Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI

Bản án số: 162/2025/HS-ST

Ngày: 14-11-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAΙ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Nga và bà Nguyễn Ngọc Cúc.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2025/TLST-HS ngày 03/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:

Sẩm Khì D (tên gọi khác: B), sinh ngày 01/9/1989, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi thường trú: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sẩm Say K, sinh năm 1955 và bà Ngô Thị Q, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1995 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2020; Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 03 tiền án:

  • + Ngày 26/7/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2018/HS- ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2019.

  • + Ngày 25/3/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/3/2022.

  • + Ngày 31/10/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 194/2022/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2024.

Nhân thân:

  • + Ngày 13/7/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2011/HSST, chấp hành xong hành phạt tù ngày 13/11/2011.

  • + Ngày 15/7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/6/2015.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 29/3/2025. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1985;

Trú tại: Số A, đường N, ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai. (Ông M vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sẩm Khì D là đối tượng đã 05 lần bị kết án về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Dếnh quen biết với đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân lai lịch) từ trước do D có bán cho T1 một xe mô tô không có giấy tờ trước đó, khi D và T1 gặp nhau T1 rủ D đi tiêu thụ xe do người khác phạm tội mà có, D đồng ý. D nhận xe từ đối tượng không rõ nhân thân lai lịch đi tiêu thụ hoặc nhận về và giao lại cho T1, mỗi lần D giao xe cho T1 ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh thì T1 sẽ trả công cho D số tiền 1.000.000 đồng/1 xe, còn giao xe ở khu vực ở tỉnh Tây Ninh thì T1 sẽ trả công cho D số tiền 2.000.000 đồng/1 xe. Vào lúc 11 giờ 30 ngày 28/3/2025, T1 sử dụng mạng xã hội zalo có tên tài khoản “Tiến Đạt” gọi điện thoại cho D và nói D đến khu vực Bệnh viện Đ1, tỉnh Đồng Nai để nhận xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển số 75K1-571.12 và mang xe đến đường Phạm Văn Đ ở Thành phố Hồ Chí Minh để giao lại cho T1. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, D bắt xe Grap đến khu vực Bệnh viện Đ1 nhưng T1 đổi địa điểm nhận xe và nói D đến ngã tư T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để nhận xe, D tiếp tục bắt xe Grap đến khu vực ngã tư T. D đứng đợi tại đây được khoảng 05 phút thì có 01 đối tượng nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển số 75K1-571.12 đến giao xe cho D. Sau khi nhận xe D điều khiển xe chạy về hướng Thành phố Hồ Chí Minh để giao cho T1. Dếnh điều khiển xe trên Quốc lộ A, khi đi đến địa phận phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì D bị người dân phát hiện giữ lại giao cho Công an phường Đ, tỉnh Bình Dương. Công an phường Đ đã tiếp nhận đối tượng tạm giữ vật chứng gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển số 75K1-571.12, Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 điện thoại di động hiệu OPPO ZENO4, số sim 0327350609. Sau khi xác minh xác định xe mô tô biển số 75K1-571.12 là xe có liên quan đến vụ trộm cắp xảy ra trên địa bàn xã T, tỉnh Đồng Nai nên Công an phường Đ đã bàn giao hồ sơ và đối tượng cùng vật chứng cho Công an xã T để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.

Kết quả điều tra xác định: vào tối ngày 25/3/2025 tại đường N, xã T, tỉnh Đồng Nai, ông Nguyễn Hữu M để xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode biển số 75K1-571.12 trong nhà rồi đóng cửa đi ngủ, khi đó ông M có kéo cửa chính, dùng ổ khóa móc cố định bên trong nhưng không khóa, đến sáng ngủ dậy thì phát hiện bị kẻ gian đột nhập lấy trộm mất chiếc xe mô tô biển số 75K1-571.12. Sau đó ông M theo dõi định vị gắn trên xe mô tô phát hiện chiếc xe đang ở gần khu vực Bệnh viện Đ1, ông M đã báo cho Công an phường Đ và người dân hỗ trợ bắt giữ khi D đang điều khiển xe đi đến khu vực phường Đ, tỉnh Bình Dương.

Ngoài ra quá trình điều tra, ông Nguyễn Hữu M còn trình báo về việc mất trộm tài sản xảy ra ngày 25/3/2025 gồm: 01 nhẫn vàng (01 chỉ) vàng 18K; 01 vòng đeo tay bằng vàng (2,5 chỉ) loại vàng 18k; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax; 02 (hai) đồng hồ đeo tay hiệu Rolex và 9.000.000 đồng tiền mặt. Tuy nhiên ngoài lời khai của ông M, không có chứng cứ khác chứng minh ngày 25/3/2025 ông M còn bị mất tài sản trên.

Ngày 3/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ban hành công văn số: 8309/YC-CSHS yêu cầu định giá tài sản đối với 01 xe mô tô biển số 75K1- 571.12. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 5/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển số 75K1-571.12 có trị giá là 41.000.000 (bốn mươi mốt triệu) đồng. Ngày 03/4/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã khởi tố vụ án: “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, khởi tố bị can đối với Sẩm Khì D về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” để điều tra. Quá trình điều tra D đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Đối với vụ “Trộm cắp tài sản” do chưa xác định được đối tượng thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tách vụ án “Trộm cắp tài sản” để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Bản Cáo trạng số 20/CT-VKSVC ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai truy tố bị cáo Sẩm Khì D về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ khoản 2 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai phát biểu luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Sẩm Khì D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo: Sẩm Khì Dếnh mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2025.

  • - Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển số 75K1-571.12 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hữu M, Cơ quan điều tra đã trả xe kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông M. Đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO ZENO4 gắn sim số 03273506094 là công cụ bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

  • - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Sẩm Khì D có mặt, bị hại ông Nguyễn Hữu M vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy lời khai của ông Nguyễn Hữu M đã đầy đủ trong quá trình điều tra, nên sự vắng mặt của ông M không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 28/3/2025, Sẩm Khì Dếnh biết rõ nguồn gốc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển số 75K1-571.12 (trị giá 41.000.000 đồng, của ông Nguyễn Hữu M) là tài sản do người khác phạm tội mà có, D vẫn giúp đối tượng tên T1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) mang đi tiêu thụ.

Hành vi của bị cáo Sẩm Khì D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo phạm tội trong trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Sẩm Khì D là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo có nhiều tiền án, từng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ở nhiều địa phương khác nhau. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tung hinh sự:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển số 75K1-571.12 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hữu M, Cơ quan điều tra đã trả xe kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông M là đúng quy định pháp luật.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO ZENO4 có gắn sim số 03273506094 (số seri sim 8984 04800 03828 54713) là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

(Vật chứng nêu trên đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2025 giữa Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Đồng Nai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ)

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Hữu M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Quá trình điều tra, ông Nguyễn Hữu M trình báo về việc mất trộm tài sản xảy ra ngày 25/3/2025 gồm: 01 nhẫn vàng (01 chỉ) vàng 18K; 01 vòng đeo tay bằng vàng (2,5 chỉ) loại vàng 18k; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax; 02 (hai) đồng hồ đeo tay hiệu Rolex và 9.000.000 đồng tiền mặt. Tuy nhiên ngoài lời khai của ông M, không có chứng cứ khác chứng minh ngày 25/3/2025 ông M còn bị mất tài sản trên. Ngày 03/4/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã khởi tố vụ án: “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đối với vụ “Trộm cắp tài sản” do chưa xác định được đối tượng thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tách vụ án “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ đối với vụ án “Trộm cắp tài sản” để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên T1 rủ Sẩm Khì Dếnh tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và đối tượng nam thanh niên giao xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode biển số 75K1-571.12 cho Sẩm Khì Dếnh tại khu vực ngã tư T: Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Sẩm Khì D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

    Tuyên bố: Bị cáo Sẩm Khì D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Xử phạt bị cáo: Sẩm Khì D 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2025.

  2. Căn cứ các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO ZENO4 có gắn sim số 03273506094 (số seri sim 8984 04800 03828 54713).

    (Vật chứng nêu trên đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2025 giữa Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Đồng Nai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ)

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Sẩm Khì D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Hữu M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại;

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai

  • - VKSND Khu vực 3 - Đồng Nai;

  • - Công an tỉnh Đồng Nai;

  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai;

  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;

  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Quang Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 162/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sẩm Khì D - Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger