|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI Bản án số: 165/2025/DS-PT Ngày 30/9/2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
Các Thẩm phán:
Ông Trương Nam Trung;
Ông Lê Văn Duy
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Liên, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Lê Thị Vân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 166/2025/TLPT-DS ngày 15/7/2025 về việc " Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2025/DS-ST ngày 10/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn N; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Trần Định K; địa chỉ: thôn Q, xã T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn H; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Trần Thị Tuyết M; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- 3.2. Bà Lê Thị Thanh N1; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- 3.3. Cụ Trần Văn B; thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.4. Bà Trần Thị Lệ S (chết năm 2023);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà S:
- 3.4.1. Anh Châu Xuân T; địa chỉ: thôn A, xã E, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.
- 3.4.2. Anh Châu Xuân T1; địa chỉ: thôn L, xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.4.3. Anh Châu Xuân T2; địa chỉ: thôn L, xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.4.4. Anh Châu Xuân T3; địa chỉ: thôn L, xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.5. Ông Trần Văn S1; địa chỉ: thôn C, xã E, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.
- 3.6. Bà Trần Thị T4; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- 3.7. Ông Trần Văn C; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.8. Bà Trần Thị Lệ H1; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.9. Bà Trần Thị Lệ H2; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.10. Bà Trần Thị S2; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.11. Ông Lê Minh Đ; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 3.12. Bà Trần Thị Đ1; địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- 3.13. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- 4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Văn N và bị đơn ông Trần Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Trần Văn N trình bày:
Cha, mẹ của ông là cụ Trần Văn B và cụ Đặng Thị P có 10 người con gồm Trần Thị Lệ S, Trần Thị S3, Trần Văn S1, Trần Văn S4, Trần Thị L, Trần Văn N, Trần Thị S2, Trần Thị C1, Trần Văn H, Trần Thị Đ1. Cha ông hiện còn sống, mẹ ông chết năm 2009. Trước khi chết, mẹ ông không để lại di chúc. Bà S3, bà L, bà C1 chết từ lúc còn nhỏ không có chồng con gì. Ông Trần Văn S4 chết vào năm 1994; ông S4 có vợ là bà Trần Thị T4 và có 03 con chung gồm ông Trần Văn C, bà Trần Thị Lệ H1, bà Trần Thị Lệ H2.
Nguồn gốc thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (cũ) trước đây là thửa đất số 1073, tờ bản đồ số 21 do cha, mẹ ông khai hoang đất gò trước năm 1975. Đến năm 1988 ông kết hôn với bà Trần Thị Tuyết M nên được cha, mẹ tặng cho vợ chồng ông sử dụng thửa đất trên. Trong thời gian sử dụng đất, vợ chồng ông đã xây dựng một ngôi nhà tạm trên thửa đất, nộp thuế cho Nhà nước hàng năm và đã lấn đất bồi trúc tăng thêm diện tích đất ban đầu. Năm 1993, ông đăng ký kê khai sử dụng thửa đất trên tại Ủy ban nhân dân xã P với diện tích 200m² đất ở và sử dụng đất đến năm 1997, vì kinh tế khó khăn nên vợ chồng ông tạm giao thửa đất trên lại cho cha mẹ quản lý. Trong thời gian cha mẹ ông quản lý thửa đất trên, vợ chồng ông Trần Văn H, bà Lê Thị Thanh N1 tự ý xây dựng ngôi nhà cấp 4 và các công trình trên đất. Từ trước đến nay vợ chồng ông chưa chuyển quyền sử dụng thửa đất trên lại cho ai khác sử dụng. Việc cha ông và các anh chị em cho rằng vợ chồng ông đã chuyển nhượng thửa đất trên lại cho cha mẹ với giá 12 chỉ vàng 24k là không đúng. Vào năm 1997, ông có chuyển nhượng cho cha mẹ một phần đất tiếp giáp với thửa đất 1073, tờ bản đồ số 21 nhưng phần diện tích đất này do vợ chồng ông lấn chiếm thêm giá 08 chỉ vàng 24k; hiện nay phần diện tích đất này cha mẹ ông đã tặng cho vợ chồng ông Lê Minh Đ, bà Trần Thị S2 sử dụng. Năm 2019, ông có nhu cầu sử dụng thửa đất trên để xây dựng nhà ở nên ông yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 trả lại thửa đất trên cho vợ chồng ông nhưng vợ chồng ông H, bà N1 không đồng ý.
Tại đơn khởi kiện và lời khai trước đây ông yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 có nghĩa vụ trả lại cho vợ chồng ông toàn bộ thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29, diện tích 200m² đất ở; vợ chồng ông đồng ý thanh toán giá trị ngôi nhà và các tài sản khác cho vợ chồng ông H, bà N1 theo giá trị mà Hội đồng định giá đã định giá. Tại phiên tòa ngày 17/8/2022, ông yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 có nghĩa vụ tháo dỡ nhà tạm bằng tôn, chuồng heo để trả lại cho vợ chồng ông sử dụng một phần thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29, diện tích 99,2m² đất ở nằm phía Tây của thửa đất. Ông đồng ý giao cho vợ chồng ông H, bà N1 được quyền sử dụng một phần thửa đất trên với diện tích 100,8m² đất ở nằm phía đông của thửa đất; ông không yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 thanh toán lại giá trị diện tích đất trên. Ông không tranh chấp, yêu cầu gì đối với phần diện tích đất tiếp giáp với thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29 mà vợ chồng ông H, bà N1 đã lấn chiếm đất của Ủy ban nhân dân xã P quản lý. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 trả lại giá trị quyền sử dụng đất mà hiện nay ông H bà N1 đã xây dựng nhà ở trên thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29, địa chỉ thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông. Đối với phần vợ chồng ông H, bà N1 đã làm mái che thì yêu cầu trả lại bằng hiện vật.
* Bị đơn ông Trần Văn H trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của ông Trần Văn N về mối quan hệ gia đình, nguồn gốc thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29. Năm 1988 cha mẹ tặng cho cho vợ chồng ông N, bà M sử dụng thửa đất trên. Vợ chồng ông N, bà M xây dựng một ngôi nhà tạm trên thửa đất và ở đến năm 1995 thì chuyển lên tỉnh Đắk Lắk để làm ăn, sinh sống nên đã chuyển nhượng lại thửa đất này cho cha mẹ ông với giá 12 chỉ vàng 24k. Cha mẹ ông đã trả cho vợ chồng ông N, bà M 02 đợt, đợt 01 trả 06 chỉ vàng 24k, đợt 02 trả 02 chỉ vàng 24k, tổng cộng là 08 chỉ vàng 24k, còn nợ lại 04 chỉ 24k. Vào năm 2003 cha mẹ ông tặng cho vợ chồng bà Trần Thị S2, ông Lê Minh Đ một phần diện tích thửa đất ở phía đông. Đến năm 2004, ông kết hôn với bà Lê Thị Thanh N1 nên cha mẹ tặng cho vợ chồng ông phần diện tích thửa đất còn lại mà hiện nay vợ chồng ông đang sử dụng. Vào năm 2005 vợ chồng ông đã xây dựng ngôi nhà cấp 4 trên đất, đến năm 2013 vợ chồng ông tiếp tục xây dựng ngôi nhà phía trước như hiện nay. Trong thời gian sử dụng đất thì vợ chồng ông có đổ đất trên phần đất ruộng của Ủy ban nhân dân xã P quản lý tiếp giáp phía nam của thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29.
Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông N, bà M. Ông yêu cầu Toà án công nhận cho vợ chồng ông được quyền sử dụng toàn bộ diện tích thửa đất trên theo quy định của pháp luật; vợ chồng ông đồng ý thanh toán lại giá trị phần đất mái tole trên cho vợ chồng ông N, bà M theo giá Hội đồng định giá đã định giá. Đối với phần đất có nhà thì ông yêu cầu công nhận cho vợ chồng ông vì cha mẹ đã cho vợ chồng ông và khi vợ chồng ông làm nhà, ông N đều biết nhưng không có ý kiến gì. Ông không tranh chấp, yêu cầu gì đối với phần diện tích đất tiếp giáp với thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29 mà vợ chồng ông đã lấn chiếm của Ủy ban nhân dân xã P.
* Bà Trần Thị Tuyết M trình bày: Bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của chồng bà là ông Trần Văn N.
* Bà Lê Thị Thanh N1 trình bày: Bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của chồng bà là ông Trần Văn H.
* Ông Trần Văn B trình bày: Ông là cha ruột của ông Trần Văn N và ông Trần Văn H. Vợ của ông là bà Đặng Thị P chết năm 2009, không để lại di chúc. Vào khoảng năm 1973, vì nhà đất ở trong xóm chật hẹp nên vợ chồng ông có đến Gò mả, nơi vợ chồng ông được chế độ cũ khoáng ruộng 5% ở đội A, thôn K, xã P, huyện T bồi trúc đất thêm để xây dựng chuồng bò, chăn nuôi bò. Trong quá trình sử dụng đất, vợ chồng ông đã khai hoang và lấn sang phía Đông của thửa đất. Đến năm 1988, ông N lập gia đình, cần chỗ ở riêng để làm ăn, sinh sống nên vợ chồng ông tặng cho phần đất lấn chiếm Gò mả nói trên cho vợ chồng ông N, bà M. Vợ chồng ông N, bà M có xây dựng một ngôi nhà tạm trên thửa đất này. Trong quá trình sinh sống ông N, bà M tiếp tục đổ đất, lấn chiếm mở rộng thêm diện tích đất, ngoài diện tích đất mà vợ chồng ông đã tặng cho. Năm 1995 vì kinh tế khó khăn nên vợ chồng ông N, bà M kêu người bán thửa đất trên để đi lập nghiệp, làm ăn ở Đ với giá 12 chỉ vàng. Khi đó vợ của ông mới bán hai con bò được 06 chỉ vàng và thêm vào 02 chỉ vàng nữa tổng cộng là 08 chỉ vàng để đưa cho vợ chồng ông N, bà M. Vì cha con nên hai bên không có viết giấy tờ gì. Đến khoảng năm 2001 vợ chồng ông cho vợ chồng ông Đ, bà S2 đến ở nhờ trong ngôi nhà của ông N để lại. Sau khi vợ chồng ông Đ, bà S2 về ở thì vợ chồng ông Đ, bà S2 đã đổ đất lấn qua hướng đông giáp đường bê tông liên xóm. Đến năm 2004 vợ chồng ông Đ, bà S2 đã xây dựng nhà trên phần đất của ông N để lại khoảng 60m² và phần đất mà ông Đ, bà S2 lấn chiếm. Đến khoảng năm 2005 thì ông Trần Văn H có vợ nên vợ chồng ông cho phần diện tích đất còn lại cho vợ chồng ông H, bà N1 ở. Vợ chồng ông H, bà N1 cũng đổ đất lấn chiếm ruộng rau muống theo hướng Nam ra giáp đường bê tông liên xóm. Đến khoảng năm 2013 vợ chồng ông H, bà N1 xây dựng ngôi nhà trên phần đất vợ chồng ông H, bà N1 lấn chiếm và một phần đất vợ chồng ông cho trước đây mà vợ chồng ông đã mua của ông N. Khi ông H xây nhà thì ông N có về phụ giúp ông H xây nhà, như đóng cửa và đóng cầu thang, vì ông N là thợ mộc. Đến năm 2019 không biết vì lý do gì ông N về đòi lại đất. Nay ông N, bà M yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 trả lại đất thì ông có ý kiến như sau: Phần đất trước đây ông mua lại của ông N, bà M hiện nay còn trống khoảng 150m² phía sau nhà ông H; ông tự nguyện cho ông H ½ khoảng 75m² và ông N ½ khoảng 75m². Phần nhà ông H cất trên phần đất trước đây vợ chồng ông mua lại của ông N, bà M là thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông H, bà N1 vì khi vợ ông còn sống vợ chồng ông đã tặng cho cho ông H, bà N1. Ngoài ra ông không trình bày và yêu cầu gì thêm.
* Bà Trần Thị Lệ S, ông Trần Văn S1 trình bày: Ông, bà thống nhất về quan hệ gia đình, nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất đang tranh chấp như ông B trình bày. Nay ông N, bà M yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 trả lại đất thì ông, bà có ý kiến như sau: Phần đất 200m² mà trước đây ông N, bà M bán cho cha mẹ với giá 12 chỉ vàng, nhưng khi đó cha mẹ mới chỉ đưa 08 chỉ vàng, tương ứng với 2/3 giá trị thửa đất nên phần đất 200m² sẽ chia làm 03 phần, cha mẹ 02 phần, ông N, bà M 01 phần, nên phần của cha mẹ được khoảng 133,3m², còn phần vợ chồng ông N được khoảng 66,7m² nên vợ chồng ông H, bà N1 sẽ giao trả lại cho ông N, bà M diện tích 66,7m² đất; phần còn lại 133,3m² trước đây cha mẹ đã cho ông H và bà S2 thì giao cho ông H và bà S2 quản lý, sử dụng. Tại phiên toà ngày 17 tháng 8 năm 2022, bà S, ông S1 thay đổi toàn bộ nội dung ý kiến trên, yêu cầu giao toàn bộ diện tích đất mà cha mẹ đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông N cho vợ chồng ông H và vợ chồng bà S2 sử dụng. Ông, bà không tranh chấp, yêu cầu gì đối với thửa đất trên.
* Bà Trần Thị T4 trình bày: Chồng bà là ông Trần Văn S4. Bà thống nhất về mối quan hệ gia đình bên phía chồng như ông Trần Văn N đã trình bày. Vợ chồng bà sinh được 03 người con chung gồm ông Trần Văn C, bà Trần Thị Lệ H1, bà Trần Thị Lệ H2. Ngoài ra vợ chồng bà không còn con riêng hay con nuôi nào khác. Chồng bà chết vào năm 1994, trước khi chết không để lại di chúc. Nay bà thống nhất với toàn bộ ý kiến của cha chồng là ông Trần Văn B, giao cho vợ chồng ông N, bà M sử dụng diện tích 75m² đất và giao cho vợ chồng ông H, bà N1 sử dụng diện tích 75m² đất. Các con của bà đều đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án nhưng các con bà đều cho rằng không tranh chấp, yêu cầu gì nên không đến Toà án để trình bày ý kiến. Bà không tranh chấp, yêu cầu gì đối với thửa đất trên. Ngoài ra bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.
* Bà Trần Thị S2 trình bày: Bà thống nhất như lời trình bày của cha bà về quan hệ gia đình, nguồn gốc đất và việc cha mẹ cho vợ chồng ông N thửa đất tranh chấp. Năm 1995 vợ chồng ông N muốn đi lập nghiệp ở xa nên kêu bán đất với giá 12 chỉ vàng. Khi đó mẹ bà nghe vậy nên mới đưa cho ông N, bà M 08 chỉ vàng, vì mẹ con nên hai bên không có viết giấy tờ gì. Đến khoảng năm 2001, cha mẹ bà cho vợ chồng bà đến ở nhờ trong ngôi nhà ông N để lại. Đến năm 2004, cha mẹ bà tặng cho cho vợ chồng bà diện tích đất khoảng 50m² đến 60m² đất; vợ chồng bà đã đổ đất lấn qua hướng nam giáp đường bê tông liên xóm và xây dựng nhà trên phần đất này. Đến khoảng năm 2005 cha mẹ bà cho vợ chồng ông H, bà N1 phần diện tích đất còn lại ở phía tây. Khi ở vợ chồng ông H, bà N1 cũng đổ đất lấn chiếm ruộng rau muống theo hướng Nam ra giáp đường bê tông liên xóm. Đến khoảng năm 2013 vợ chồng ông H, bà N1 xây nhà trên phần đất vợ chồng ông H, bà N1 lấn chiếm và một phần đất của cha mẹ bà cho trước đây mà cha mẹ đã mua của ông N. Khi ông H xây nhà thì ông N có về phụ giúp. Đến năm 2019 ông N về đòi lại đất. Nay ông N, bà M yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 trả lại đất thì bà có ý kiến như sau: Phần đất có diện tích 200m² mà trước đây ông N, bà M chuyển nhượng cho cha mẹ với giá 12 chỉ vàng, cha mẹ đã tặng cho cho vợ chồng bà khoảng 50m² đất còn lại 150m² đất thì chia cho vợ chồng ông N sử dụng 75m², chia cho vợ chồng ông H sử dụng 75m². Bà không tranh chấp, yêu cầu gì đối với thửa đất trên; bà cũng không yêu cầu gì đối với diện tích đất mà cha mẹ đã tặng cho vợ chồng bà trong vụ án này.
* Ông Lê Minh Đ trình bày: Ông thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của vợ ông là bà Trần Thị S2. Ngoài ra ông không trình bày và yêu cầu gì thêm.
* Bà Trần Thị Đ1 trình bày: Bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của cha bà là ông Trần Văn B. Bà yêu cầu giao cho vợ chồng ông N sử dụng diện tích đất 75m², giao cho vợ chồng ông H sử dụng diện tích đất 75m². Bà không tranh chấp, yêu cầu gì đối với thửa đất trên. Ngoài ra bà không trình bày và yêu câu gì thêm.
* Tại Văn bản số 20/UBND-ĐC ngày 24 tháng 02 năm 2020 và văn bản số 128/UBND-ĐC ngày 15 tháng 7 năm 2022, Ủy ban nhân dân xã P có ý kiến như sau: Theo hồ sơ địa chính, bản đồ năm 1993, thửa đất số 1073, tờ bản đồ số 21, diện tích 200m² đất ở do ông Trần Văn N đứng tên chủ sử dụng. Đến khi thực hiện dự án đo đạc Vlap năm 2009, ông Trần Văn H kê khai chủ sử dụng tại thửa đất nêu trên, thửa đất 728, tờ bản đồ 29 với diện tích 425,5m² đất ở; tăng 225,5m² do lấn chiếm đất lúa thửa đất số 20, tờ bản đồ số 28 do Ủy ban nhân dân xã P quản lý. Thửa đất này không cùng chung với thửa đất của vợ chồng ông Lê Minh Đ, bà Trần Thị S2.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 95/2025/DS-ST ngày 10/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai đã quyết định: Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 166, 221, 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 166 của Luật đất đai năm 2013; Điều 50 Luật đất đai năm 2003; điểm b.3, tiểu mục 2.3 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N.
- Buộc vợ chồng ông Trần Văn H, bà Lê Thị Thanh N1 trả lại cho vợ chồng ông Trần Văn N, bà Trần Thị Tuyết M 297.600.000đ là giá trị quyền sử dụng 99,2m² đất thuộc một phần thửa 728, tờ bản đồ số 29, tọa lạc thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Công nhận cho vợ chồng ông Trần Văn H, bà Lê Thị Thanh N1 được quyền sử dụng diện tích 200m² đất ở nông thôn thuộc một phần thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29, tọa lạc thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có giới cận: Phía bắc giáp với thửa đất số 702 và thửa đất số 703, tờ bản đồ số 29; phía nam giáp với phần còn lại của thửa 728, tờ bản đồ số 29 thuộc quản lý của UBND xã P; phía đông giáp thửa đất số 729, tờ bản đồ số 29; phía tây giáp các thửa 701, 726 và thửa đất số 727, tờ bản đồ số 29. Phần đất trên được ký hiệu khu B, C trên sơ đồ địa chính trích đo thửa đất kèm theo.
Ngoài ra cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Kháng cáo:
Ngày 16/6/2025, đại diện hợp pháp của ông Trần Văn N kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông N.
Ngày 18/6/2025, bị đơn ông Trần Văn H kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N.
* Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo; bị đơn vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn đảm bảo đúng thủ tục, nội dung và trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người có liên quan đến việc kháng cáo đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy Tòa án xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc diện tích 200m² đất tại thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29 (trước đây là thửa số 1073, tờ bản đồ số 21), địa chỉ: thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai là của cụ Trần Văn B và Đặng Thị P khai hoang, sử dụng từ trước năm 1975. Năm 1998 cụ B và cụ P cho ông Trần Văn N và vợ là bà Trần Thị Tuyết M sử dụng, năm 1993, ông Trần Văn N đứng tên kê khai sử dụng đối với diện tích đất này và sử dụng đến năm 1997 thì giao lại cho cụ B và cụ P.
[2.2] Ông N cho rằng, sau khi cha mẹ cho 200m² thì vợ chồng ông có làm căn nhà tạm để ở, làm chuồng bò, chuồng heo, sau đó đổ đất lấn chiếm thêm khoảng 60m² đất ruộng ở phía Đông của thửa đất. Năm 1997 do kinh tế khó khăn nên vợ chồng ông chuyển lên tỉnh Đăk Lăk sinh sống. Trước khi đi vợ chồng ông đã gửi lại thửa đất này cùng với căn nhà, chuồng bò, chuồng heo cho cha mẹ trông coi, hàng năm ông đều về quê thăm cha, mẹ. Ông N thừa nhận trước khi đi ông có chuyển nhượng cho cha mẹ một phần diện tích tiếp giáp với thửa đất số 1073, tờ bản đồ số 21 diện tích 60m², đây là diện tích đất ruộng mà ông đã lấn chiếm thêm với giá 08 chỉ vàng 24k. Phần diện tích đất chuyển nhượng nằm ngoài thửa đất số 1073 và hiện nay do ông Lê Minh Đ và bà Trần Thị S2 sử dụng. Trong thời gian ông N giao đất cho cha mẹ quản lý thì ông H, bà N1 đã tự ý xây dựng nhà cấp 4 và các công trình khác trên diện tích đất này, đến năm 2009 ông H đã tự đăng ký kê khai đứng tên chủ sử dụng thửa đất theo dự án V, năm 2013 xây dựng tiếp căn nhà như hiện nay. Tuy nhiên, cụ Trần Văn B, ông Trần Văn H và các anh chị em trong gia đình là bà Trần Thị Lệ S, ông Trần Văn S1, bà Trần Thị T4, bà Trần Thị S2 và bà Trần Thị Đ1 đều khẳng định: năm 1995 ông N, bà M chuyển lên Đ sinh sống nên đã chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích đất trên cho cha mẹ là cụ B và cụ P với giá 12 chỉ vàng 24k. Cụ B và cụ P đã giao 08 chỉ vàng và hiện còn nợ lại 04 chỉ vàng 24k. Sau khi vợ chồng ông N chuyển đi, cụ B đã phá dỡ chuồng bò và chuồng heo; năm 2001 do nhà của ông N để lại bị sập nên cụ B đã xây dựng lại căn nhà mới, đồng thời cho vợ chồng Bà S2, ông Đ ở nhờ. Đến năm 2003 cụ B và cụ P cho bà S2 và ông Đ một phần diện tích đất khoảng 60m² để làm nhà ở, sau đó ông Đ và bà S2 tiếp tục bồi trúc đất lấn chiếm thêm ở phía Đông. Đến năm 2004 khi ông H kết hôn với bà N1 thì cụ B và cụ P tặng cho vợ chồng ông H phần diện tích đất còn lại như hiện nay. Trong quá trình sinh sống thì vợ chồng ông H tiếp tục đổ đất lấn chiếm thêm diện tích đất ruộng ở phía Nam của thửa đất. Năm 2005 ông H, bà N1 làm nhà ở trên diện tích đất này và đến năm 2009 thì đăng ký kê khai sử dụng theo dự án Vláp. Năm 2013 ông H, bà N2 làm tiếp căn nhà xây cấp 4 như hiện nay. Khi ông H làm nhà thì ông N nhiều lần về làm giúp cửa gỗ, cầu thang gỗ cho ông H.
[3] Xét kháng cáo của ông N và ông H thấy rằng:
[3.1] Ông N thừa nhận năm 1997 ông chuyển nhượng cho cha mẹ chỉ có 60m² đất ruộng là phần đất mà ông đã lấn chiếm thêm và nằm ngoài thửa đất số 1073 với giá 08 chỉ vàng 24k; còn diện tích 200m² đất ở cùng với nhà tạm, chuồng bò, chuồng heo ông chỉ giao cho cha mẹ trông nom giúp. Tuy nhiên, xét thấy hàng năm ông N đều về thăm cha mẹ nhưng khi cụ B và cụ P tháo dỡ nhà, chuồng bò, chuồng heo để xây căn nhà khác, cho vợ chồng bà S2 ở nhờ nhà đất, đồng thời tuyên bố cho vợ chồng ông H diện tích 200m² để làm nhà ở thì ông N không có ý kiến gì. Năm 2005 ông H, bà N1 tiến hành làm nhà ở, năm 2009 đăng ký kê khai quyền sử dụng đất với chính quyền địa phương và đến năm 2013 ông H tiếp tục xây căn nhà như hiện nay. Sự việc ông H làm nhà ở, ông N có về làm giúp cửa gỗ, cầu thang cho ông H nhưng ông N không có ý kiến khiếu nại hay tranh chấp về đất đai đối với ông H. Tại công văn số 20/UBND-ĐC ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Ủy ban nhân dân xã P cũng xác định, ông N có chuyển lại nhà đất cho cha mẹ để lấy vốn làm ăn nhưng không có giấy tờ chuyển nhượng, cha mẹ ông N có cho đất và nhà này để ông H sử dụng, đến khi thực hiện dự án Vláp năm 2009 thì ông H kê khai chủ sử dụng đất. Mặt khác, cụ Trần Văn B và các anh, chị em ruột của ông N và ông H đều khẳng định, trước khi chuyển lên Đ sinh sống vợ chồng ông N đã chuyển nhượng diện tích 200m² tại thửa đất nói trên cho cha, mẹ là đúng sự thật. Ông N cho rằng chỉ chuyển nhượng cho cha mẹ diện tích 60m² đất là diện tích đất lấn chiếm thêm với giá 08 chỉ vàng 24k. Xét lời trình bày của ông N là không phù hợp với thực tế, vì thời điểm năm 1997 không ai nhận chuyển nhượng 60m² đất lấn chiếm của Ủy ban nhân dân xã P với giá 8 chỉ vàng. Do đó việc ông H cho rằng vợ, chồng ông N đã chuyển nhượng toàn bộ nhà đất nói trên cho cha mẹ là cụ B và cụ P với giá 12 chỉ vàng 24k để lấy vốn làm ăn và chuyển lên tỉnh Đăk Lăk sinh sống, nhưng cụ B và cụ P chỉ mới giao cho ông N được 08 chỉ vàng là có căn cứ. Ông N cho rằng ông H, bà N1 tự ý xây nhà chiếm đất của ông là không có cơ sở.
[3.2] Khi nhận chuyển nhượng nhà đất, cụ B và cụ P chỉ mới thanh toán cho ông N, bà M được 8/12 chỉ vàng tương đương với 66,7% nghĩa vụ đối với giá trị quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, cụ B và các anh chị em trong nhà cũng có nguyện vọng thống nhất giao lại cho ông N một phần diện tích đất trống phía sau nhà ông H để ông N sử dụng làm nhà ở. Tuy nhiên, tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân Gia Lai thì hiện phần diện tích đất trống thực tế chỉ còn là 99,2m² (bao gồm nhà tạm 22,7m², chuồng heo 19,1m², đất trống 57,4m²). Để sử dụng diện tích đất này đi ra đường liên thôn phía trước thì phải đi qua nhà ông H (một phần đất lấn chiếm của Ủy ban nhân dân xã P) hoặc đi qua đất chuồng bò của bà Trần Thị Đ1 (đất do UBND xã quản lý). Do đó, việc giao cho ông N phần diện tích đất này là không thể thực hiện được trên thực tế, mà cần phải thanh toán bằng giá trị. Tại biên bản định giá ngày 10/5/2024 và tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/9/2025 các đương sự đều đồng ý với kết quả định giá toàn bộ diện tích 200m² trị giá thời điểm hiện tại là 600.000.000đ. Tòa án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông H, bà N1 thanh toán cho ông N số tiền 297.600.000đ tương đương với giá trị 49,6% giá trị của thửa đất là phù hợp.
[3.3] Bản án sơ thẩm nhận định không có việc ông N chuyển nhượng diện tích 200m² cho cụ B và cụ P, đồng thời cho rằng ông N đã tặng cho diện tích 100,8m² cho ông H, diện tích đất ông N còn lại là 99,2m² là dành giá không đúng bản chất vụ việc, không phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định công nhận toàn bộ diện tích đất tranh chấp cho ông H, bà N1, đồng thời buộc ông H, bà N1 thanh toán lại cho ông N số tiền 297.600.000đ là phù hợp với nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm như mục [3.2]. Tại phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên công nhận quyền sử dụng diện tích 200m² cho ông H, bà N1 nhưng không tuyên chiều dài cụ thể các cạnh gây khó khăn cho việc thi hành án. Bản án sơ thẩm cũng tuyên buộc ông H, bà N1 thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông N, bà M và thanh toán chi phí tố tụng cho ông N, bà M nhưng không tuyên nghĩa vụ về chịu lãi suất chậm thi hành án là chưa đầy đủ. Tòa án cấp phúc thẩm sẽ sửa lại cách tuyên cho đúng quy định của pháp luật.
[4] Từ các phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định hợp tình, hợp lý, phù hợp với hiện trạng sử dụng đất của các đương sự. Do vậy, kháng cáo của ông Trần Văn N và ông Trần Văn H là không có căn cứ nên cấp phúc thẩm không được chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, ông N có đề nghị xem xét, thẩm định tại chỗ lại. Kết quả xem xét thẩm định về cơ bản không có gì thay đổi. Do vậy ông N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000đ. Ông N đã nộp đủ.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn N và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2025/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai.
Căn cứ vào các Điều 166, 221, 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 166 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N.
-
- 1.1. Ông Trần Văn H, bà Lê Thị Thanh N1 phải thanh toán cho ông Trần Văn N, bà Trần Thị Tuyết M số tiền 297.600.000đ (hai trăm chín mươi bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).
- 1.2. Giao cho ông Trần Văn H và bà Lê Thị Thanh N1 được quyền sử dụng diện tích 200m² đất ở nông thôn thuộc một phần thửa đất số 728, tờ bản đồ số 29, tọa lạc thôn K, xã T, tỉnh Gia Lai. Diện tích đất ký hiệu là (I) và có tứ cận như sau: phía Đông giáp đất ông Lê Minh Đ, dài 10,82m; phía Tây giáp chuồng bò của bà Trần Thị Đào D 7,62m và giáp đất ông Lê Đại L1 dài 3,62m; phía Nam giáp một phần nhà, đất ông H, bà N1 đang sử dụng, dài 16,89m; phía Bắc giáp đất ông K1, dài 8,42m + 6,79m + 3,74m + 1,13m (có sơ đồ đo vẽ kèm theo Bản án này và là một phần không thể tách rời Bản án này). Ông Trần Văn H và bà Lê Thị Thanh N1 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được đăng ký quyền sử dụng diện tích đất trên theo quy định của pháp luật về đất đai.
- 1.3. Về chi phí tố tụng:
- 1.4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- 2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trần Văn N phải chịu 9.000.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ở cấp sơ thẩm và 10.000.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ở cấp phúc thẩm. Ông N đã nộp xong.
Ông Trần Văn H và bà Lê Thị Thanh N1 phải thanh toán cho ông Trần Văn N 9.000.000đ (chín triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Ông Trần Văn H, bà Lê Thị Thanh N1 phải chịu 14.880.000đ (mười bốn triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Ông Trần Văn N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã tạm nộp trước đây theo Biên lai thu số 0003081 ngày 15 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Gia Lai. Ông N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Văn N phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền đã tạm nộp án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu số 0003284 ngày 23 tháng 6 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Gia Lai. Ông N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Trần Văn H phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền đã tạm nộp án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu số 0003281 ngày 18 tháng 6 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Gia Lai. Ông H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Chí Công |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Các Thẩm phán |
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Lê Văn Duy |
Trương Nam Trung |
Đặng Chí Công |
Bản án số 165/2025/DS-PT ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 165/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
