đến 09 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Văn Đ và bà Trần Thị L1 (cha, mẹ Phạm Hữu N) yêu cầu Nguyễn Văn T5 T bồi thường tiền chi phí mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần tổng cộng 160.000.000 đồng. Bà Phạm Hồng L đại diện cho T đã bồi thường được số tiền 50.000.000 đồng. Lê Thành Đ1, Bùi Ngọc N1 không yêu Nguyễn Văn Thiện T bồi thường trách nhiệm dân sự. Nguyễn Văn Thiện T không yêu cầu Lê Thành Đ1, Nguyễn Thanh T3 bồi thường trách nhiệm dân sự. Đề nghị buộc bị cáo tiếp tục bồi thường phần còn lại theo yêu cầu của đại diện bị hại.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất truy tố của Viện Kiểm sát về tội danh và các tình tiết áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị xem xét tình trạng tâm thần của bị cáo tiến triễn nặng lên, bị cáo gây án cũng do nhất thời bị phía bên bị hại xông vào đánh cho nên cần xem xét xử bị cáo mức án nhẹ để tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về lo chữa bệnh.

Ý kiến đại diện bị hại: Gia đình đã nhận được 50.000.000 đồng tiền bồi thường, còn lại 110.000.000 đồng đề nghị buộc bị cáo tiếp tục bồi thường như thỏa thuận và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

8

Ý kiến đại diện hợp pháp cho bị cáo (mẹ ruột bị cáo): Bị cáo có bệnh tâm thần không ổn định từ nhỏ, do di truyền. Bản thân bị cáo không có tài sản gì, đi làm thuê kiếm sống bên ngoài. Gia đình bà cũng rất nghèo, không có đất đai, tài sản gì, làm thuê không đủ sống nên hoàn toàn không có khả năng để bồi thường. Xin Tòa xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin được về đi kiếm tiền bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T5 T thừa nhận, sau khi xảy ra cự cải với bà L bị cáo đã vào nhà nghỉ nhưng những người bên bà L cầm theo cây xông vào đánh bị cáo nên bị cáo mới cầm dao chống trả và đâm N. Nghe nói N chết, bị cáo bị bắt cho đến nay.

[3] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ, lời người làm chứng và đoạn video thu giữ tại hiện trường vụ án. Kết luận giám định của phòng K1 Công an tỉnh K xác định, bị hại Phạm Hữu N có 02 vết thương ở vùng bụng, nguyên nhân tử vong, sốc mất máu cấp do vết thương vùng bụng trái, mạn sườn trái gây đứt thủng gan, lách và dạ dày. Hung khí là dao cán xếp thu giữ của bị cáo, giám định có dính máu của nạn nhân.

Với việc không kiềm chế được trước hành động trái pháp luật của nạn nhân, bị cáo Nguyễn Văn Thiện T đã dùng dao cán xếp dâm chết bị hại Nguyễn Hữu N2 như trên là đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự nước C2 năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngoài ra, trong vụ án còn có thương tích của bị cáo T 06% do Đ1 và N2 đánh trúng; thương tích của Lê Thành Đ1 04% do T đâm trúng; thương tích của Bùi Ngọc N1 03% do T gây ra ban đầu; thương tích của Phạm Hồng L03% chưa xác định được người nào đánh trúng. Xét các thương tích đều cấu thành theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và tại giai đoạn điều tra, những người này đều có đơn tự nguyện xin rút yêu cầu khởi tố, không xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường

9

gì nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 155 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác. Xét về nguyên nhân phạm tội của bị cáo tại thời điểm gây án thì một phần phía bên bị hại là người có lỗi trước, đồng thời tình trạng tinh thần của bị cáo do bệnh tiến triển nặng làm hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi gây ra. Tuy nhiên, từ diễn biến việc phạm tội, thì bị cáo cũng có sự hung hăn, có chủ ý sử dụng dao để đe dọa tính mạng người khác. Ngay khi phía bị hại xông vào nhà đánh, bị cáo đã lựa chọn cách thức giải quyết bằng bạo lực, lấy dao đâm chết bị hại.

Xét bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nên việc truy tố và xét xử là phù hợp. Sau khi phạm tội, bị cáo ăn năn hối cải, nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, từ đó cần xem xét quyết định cho bị cáo một mức án tương xứng, cách ly bị cáo để cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có 01 tiền sự về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (chưa nộp phạt).

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội do bị kích động từ hành vi trái pháp luật của nạn nhân; bị cáo là người bị hạn chế về mặt nhận thức; tác động người thân bồi thường được 50.000.000 đồng và được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, e, q, s khoản 1, 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

[6] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đề nghị là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.

[7] Về quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và đề nghị các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp.

[8] Về ý kiến người bị hại: Yêu cầu bị cáo bồi thường là phù hợp.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường số tiền còn lại như đã thống nhất tại giai đoạn điều tra bằng 110.000.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại.

[10] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phương tiện gây án.

[11] Đối với những vấn đề khác của vụ án: Việc Lê Thành T6 và Nguyễn Thanh T3 đi cùng nghĩa vào đánh nhau với bị cáo diễn ra rất nhanh ở nơi vắng người nên không bị xem xét xử lý về hành vi gây rối là phù hợp. Đối với tài sản

10

của bà L bị hư hỏng do đánh nhau qua thống kê khoản 1.000.000 đồng, bà L không yêu cầu bồi thường gì trong vụ án nên không xem xét.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 123, điểm b, e, q, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T5 T phạm tội “Giết người”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5 T 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02 tháng 06 năm 2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 591 Bộ luật dân sự

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Thiện T có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường số tiền còn lại bằng 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng) cho đại diện hợp pháp của bị hại ông Phạm Văn Đ và bà Trần Thị L1.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao kim loại dạng gấp có cán dao bằng kim loại ốp nhựa hai bên kích thước 13cm x 3cm; 01 búa cán gỗ kích thước 4cm x 3cm dài 30cm; 01 đoạn gỗ kích thước 4cm x 3cm, dài 65cm; 01 đoạn gỗ kích thước 5cm x 3cm, dài 105cm; 01 đoạn gỗ kích thước 7cm x 1,3cm, dài 99cm; 01 đoạn gỗ kích thước 4cm x 3cm, dài 80cm.

(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số: 46/QĐ-VKSKG-P2 ngày 23 tháng 6 năm 2025.

4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng

11

án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn Thiện T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm bằng 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/12/2025).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - Viện CT và KSXXPT tại Tp.HCM (1);
  • - Tòa phúc thẩm TANDTC tại Tp.HCM (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (1);
  • - Cơ quan điều tra tỉnh An Giang (1);
  • - Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh An Giang;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh AG (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Đại diện bị hại (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Diệu Hiền

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 165/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Thiện Tâm bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang truy tố về tội tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger