Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 163/2025/DS-PT
Ngày 29 tháng 12 năm 2025
V/v: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất bị lấn chiếm”
 

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thanh.

Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Anh, bà Lê Thị Hiệu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hằng Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 142/2025/TLPT-DS ngày 10/11/2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất bị lấn chiếm”. Do bản án sơ thẩm số 100/2025/DSST ngày 29/9/2025 của TAND khu vực 5 - Thanh Hoá bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 142/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thế N, sinh năm 1980 và chị Phạm Phương T, sinh năm 1981 (Có mặt anh N, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt)
    Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã V, tỉnh Thanh Hóa.
    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Vũ Văn T1 - Luật sư, Công ty L3, đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hóa - Địa chỉ: LK D, khu Đ, P. H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)
  2. Bị đơn: Chị Đào Thị O, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Y, xã V, tỉnh Thanh Hóa.
    Người đại diện theo ủy quyền của chị O: Anh Tống Văn T2, sinh năm 1987 - Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Đào Thị C, sinh năm 1960 (Vắng mặt).
      Địa chỉ: Xã V, tỉnh Thanh Hóa.
    2. Bà Đào Thị V, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
      Địa chỉ: Thôn Y, xã V, tỉnh Thanh Hóa.
      Người đại diện theo ủy quyền của bà Đào Thị C: Bà Đào Thị V (Theo văn bản ủy quyền ngày 11/11/2024).
    3. Ông Đào Văn N1, sinh năm 1962 (bố chị O – vắng mặt)
      Địa chỉ: Thôn Y, xã V, tỉnh Thanh Hóa.
      Người đại diện theo ủy quyền của ông N1, bà V: Anh Tống Văn T2, sinh năm 1987 - Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)
    4. Văn phòng C2 (Vắng mặt).
      Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
      Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng H - Trưởng văn phòng.
    5. Chi nhánh Văn phòng Đ (Vắng mặt)
      Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
      Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn D - Giám đốc Chi nhánh.
    6. Cháu Vũ Văn Đức T3, sinh ngày 29/3/2016 (Vắng mặt).
    7. Cháu Vũ Đức T4, sinh ngày 27/12/2017 (Vắng mặt).
      Người đại diện theo pháp luật của cháu T3 và cháu T4: Chị Đào Thị O, sinh năm 1986 (mẹ đẻ - vắng mặt).
      Địa chỉ: Thôn Y, xã V, Thanh Hóa.
  4. Người làm chứng: Ông Đinh Bình M, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn Y, xã V, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Nguyên đơn là vợ chồng anh Nguyễn Thế N và chị Phạm Phương T trình bày:

    Ngày 26/7/2022, thông qua người môi giới, vợ chồng anh tiến hành đặt cọc nhận chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất tại thửa 129, tờ bản đồ 20, diện tích 210m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Đào Thị C và bà Đào Thị Vĩnh . Ngày 15/8/2022, vợ chồng anh và bà C, bà V tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại văn phòng C2. Thời điểm đó, bà Đào Thị V là người trực tiếp nhận tiền và có hứa nói với chị O để giải quyết về ngõ đi và cũng có trao đổi khi nào gia đình anh làm nhà thì vợ chồng chị O phải tháo dỡ công trình để trả lại ngõ đi ra đường giao thông. Năm 2023, gia đình anh có nhu cầu xây dựng nhưng gia đình chị O nêu ra nhiều lý do khó khăn về kinh tế và nói đã xây công trình nếu phá dỡ thì ảnh hưởng đến chỗ ở và có ý nhượng lại phần diện tích làm ngõ đi tại thửa 129b, nhưng sau đó qua hòa giải của xã chị O lại không đồng ý. Trong biên bản hòa giải cơ sở, chị O có thừa nhận là mượn ngõ đi và sẽ trả lại trong một vài năm. Bản thân gia đình anh đã đề cập là hỗ trợ phần tháo dỡ nhưng chị O kiên quyết không chấp thuận nên vợ chồng anh mới khởi kiện.

    Nay anh N, chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc chị Đào Thị O phải tháo dỡ công trình xây trên phần đất ngõ thuộc diện tích thửa 129 của gia đình anh đã nhận chuyển nhượng và đã được đăng ký biến động sang tên QSD đất.

    - Đối với công trình phải tháo dỡ của nhà chị O, gia đình anh sẽ tự nguyện hỗ trợ mức tiền 50.000.000đ khi tháo dỡ phần công trình trên ngõ đi.

    - Đối với yêu cầu hủy HĐCN của bà V và chị O, quan điểm của gia đình anh là không có căn cứ. Anh N, chị T đề nghị Tòa án bác yêu cầu.

    - Đối với chị O có ý kiến chuyển nguyên hiện trạng lối đi sang phần đất của chị O tại thửa 129b thì gia đình anh không đồng ý, đề nghị giữ nguyên hiện trạng diện tích ngõ đi của thửa 129 cho gia đình anh như trong GCN QSD đất đã cấp lần đầu cho bà V, bà C.

    - Đối với các yêu cầu khác của chị O là hủy HĐCN thì theo anh N, chị T là chị O không có quyền đề nghị hủy, vì gia đình anh nhận chuyển nhượng QSD đất từ bà V, bà C, không liên quan đến chị O. Việc chị O xây dựng công trình trên phần ngõ đi thuộc đất của gia đình anh là trái quy định pháp luật, vì ngõ đi này đã hình thành khi hàng thừa kế của gia đình bà V thống nhất tách thửa vào năm 2019. Việc gia đình anh nhận chuyển nhượng là thuộc QSD đất của bà C, bà V nên chị O phải có trách nhiệm tháo dỡ công trình xây dựng trên lối đi để trả lại QSD đất cho vợ chồng anh.

  2. Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền anh Tống Văn T2 trình bày:

    Chị Đào Thị O không đồng ý nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn, vì chị O không lấn chiếm đất của ông N và bà T. Sự tồn tại của một phần căn nhà trên thửa đất của ông N và bà T là do ông N và bà T đã đồng ý khi ký HĐCN với bà V và bà C. Trước khi ký HĐCN vào năm 2022, ông N và bà T đã xuống thực địa mảnh đất và có biết một phần ngôi nhà của chị O trên thửa đất nhưng vẫn đồng ý mua. Ông N và bà T cũng không có ý kiến gì đối với các văn bản của nhà nước khi xác lập quyền sở hữu (QSH) nhà đất vào tháng 9/2022. Nhà đất của chị O được xây dựng từ năm 2017, QSH nhà ở được hình thành trước khi ông N và bà T nhận chuyển nhượng đất đứng tên bà C, bà V vào năm 2022. Do đó chị O không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông N và bà T.

    Vì vậy, chị O không đồng ý với việc tháo dỡ công trình đã xây dựng trái phép trên đất của gia đình ông N, bà T, vì hiện tại công trình trên đất của gia đình chị O là kiên cố, việc tháo dỡ một phần công trình sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ kết cấu ngôi nhà. Chị O đề nghị được đổi cho ông N, bà T phần đất tại thửa đất 129b bằng đúng diện tích công trình nhà chị O đang sử dụng trên thửa đất ngõ đi của anh N và chị T. (bê hình thù hiện trạng ngõ đi như thế nào thì dành ngõ đi trên thửa đất của chị O như thế).

    Nay chị O yêu cầu tuyên bố hợp đồng công chứng số 4729 quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/8/2022 bị vô hiệu; hủy toàn bộ hồ sơ đăng ký biến động số 025.10.13.H56-2200819-0036 và đề nghị ghi nhận một phần QSH nhà ở cho chị Đào Thị O trên thửa đất số 129.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
    1. Bà Đào Thị V, bà Đào Thị C trình bày cùng nội dung: Sau khi bố mẹ mất, để lại cho 05 anh, chị em 01 thửa đất, diện tích 615m² tại thôn Y, xã H. Năm 2019 anh em trong gia đình họp thống nhất chia thửa đất của bố mẹ để lại làm 04 thửa, 03 người con trai mỗi người 01 thửa ở mặt đường phía trước, còn phần thửa đất phía sau được chia cho bà V và bà C (Bao gồm cả ngõ đi giáp đất thửa nhà ông N1). Thời điểm bà và bà C chuyển nhượng QSD đất cho gia đình anh Nghĩa L vào năm 2022, giá chuyển nhượng là 280.000.000 đồng. Sau đó gia đình anh N, chị T đã đăng ký biến động sang tên. Sau khi chuyển nhượng cho gia đình anh N, chị T thì bà C không lấy tiền, toàn bộ số tiền chuyển nhượng là do bà V nhận chi tiêu. Vào thời điểm chuyển nhượng thì bà V có trao đổi việc gia đình chị O đã xây dựng công trình trên đất của ông N1 và lên cả phần ngõ đi là đất của thửa 129. Nên bà có nói gia đình anh N, chị T là dành mở lối đi vào phần đất chia cho ông Đào Văn T5 (nay đã đứng tên chị O). Khi đó gia đình anh N, chị T đồng ý mua và chị O cũng thống nhất mở lối đi như bà V đã nói. Nay với yêu cầu khởi kiện của anh N, chị T thì bà đề nghị: Nếu gia đình anh N, chị T kiên quyết khởi kiện chị O phải phá nhà để lấy lối đi thì bà giữ nguyên yêu cầu tuyên bố HĐCN QSD đất được công chứng số 4729, quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/8/2022 do Văn phòng C2 công chứng bị vô hiệu và yêu cầu giải quyết hậu quả, hủy đăng ký biến động sang tên quyền sử dụng đất mang tên anh N, chị T và đề nghị ghi nhận một phần QSH nhà ở cho chị Đào Thị O trên thửa đất số 129. Nhưng nếu gia đình anh N, chị T đồng ý với phương án mở lối đi trên phần đất hiện đang đứng tên chị O thì bà sẽ rút đơn yêu cầu để các bên nên thỏa thuận với nhau để tránh kiện tụng.
    2. Ông Đào Văn N1 trình bày: Bố mẹ ông là ông Đào Văn N2, bà Vũ Thị R, sinh được 5 người con là bà Đào Thị C, ông Đào Văn N1, ông Đào Văn L1, ông Đào Văn T5 và bà Đào Thị Vĩnh . Ông bà để lại 01 thửa đất, diện tích 615m² tại thôn Y, xã H. Năm 2019, anh, chị, em trong gia đình họp bàn thống nhất phân chia thửa đất ông, bà để lại làm 04 thửa, trong đó 03 người con trai mỗi người 01 thửa ở mặt đường, diện tích mỗi thửa 135m², rộng 5m mặt đường, 4m phía sau, còn lại bao nhiêu thì để cho 2 cô con gái ở phía sau và một lối đi, thửa đất của ông được phân chia giáp lối đi của thửa 129; thửa 129b là ông Đào Văn T5 (đã chuyển nhượng cho chị O), phần tiếp theo thửa 129c của ông Đào Văn L1 (đã chuyển nhượng cho ông Đồng Văn C1, người Ngư Lộc). Còn phần ở phía sau là thửa 129 của bà V và bà C (Bao gồm cả ngõ đi giáp thửa đất 129a của ông). Khi các ông bà chia đất có thống nhất để lại ngõ đi giáp thửa 129a và thống nhất cho chị O mượn một nửa thửa đất chưa phân chia để lại xây nhà vào năm 2017. Sau khi được cấp GCN QSD đất ông T5 đã chuyển nhượng luôn cho chị O, khi đó, anh em trong gia đình cũng không thống nhất để lại diện tích ngõ đi là bao nhiêu. Vì khi chia đất, trên đất đã có công trình của chị O. Tuy nhiên, quá trình làm GCNQSD đất, không hiểu lý do vì sao lại để ngõ đi giáp thửa 129a của ông, quá trình cấp giấy cũng không có ai về đo đạc, thẩm định hay tư vấn. Khi có GCNQSD đất thì của ai người nấy quản lý, mãi sau này khi bà V, bà C bán đất thì ông mới biết theo GCN thì vị trí ngõ đi giáp đất của ông.

      Về việc gia đình anh N, chị T mua đất của bà V, bà C khi mua bán đất, bà V, bà C và gia đình anh N, chị T đã có thống nhất đi ngõ dưới (Thuộc thửa 129b của nhà chị O) nên mới bán. Hiện các bên cũng mong muốn hòa giải nhưng gia đình ông muốn đổi đất cho gia đình anh N, chị T theo đúng diện tích, số đo, hình thể của ngõ đi thuộc thửa 129 mà bên trên đang có tài sản là nhà của chị O. Nếu gia đình anh N, chị T không đồng ý với phương án đổi vị trí ngõ đi thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Vì khi nhận chuyển nhượng nhà chị O đã xây dựng, anh N, chị T mua đất biết rõ trên đất có nhà của chị O, gia đình anh N, chị T đồng ý đi lối đi thuộc thửa 129b nên mới mua đất của bà C và bà V. Nay lại quay sang kiện chị O, đòi chị O phải phá dỡ công trình trả lại đất thì ông không đồng ý. Đối với diện tích đất thuộc thửa 129a của ông nhưng đang có nhà của chị O thì ông không có yêu cầu gì.

    3. Chi nhánh Văn phòng Đ gửi Văn bản số: 274/CV-CNVPĐKĐĐHL ngày 27/8/2025 nêu ý kiến:

      Đối với hồ sơ cấp quyền của các thửa đất được đăng ký biến động Chi nhánh Văn phòng Đ đã cung cấp toàn bộ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 04 thửa đất số 129, 129a, 129b,129c, tờ bản đồ số 20 bản đồ địa chính xã H (cũ) (bản photo); và hồ sơ chuyển nhượng thửa đất số 129, tờ bản đồ số 20 bản đồ địa chính xã H (cũ) giữa bà Đào Thị V– Đào Thị C và ông/bà Nguyễn Thế N - Phạm Phương T (bản photo);

      Việc thực hiện đăng ký biến động đối với thửa đất số 129, tờ bản đồ số 20 bản đồ địa chính xã H (cũ) đã thực hiện đúng quy trình, quy định của pháp luật. Vì vậy, việc đương sự yêu cầu “hủy bỏ hồ sơ đăng ký biến động đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Thế N và bà Phạm Phương T là không có cơ sở.

    4. Văn phòng C2 có văn bản nêu ý kiến:

      Về việc chuyển nhượng QSD đất công chứng số 4729, quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/8/2022 do Văn phòng C2 chứng nhận như sau:

      Về hồ sơ công chứng được phân công người thụ lý dự thảo HĐCN QSD đất do ông Phạm Vũ M1 thực hiện giải quyết hồ sơ và lưu trữ hồ sơ HĐCN QSD đất có công chứng số 4729, quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/8/2022 là đúng pháp luật, thể hiện đầy đủ thông tin của bên chuyển nhượng: Bà Đào Thị C, sinh năm: 1960 và bà Đào Thị V, sinh năm: 1974. Bên nhận chuyển nhượng: Ông Nguyễn Thế N, sinh năm: 1980 và bà Phạm Phương T, sinh năm: 1981.

      Việc chuyển nhượng do 2 bên tự nguyện thỏa thuận theo áp dụng khung giá đất của cơ quan có thẩm quyền, tự nguyện xác lập giao dịch. Tại thời điểm ký hợp đồng công chứng các bên trong hợp đồng có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, tài sản chuyển nhượng không có thông tin tranh chấp và thuộc quyền quản lý, sử dụng của bên chuyển nhượng đã được cơ quan Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Thủ tục công chứng đúng quy định của pháp luật về công chứng, không vi phạm điều cấm của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu.

      Nay các đương sự yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy bỏ văn bản công chứng số 4729 quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/8/2022 bị vô hiệu là không có căn cứ. Trường hợp các bên tự nguyện đồng ý đến văn phòng công chứng ký hủy bỏ giao dịch thì Văn phòng sẽ thực hiện theo Luật công chứng.

  4. Các chứng cứ khác:

    Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ vào ngày 21/11/2024, kết quả xác định: Thửa đất 129, tờ bản đồ 20 đứng tên anh N, chị T có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng từ bà Đào Thị C và bà Đào Thị V vào tháng 8 năm 2022, thửa đất có tứ cận giáp ranh: Phía đông giáp các thửa 129a, 129b và 129c; Phía Tây giáp đất sản xuất của ông Đào Văn T6 và thửa đất nhà bà Trần Thị L2, số đo hiện trạng 7.27 + 2.95m; Phía nam giáp đất nhà bà Trần Thị N3, số đo 12.30m, diện tích cấp quyền 210m²; trong đó 60 m² đất ở và 150m² đất trồng cây lâu năm; Phía bắc giáp tường rào đang phá dỡ của nhà ông Đào Văn T6.

    Về vị trí đất ngõ đi: Hiện vị trí đất ngõ đi giáp thửa 129a đã có công trình xây dựng lần lượt từ phía đông giáp đường giao thông vào phía trong khu đất 129 là nhà xưởng đang làm mộc, kết cấu tường nhà phía bắc giáp ngõ đi nhà ông Đào Văn T6 được xây bằng gạch không nung chưa trát vữa, chiều dài nhà xưởng là 9.47m, phần mái được lợp ngói Blu xi măng, 03 vì kèo sắt, đoàn tay bằng luồng, có 02 cột đỡ ở giữa bằng bê tông 15x15cm, bên trong xưởng có các thiết bị làm nghề đặt về phía thửa đất 129a, nền xưởng láng xi măng; Nhà 03 gian kết cấu cột bằng bê tông hướng nam có 01 buồng lồi về phía thửa đất 129a, toàn bộ phần mái nhà còn lại được lợp tôn, nền lát gạch đỏ đất nung, vì kèo gỗ được gác theo hướng bắc - nam, tường xây 20 x 20 phía tường ngoài giáp đất nhà ông T6 còn trừ lại 01 phần chưa trát, chiều dài nhà 10.02m; nhà vệ sinh, nhà tắm được xây về phía bắc giáp tường rào nhà ông Đào Văn T6, bên trong có ốp gạch men, gắn bệ bệt, ngăn nhà tắm có gắn 01 vòi tắm, phần mái lợp ngói Blu ximăng, xà gồ sắt kẽm hộp 3x6, bể phốt được xây ngầm phía dưới ra phía ngoài, cách tường rào khoảng 30cm, nắp đậy bê tông nhô lên so với mặt đất khoảng 07cm, chiều dài nhà vệ sinh, nhà tắm 7.43m. Vị trí bếp nấu được xây vào phía thửa đất 129a, cách tường chắn nhà ông T6 khoảng 2.5m. Phía đầu lối đi rộng 1.48m, cuối lối đi giáp khu đất 129 rộng 1.28m.

    Các thửa đất còn lại theo hiện trạng đo đạc tổng thể thì ba thửa đất phía trước (129a, 129b và 129c) có chiều cạnh mặt đường rộng là 5.0m, phía sau rộng là 4.0m và cạnh dài giáp ranh các thửa là 30m. Thửa đất 129a đứng tên ông Đào Văn N1 được chia tách một cạnh giáp lối đi được trừ lại và một cạnh giáp thửa 129b đứng tên ông Đào Văn L1. Tuy nhiên, thời điểm giải quyết tranh chấp thì ông L1 đã chuyển nhượng thửa đất 129b cho vợ chồng chị O vào tháng 10 năm 2019, còn thửa 129c đứng tên ông Đào Văn T5 cũng đã chuyển nhượng cho ông Đồng Văn C1 nay đã xây công trình nhà kiên cố trên đất.

    1. Thẩm định: Nhà xưởng của chị Đào Thị O được xây dựng năm 2017, bao trùm lên hai thửa 129 (thuộc quyền sử dụng của bà C, bà V) và toàn bộ thửa 129 đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Đào Văn N1);
    2. Định giá đất: Giá do Công ty A cung cấp là 9.600.000 đồng/1m² đất ở x 60m² = 576.000.000 đồng; đất trồng cây lâu năm 150m² x 17.000 đồng/1m² = 2.550.000 đồng; tài sản, công trình trên đất 137.324.273 đồng.

    Bản án số 100/2025/DSST, ngày 29/9/2025 của TAND khu vực 5 - Thanh Hóa đã: Căn cứ khoản 3, 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1, khoản 5 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; Căn cứ Điều 166, Điều 175, Điều 176, Điều 254, Điều 500, Điều 502 và Điều 503 của Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Điều 100, Điều 105, Điều 168, Điều 170, Điều 171, Điều 188 và Điều 203 của Luật đất đai 2013; Điều 133, khoản 2 Điều 136 và Điều 220 của Luật đất đai 2024; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

    Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Thế N và chị Phạm Phương T về tranh chấp diện tích lối đi quyền sử dụng đất với bị đơn chị Đào Thị O. Buộc chị Đào Thị O phải tháo dỡ phần công trình xây dựng trên diện tích lối đi thuộc thửa đất 129, tờ bản đồ số 20 bản đồ địa chính xã H cũ để trả lại cho người sử dụng đất anh Nguyễn Thế N và chị Phạm Phương T.

    Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của chị Đào Thị O, yêu cầu độc lập của bà Đào Thị Vĩnh .

    Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về số tiền hỗ trợ bị đơn 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

    Về xử lý tiền chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn đối với số tiền 14.000.000 đồng chi phí tố tụng, bị đơn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà V không phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền trên. Buộc bị đơn chị Đào Thị O phải chịu chi phí tố tụng là 4.000.000 đồng, trả lại cho chị O 1.000.000 đồng chi phí tố tụng còn thừa theo quy định của pháp luật.

    Về án phí dân sự sơ thẩm: Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 480.000 đồng, theo biên lai thu số 0003255 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, nay là Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Miễn án phí cho chị O. Buộc bà Đào Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền phải nộp được trừ vào biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003285 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, nay là Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Trả lại cho bà V số tiền án phí còn lại 180.000 đồng tại biên lai thu tiền án phí trên.

    Sau khi xét xử sơ thẩm:

    Ngày 10/10/2025, chị Đào Thị O, ông Đào Văn N1 và bà Đào Thị V kháng cáo huỷ toàn bộ án sơ thẩm vì: bỏ sót người tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Vũ M1; vi phạm nghiêm trọng tố tụng; không xem xét yêu cầu phản tố của chị O và yêu cầu độc lập của bà V một cách hợp lý.

    Tại cấp phúc thẩm: Ngày 19/12/2025, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá tiến hành thẩm định lại toàn bộ phần đất tranh chấp, theo yêu cầu của nguyên đơn:

    Hiện chị O đã xây dựng công trình gồm xưởng mộc và nhà ở kèm công trình phụ lên hai thửa đất là thửa 129 (được chia cho bà V và bà C và sau đó đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh N) và thửa 129a (đã được cấp giấy chứng nhận cho ông Đào Văn N1), xác định diện tích đất mà chị O xây dựng tại thửa 129 là: 66,4m² bám theo ngõ của nhà ông T6 (có sơ đồ và tọa độ tại bản vẽ), gồm: 1 phần bán bình mái fibro 19,0m²; 1 phần nhà cấp 4 mái fibro 24,7m²; 1 phần công trình phụ mái fibro 8,1m² (phía dưới có nhà tắm, công trình vệ sinh); một phần bếp mái fibro 1,5m² (phía dưới có 1 phần bể nước) và 13,1m² đất trống đã xây bao tường rào.

    Công trình xây dựng năm 2017, tạm bợ, chắp vá.

    Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo uỷ quyền của chị O, bà V và ông N1 đề nghị được thỏa thuận với nguyên đơn theo hướng: Đổi phần đất hiện chị O đang sử dụng của gia đình anh N sang phần đất của chị O đã được cấp giấy chứng nhận, để đảm bảo anh N vẫn có ngõ đi mà chị O không phải tháo dỡ nhà.

    Quan điểm phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

    Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng quy định của pháp luật;

    Về nội dung: Kháng cáo của chị O, bà V và ông N1 làm trong hạn luật định nên hợp lệ. Tại cấp phúc thẩm, phía chị O đưa ra sự thỏa thuận đổi đất tuy nhiên sau khi đổi đất thì kích thước cạnh thửa còn lại của thửa đất nhà chị O không đảm bảo điều kiện tách thửa (cạnh mặt đường còn lại là 3,5m) do đó việc thoả thuận là không đúng quy định của pháp luật;

    Kháng cáo của chị O, ông N1, bà V về huỷ án sơ thẩm không có căn cứ, không cung cấp được tài liệu mới nên không được chấp nhận

    Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của chị O, bà V và ông N1, giữ nguyên bản án số 100/2025/DSST ngày 29/9/2025 của TAND khu vực 5 - Thanh Hoá

    Đề nghị HĐXX bổ sung lời tuyên để cụ thể, rõ ràng hơn đảm bảo công tác thi hành án;

    Về án phí: chị O, ông N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà V không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí phúc thẩm.

    (có bài phát biểu kèm theo)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. Về trình tự kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn chị Đào Thị O, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị V, ông Đào Văn N1 làm trong hạn luật định, tại phiên tòa phúc thẩm các bên không được chấp thuận sự thoả thuận nên giữ nguyên kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm nên HĐXX phúc thẩm xem xét kháng cáo của các bên theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm:
    1. Về nguồn gốc đất: Thửa đất vợ chồng anh N đang khởi kiện thuộc 1 phần thửa đất của vợ chồng cụ N2 và cụ R, diện tích 615m² đã được cấp GCN tên cụ R vào năm 2007; Ngày 05/9/2019 các con cụ R là: Thân, N1, L1, C, V có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, chia cho 3 người con trai mỗi người 5m mặt đường = 135m²; Phần còn lại 210m² chia cho hai người con gái là bà V và bà C, hình thể thửa đất gồm 67m² bám ngõ nhà ông T6 đi ra đường giao thông (các bên thống nhất là đất ngõ) phần còn lại phía sau 143m².

      Ngày 19/9/2019, bà V và bà C được cấp GCNQSD đất, diện tích 210m² (trong các hợp đồng đã ghi ngày 19/4 là ghi sai). Ngày 26/7/2022 anh N và bà V ký hợp đồng đặt cọc, trong hợp đồng ghi: “Bác V sẽ có trách nhiệm giao mặt bằng đất, ngõ đi 1,5m chỗ gia đình anh T7 cho gia đình cháu N” (anh T7 là chồng của chị O).

      Ngày 15/8/2022, hai bên bà V, bà C và vợ chồng anh N ký hợp đồng chuyển nhượng; ngày 08/8/2022 anh N có đơn đề nghị đăng ký biến động; Ngày 07/9/2022 được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cập nhật vào 04 của GCNQSD đất đứng tên bà V và bà C: “chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông Nguyễn Thế N và bà Phạm Phương T”;

    2. Đối với 03 thửa đất chia cho ba người con trai tính từ ngõ đi lần lượt là: Nhữ, L1, T5; Chị O là con gái ông N1, sau khi mọi người chia đất thì chị đã mua lại đất của ông L1 còn ông T5 cũng bán cho người khác.

      Năm 2017, chị O xây công trình trên toàn bộ diện tích đất của bố chị là ông N1, và 1 phần trên ngõ đi thuộc diện tích đất của bà V và bà C được chia, còn lại thửa đất của chị mua của ông L1 thì chưa xây dựng gì. Công trình của gia đình chị bao gồm 1 phần xưởng mộc, phần còn lại nhà ở, bếp, công trình vệ sinh có kết cấu đơn giản, mái lợp fibro (broximang), tường xây gạch không nung chưa trát hết. Các thừa kế của cụ R (trong đó có ông N1 là bố đẻ chị O) cũng thừa nhận: do vợ chồng chị O khó khăn nên cả gia đình thống nhất cho chị O mượn đất để xây tạm nhà ở.

      Như vậy, việc chị O xây dựng công trình trên đất là do được sự đồng ý của những người con cụ R, là do được mượn đất, đất không thuộc quyền sử dụng của chị O. Việc mượn đất của các bên không lập thành văn bản và không xác định thời hạn trả do đó nghĩa vụ vi phạm được đánh giá từ khi người có quyền sử dụng đất đòi mà người mượn đất không trả.

      Sau khi thửa đất được chuyển nhượng cho anh N vào năm 2022, đến năm 2023 anh N và chị T có nhu cầu xây dựng nhà ở thì chị O không trả lại phần diện tích đất mà chị O đã sử dụng để làm 1 phần công trình nhà xưởng của mình nên vợ chồng anh N khởi kiện buộc chị O phải trả lại phần diện tích đất này. Thấy rằng, chị O chỉ là người mượn đất, đất không thuộc quyền sử dụng của chị, quá trình sinh sống chị O hoàn toàn nhận thức được việc này và biết rõ nguồn gốc và tính pháp lý của đất, cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của anh N buộc chị O phải trả lại toàn bộ diện tích đất này là có cơ sở, bảo đảm quyền lợi cho vợ chồng anh N.

    3. Án sơ thẩm còn nhận định và đánh giá về yêu cầu phản tố của chị O và yêu cầu độc lập của bà Đào Thị Vĩnh .

      Chị O và bà V đều yêu cầu hủy hợp đồng công chứng về việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng anh N và bà V, bà C; huỷ việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất sang tên vợ chồng anh N trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà C, bà V: Thấy rằng, việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng anh N và bà V, bà C là hợp pháp, khi thực hiện giao dịch, quyền sử dụng đất đã được nhà nước cấp cho bà V, bà C nên các bà có quyền chuyển nhượng. Thời điểm giao dịch, thửa đất không có tranh chấp, sau khi chuyển nhượng xong các bên không có khiếu nại về việc thanh toán tiền hay vị trí, hình thể, diện tích thửa đất. Việc chuyển nhượng đất của các bên không làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích của chị O nên cấp sơ thẩm không chấp nhận phản tố của chị O là có cơ sở;

      Đối với yêu cầu độc lập của bà V: Bà V cũng yêu cầu huỷ hợp đồng công chứng về việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng anh N và bà V, bà C; huỷ việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất sang tên vợ chồng anh N trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà C, bà V; bà V cho rằng: số tiền ghi trong hợp đồng chuyển nhượng chỉ có 30.000.000đ nhưng thực tế các bên đã giao dịch với nhau là 280 triệu. Nội dung này không phải là căn cứ để huỷ hợp đồng bởi vì số tiền bà V, bà C thực nhận lớn hơn số tiền ghi trong hợp đồng, như vậy quyền lợi của bà không bị ảnh hưởng. Nên cấp sơ thẩm bác yêu cầu độc lập của bà V là chính xác.

      Thấy rằng, lời nại của chị O, bà V hay ông N1 không đồng ý với đơn khởi kiện của vợ chồng anh N và yêu cầu huỷ hợp đồng công chứng, hủy việc đăng ký biến động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đều nhằm mục đích cuối cùng là bảo toàn được diện tích đất mà chị O đang sử dụng, không muốn tháo gỡ vì sẽ gây ra thiệt hại về tài sản. Tuy nhiên, chị O cùng gia đình cũng đã được sử dụng đất từ 2017 cho đến khi quyền sử dụng đất được nhà nước công nhận cho vợ chồng anh N (từ 2022) cho đến nay. Như vậy chị O và gia đình đều có lợi ích. Mặt khác, chị cũng có 1 thửa đất liền kề với thửa đất mà chị đang sử dụng của ông N1, nên việc dịch chuyển dễ dàng hơn và thuận lợi hơn trong khi vợ chồng anh N chấp nhận tự nguyện hỗ trợ cho gia đình chị 50.000.000đ là hoàn toàn có thiện chí, so với tổng tài sản mà chị có nằm trải dài trên hai phần đất (diện tích xây dựng của chị O là khoảng 200m² và tài sản trên đất là hơn 137 triệu đồng). Nên nhận định và quyết định của cấp sơ thẩm là hợp lý, hợp tình.

  3. Xét kháng cáo của chị Đào Thị O, ông Đào Văn N1 và bà Đào Thị V:

    Cả ba đơn kháng cáo đều có cùng một nội dung: Toà án nhân dân khu vực 5 vi phạm tố tụng, bản án tuyên không phù hợp với thực tế, không thể thi hành án được, bỏ sót người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Vũ M1... đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

    Như đã nhận định ở phần [2], toà án cấp sơ thẩm nhận định và quyết định là có căn cứ pháp luật.

    Đối với ông Phạm Vũ M1 cũng chỉ là người soạn hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng anh N và bà V, bà C..., không liên quan đến tranh chấp của các bên nên không có tư cách tham gia trong vụ án;

    Theo quy định tại Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX phúc thẩm chỉ huỷ bản án sơ thẩm trong trường hợp: “Việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng quy định tại tại Chương VII của bộ luật hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên toà phúc thẩm không thể bổ sung được và Thành phần của HĐXX sơ thẩm không đúng quy định của bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”.

    Đối chiếu với các quy định trên thì cấp sơ thẩm không vi phạm, do đó không có căn cứ để huỷ án sơ thẩm.

  4. Tại phiên toà phúc thẩm phía chị O xin được thỏa thuận với vợ chồng anh N để đổi vị trí đất:

    Phần đất của chị O mua của chú ruột (ông L1), phần đất của ông N1 và diện tích đất bà V, bà C được chia (sử dụng để làm ngõ đi) nằm liền kề, song song với nhau.

    Hiện trạng, diện tích đất ngõ này đang bám theo ngõ cũ của nhà ông T6, tạo thành 1 ngõ dài đi sâu về phía sau khu đất, trường hợp chị O và anh N thỏa thuận đổi đất cho nhau thì phần diện tích đất này (66,4m²) được chuyển về phần đất của chị O với một cạnh bám mặt đường là 1,5m như vậy diện tích đất của nhà chị O chỉ còn 1 cạnh bám mặt đường là 3,5m không đảm bảo điều kiện cạnh thửa để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông N1, chị O khẳng định thửa đất của ông N1 trước sau gì cũng cho chị O nên nâng tổng cạnh thửa lên 8,5m tuy nhiên đây mới chỉ là dự kiến trong tương lai, hiện tại phần đất này chưa thuộc quyền sử dụng của chị O, trường hợp các bên vẫn giữ được sự thỏa thuận này thì đến giai đoạn thi hành án sẽ thực hiện trên cơ sở các quy định của Luật đất đai hiện hành.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên còn có ý kiến về quyết định, sửa chữa bổ sung bản án của tòa án sơ thẩm, tuy nhiên, quyết định sửa chữa bổ sung bản án của toà án cấp sơ thẩm cũng chỉ làm rõ hơn và cụ thể hơn lời tuyên của bản án, không làm thay đổi bản chất và nội dung của bản án nên đây cũng không phải là lý do để huỷ hay sửa án. Mặt khác, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá cũng đã thẩm định, đo vẽ lại diện tích, vị trí đất tranh chấp để đảm bảo công tác thi hành án sau này. Đây cũng là thiếu sót mà tòa án sơ thẩm cần rút kinh nghiệm, mặc dù đã đính chính bổ sung bản án tuy nhiên lời tuyên còn chưa chính xác: Công trình chị O xây dựng trên đất (đã được tọa độ, thẩm định và đo vẽ lại có diện tích là 66,4m²) là 1 phần công trình nhà, xưởng, nhà vệ sinh... chứ không phải là toàn bộ công trình.

    Do đó, không chấp nhận kháng cáo của: Chị Đào Thị O, bà Đào Thị V và ông Đào Văn N1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 100/2025/DSST ngày 29/9/2025 của TAND khu vực 5 - Thanh Hoá

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Về án phí: Chị O là hộ cận nghèo, ông N1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm; bà V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 ; Điều 309 của Bộ luật tố tụng Dân sự:

    Không chấp nhận kháng cáo của chị Đào Thị O, bà Đào Thị V và ông Đào Văn N1.

    Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 100/2025/DSST ngày 29/9/2025 của TAND khu vực 5 - Thanh Hóa như sau: Căn cứ khoản 3, 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1, khoản 5 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.

    Căn cứ Điều 166, Điều 175, Điều 176, Điều 254, Điều 500, Điều 502 và Điều 503 của Bộ luật Dân sự 2015.

    Căn cứ Điều 100, Điều 105, Điều 168, Điều 170, Điều 171, Điều 188 và Điều 203 của Luật đất đai 2013; Điều 133, khoản 2 Điều 136 và Điều 220 của Luật đất đai 2024.

    Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Xử:

    Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Thế N và chị Phạm Phương T. Buộc chị Đào Thị O phải trả lại cho vợ chồng anh N, chị T diện tích đất 66,4m² bao gồm: Phần nhà xưởng (bán bình) 19,0m²; phần nhà cấp 4 mái fibro 24,7m²; công trình phụ mái fibro 8,1m²; bếp mái fibro 1,5m² và 13,1m² đất trống đã xây tường rào (có bản vẽ và tọa độ kèm theo) thuộc thửa đất 129, tờ bản đồ số 20, bản đồ địa chính xã H (cũ), là diện tích đất nằm trong thửa đất số 129, tờ bản đồ số 20, bản đồ địa chính xã H (cũ) đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cập nhật vào ngày 07/9/2022 cho người sử dụng đất anh Nguyễn Thế N và chị Phạm Phương T.

    Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của chị Đào Thị O, yêu cầu độc lập của bà Đào Thị Vĩnh .

    Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về số tiền hỗ trợ bị đơn 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

    Về xử lý tiền chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn đối với số tiền 14.000.000 đồng chi phí tố tụng. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà V không phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền trên. Buộc bị đơn chị Đào Thị O phải chịu chi phí tố tụng là 4.000.000 đồng, trả lại cho chị O 1.000.000 đồng chi phí tố tụng còn thừa theo quy định của pháp luật.

    Về án phí dân sự sơ thẩm: Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 480.000 đồng, theo biên lai thu số 0003255 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa). Miễn án phí cho chị O. Buộc bà Đào Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền phải nộp được trừ vào biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003285 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa). Trả lại cho bà V số tiền án phí còn lại 180.000 đồng tại biên lai thu tiền án phí trên.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Toà án: Chị Đào Thị O, ông Đào Văn N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Đào Thị V phải chịu 300.000₫ án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp tại biên lai thu số 0002205 ngày 24/10/2025 (người nộp thay là Tống Văn T2)
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; VKSND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - TAND, VKSND khu vực 5 - Thanh Hoá;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Lê Thị Phương Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp về quyền sử dụng đất bị lấn chiếm

  • Số bản án: 163/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất bị lấn chiếm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về quyền sử dụng đất bị lấn chiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger