Hệ thống pháp luật
Ngày 26/9/2025 1

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Bình
  • Ông Phan Đình Nguyễn
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thoả là Thư ký Toà án nhan dân Khu vực 5 - Nghệ An.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5- Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Ngọc C, sinh năm 1985 tại xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm L, xã C, tỉnh Nghệ An; Số CCCD: [...], ngày cấp 03/7/2023; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12;dân tộc: Kinh; giới tính:Nam; Tôn giáo:Không; Quốc tịch:Việt Nam; con ông Ngô Ngọc T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1962; Có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Con có 04 người, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/7/2025 đến 25/7/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” Có mặt.

Bị hại: Chị Tăng Thị C1, sinh năm 1976, Anh Trương Văn N, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Xóm H, xã C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Ngọc T, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Xóm L, xã C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 45 phút, ngày 15/07/2025, Ngô Ngọc C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dahan, màu tím, chủng loại Dream II, biển số 37K1-5376 của ông Ngô Ngọc T, sinh năm 1960, trú tại xóm L, xã C, tỉnh Nghệ An đi đến nhà chị Tăng Thị C1, sinh năm 1976, trú tại xóm H, xã C, tỉnh Nghệ An thì gặp con trai của chị C1 là Trương Tuấn A, sinh năm 2005 nên C nhờ A đi mua thuốc và nước cho mình. Sau đó, C đi vào khu vực vườn cạnh nhà chị C1 để đi vệ sinh thì phát hiện thấy nhà chị C1 không có ai ở nhà. C biết trong tủ gỗ ở phòng khách nhà chị C1 để vàng nên C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài. C đi bộ ra phía sau nhà bếp nhà chị C1, lấy một con dao đăn ở phía ngoài nhà bếp rồi dùng dao chặt vào cánh cửa gỗ phía sau nhà bếp 03-04 lần thì chốt cửa bị rơi, cửa mở ra. C đi đến khu vực tủ gỗ để ở phòng khách của gia đình chị C1, dùng tay phải cầm cán dao, chọc mũi dao vào khe cánh tủ (gần vị trí ổ khóa) cạy 03-04 lần thì cánh tủ bung ra. Thấy bên trong tủ có một túi ni lông màu đen, C mở ra thì phát hiện bên trong túi có nhiều tờ mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng, một hộp tròn màu đỏ bên trong chứa 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, một hộp tròn màu đỏ chứa 02 (hai) nhẫn tròn kim loại màu vàng và một tờ giấy bị vo tròn bên trong giấy chứa 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng. C lấy toàn bộ số tiền và vàng bỏ vào túi quần của mình rồi đi ra cổng, điều khiển xe mô tô đi đến xã Đ, tỉnh Nghệ An để tìm nơi bán vàng. Khi đi đến khu vực cầu Đ, xã C, tỉnh Nghệ An, C kiểm đếm và xác định số lượng tiền mặt vừa chiếm đoạt của gia đình chị C1 là 6.100.000 đồng (gồm 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 23 tờ mệnh giá 200.000 đồng) rồi sau đó vứt túi ni lông màu đen và tờ giấy gói dây chuyền xuống sông và tiếp tục điều khiển xe mô tô đi hướng xã Đ, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, C đi vào cửa hàng vàng bạc “P” của chị Phạm Thị O (sinh năm 1970, trú tại xóm C, xã Đ, tỉnh Nghệ An) để bán số tài sản trộm cắp được. Tại đây, C đưa cho chị O 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, 02 (hai) nhẫn tròn kim loại màu vàng đều được bỏ trong hộp màu đỏ và 01 (một) sợi dây chuyền bỏ rời bên ngoài để bán. Sau khi kiểm tra, chị O nói với C sợi dây chuyền bỏ rời bên ngoài không phải là vàng thật nên C cầm lấy sợi dây chuyền đó bỏ vào túi quần của mình. Số vàng còn lại có tổng khối lượng là 2,91 chỉ (Hai phẩy chín mươi mốt chỉ) có giá 30.700.000 đồng (Ba mươi triệu bảy trăm nghìn đồng), chị O thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 1057563152, ngân hàng V của Ngô Ngọc C. Bán được số tài sản trộm cắp, C đi về nhà và trên đường đi C đã vứt sợi dây chuyền giả vào vũng nước ở khu vực xã T, tỉnh Nghệ An.

C đã sử dụng tiền mặt trộm cắp được trả nợ cho anh Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1985, trú tại xóm L, xã C, tỉnh Nghệ An 1.500.000 đồng và cùng anh T1 ăn uống hết 700.000 nghìn đồng, thuê nhà nghỉ hết 200.000 đồng. Số tiền bán tài sản trộm cắp chuyển qua tài khoản, C đã chuyển khoản trả nợ cho anh Nguyễn Tư T2, sinh năm 1972, trú tại xóm X, xã C, tỉnh Nghệ An 6.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng). Như vậy, số tiền mặt lấy trộm được, C đã sử dụng hết 2.100.000 đồng, còn 4.000.000 đồng C đã giao nộp cho cơ quan điều tra (trong số tiền mặt được sử dụng, C lấy 300.000 đồng tiền của bản thân mình bỏ thêm vào); Số tiền bán vàng được chuyển vào số tài khoản của C là 30.700.000 đồng, C đã tiêu xài cá nhân và trả nợ hết 16.200.000 đồng, số tiền 14.500.000 đồng còn lại hiện đang trong tài khoản ngân hàng của C. Đến khoảng 06 giờ, ngày 16/07/2025, phát hiện thấy tài sản bị mất nên chị Tăng Thị C1 đã làm đơn đến Công an xã C để trình báo. Ngày 16/7/2025, nhận thức được hành vi phạm tội của mình, biết không thể trốn tránh được pháp luật nên Ngô Ngọc C đã đến Công an xã C đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp số tiền 4.000.000 đồng. Cơ quan điều tra tiến hành đến địa điểm C khai nhận vứt chiếc dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, tiến hành thu giữ niêm phong sợi dây chuyền.

Tại bản kết luận giám định số 91/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 25/07/2025 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh N kết luận: “Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) (có bảng kê mệnh giá, mã số hiệu kèm theo) gồm: 02 (hai) tờ T3 mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và 15 (mười lăm) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật.”).

Tại bản kết luận 5868/KL-KTHS ngày 12 tháng 08 năm 2025 của V1 (C09) Bộ C2, kết luận: “01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, được liên kết với nhau bằng các mắt xích, trong đó có một mắt xích màu đen (dạng bị đốt) gửi giám định có tổng khối lượng 17,08 gam đều là hợp kim của đồng (Cu) và kẽm (Zn); hàm lượng trung bình Cu: 86,64%, Zn: 13,36%. Dây chuyền có màu vàng do được phủ lớp màu vàng không phải vàng kim loại.”

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 84/KL-HĐĐGTS ngày 30/07/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng tỉnh Nghệ An, xác định: “Giá trị tài sản là 01 (Một) sợi dây chuyền bằng Vàng 9999 và 02 (Hai) chiếc nhẫn tròn bằng Vàng 9999 có tổng khối lượng là 2,91 chỉ (Hai phẩy chín mươi mốt chỉ), tại thời điểm ngày 15/07/2025, có giá trị 31.931.430 đồng (Ba mươi mốt triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm ba mươi đồng).”

Tại bản kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐGTS ngày 29/08/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng tỉnh Nghệ An, xác định: “01 (Một) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, được liên kết với nhau bằng các mắt xích, trong đó có một mắt xích màu đen (dạng bị đốt), có tổng khối lượng 17,08 gam đều là hợp kim của đồng (Cu) và kẽm (Z), tại thời điểm tháng 7 năm 2025 có giá trị 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng).”

Tạm giữ tài liệu, đồ vật: Cơ quan điều tra tạm giữ 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dahan, chủng loại Dream II, màu tím, mang biển số 37K1-5376 của ông Ngô Ngọc T; 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu đen của bị cáo; 01 (một) con dao (loại dao đăn) dài 46,5cm do chị Tăng Thị C1 giao nộp; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, được liên kết với nhau bằng các mắt xích, trong đó có một mắt xích màu đen do cơ quan điều tra truy tìm. Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) do Ngô Ngọc C tự nguyện giao nộp, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Tăng Thị C1

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 34.100.000 đồng, nay bị hại là chị Tăng Thị C1, anh Trương Văn N không yêu cầu bồi thường gì thêm, chị C1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Ngọc T có ý kiến: Đề nghị Toà án trả lại ông 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dahan, chủng loại Dream II, màu tím, mang biển số 37K1-5376.

Bản cáo trạng số 14/CT -VKS ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An truy tố Ngô Ngọc C về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Ngọc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Ngọc C mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hương án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại, nay không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại ông Ngô Ngọc T 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dahan, chủng loại Dream II, màu tím, mang biển số 37K1-5376; Trả lại Ngô Ngọc C 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu đen; Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao (loại dao đăn) dài 46,5cm; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, được liên kết với nhau bằng các mắt xích, trong đó có một mắt xích màu đen.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Ngô Ngọc C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, không tự bào chữa, xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin được cải tại địa phương, xin Toà trả lại 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu đen.

Ông Ngô Ngọc T đề nghị Toà án trả lại ông 0 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dahan, chủng loại Dream II, màu tím, mang biển số 37K1-5376.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:Tại phiên tòa bị cáo Ngô Ngọc C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai bị hại; lời khai người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu được; phù hợp với bản kết luận giám định;bản kết luận định giá tài sản và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/07/2025, tại xóm H, xã C, tỉnh Nghệ An, Ngô Ngọc C đã lén lút chiếm đoạt số tiền 6.100.000 đồng; 01 sợi dây chuyền vàng; 02 chiếc nhẫn vàng và 01 sợi dây kim loại của vợ chồng chị Tăng Thị C1, anh Trương Văn N có tổng trị: 38.111.430 đồng (Ba mươi tám triệu, một trăm mười một ngàn, bốn trăm ba mươi đồng), đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự . Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại; sau khi phạm tội ra đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giản nhẹ trách nhiệm hình sự, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm. Bị cáo làm nghề lao động tư do, thu nhập thấp nên miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại, nay không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dahan, chủng loại Dream II, màu tím, mang biển số 37K1-5376 thuộc quyền sở hữu của ông Ngô Ngọc T, việc C sử dụng xe thì ông T không biết, ông không có lỗi do đó trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu hợp pháp.

01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu đen thu tại bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó trả lại cho bị cáo.

01 (một) con dao (loại dao đăn) dài 46,5cm mà bị cáo dùng để phá cửa vào nhà chị C1 thuộc quyền sở hữu của vợ chồng chị Tăng Thị C1, anh Trương Văn N, nay chị C1, anh N không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng thuộc quyền sở hữu của chị Tăng Thị C1 được định giá 80.000đồng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho chị C1, nay bị cáo không có yêu cầu nhận lại tài sản này do đó tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Ngô Ngọc T là người cho Ngô Ngọc C mượn xe, chị Phạm Thị O là người mua vàng từ Ngô Ngọc C, anh Nguyễn Hoàng T1 và anh Nguyễn Tư T2 là những người được C trả nợ từ tiền trộm cắp mà có. Nhưng những người này không biết mục đích sử dụng xe và nguồn gốc tài sản của Ngô Ngọc C đem đi bán cũng như sử dụng để trả nợ nên Cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

  1. Tuyên bố bị cáo: Ngô Ngọc C phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
  2. Xử phạt: Ngô Ngọc C 18 (Mười tám ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Ngô Ngọc C cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Trả lại ông Ngô Ngọc T 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dahan, chủng loại Dream II, màu tím, mang biển số 37K1-5376, xe đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo Ngô Ngọc C 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu đen, có gắn thẻ sim số 0987.242.947, điện thoại đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao (loại dao đăn) dài 46,5cm; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, được liên kết với nhau bằng các mắt xích, trong đó có một mắt xích màu đen.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/9/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5 - Nghệ an)

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Ngọc C phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND Khu vực 5 – Nghệ An;
  • - Phòng PV 06 Công An tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã Cát Ngạn, tỉnh Nghệ An
  • (thay thông báo)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/TLST-HS ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 16/2025/TLST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Ngô Ngọc C trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger