|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2025/HS-PT
Ngày: 30-9-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
-
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Võ Thanh Huyến
Ông Võ Văn Lịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 212/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 09 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị hại với Bản án hình sự sơ thẩm số: 171/2025/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – An Giang).
- Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 07/8/1990 tại M, Hà Nội; Nơi cư trú: Số C N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Nay là C N, phường R, tỉnh An Giang); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q và bà Trần Thị T; có vợ Nguyễn Thị Tú M; con có 01 người sinh năm 2017.
- Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị khởi tố ngày 13/01/2025 và ra Lệnh cấm khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại số C N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại kháng cáo:
Bị hại: Ông Danh M1, sinh năm 1990 (Có mặt)
Địa chỉ: Số B N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. (Nay là B N, phường R, tỉnh An Giang)
(Ngoài ra còn người làm chứng, không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn về hợp đồng làm giấy tờ đất giữa ông Danh M1, sinh năm: 1986, nơi cư trú: số B N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và Nguyễn Văn H, sinh năm: 1990, nơi cư trú: C N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (Làm môi giới bất động sản). Vào Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 11 năm 2024, ông M1 điều khiển xe Yamaha MXKING màu xanh đen, biển kiểm soát 68S1 - 455.79 đi đến nhà H hỏi về hợp đồng làm giấy tờ đất. Khi đến gần nhà H thì thấy H đang cầm len trộn hồ nên ông M1 đậu xe gần đó, rồi đi bộ lại nói chuyện với H về hợp đồng đăng ký quyền sử dụng đất, hai bên cự cãi, lời qua tiếng lại, rồi ông M1 lấy xe chạy ra đầu hẻm C N, cách chỗ H đang làm khoảng 20 mét và đậu xe đối diện nhà số C N, khu phố F, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và dùng điện thoại di động quay phim, chụp hình để làm bằng chứng. Lúc này, H cầm cây len trộn hồ, (có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại) đi về phía ông M1 hỏi “Mày quay cái gì”; hai bên cự cãi, lời qua tiếng lại, rồi dùng gạch, đá ném vào nhau nhưng không trúng ai, chỉ trúng vào xe của ông M1 khoảng 02 cái nên ông M1 bỏ chạy về hướng đầu hẻm C N, phường A thì H đuổi theo một đoạn. Sau đó, H quay lại dùng cây len trên đập vào đầu xe mô tô trên của ông M1 vài cái, rồi bỏ về nhà, ông M1 đi trình báo Công an phường A.
Tài sản bị thiệt hại: Mão chắn gió trên đầu đèn bị gãy lẫy và rơi ra khỏi đầu đèn; ốp đầu trước bị vỡ trên mặt đồng hồ; ốp đầu sau bị gãy ở mặt dưới; vỡ kính, vỡ đế ốp đồng hồ; vỡ chóa đèn và nứt ốp đèn chính; vỡ ốp nhựa đèn sương mù bên tay ga; mặt nạ bên trên đèn sương mù bên tay ga bị nứt và có nhiều vết xước; đế mặt nạ bị trầy xước.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) cây len có cán bằng gỗ dài 1,12m, lưỡi len bằng kim loại dài 0,38 mét, vị trí rộng nhất của lưỡi len là 0,23m, cây len đã qua sử dụng.
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại MXKING 150, màu xanh đen, biến kiểm soát 68S1 - 455.79; xe đã qua sử dụng, phần đầu xe bị hư hỏng nhiều vị trí.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 161/KL-HĐĐGTS, ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R kết luận:
- Mão chắn gió trên đầu đèn bị gãy lẫy và rơi ra khỏi đầu đèn, thời điểm định giá ngày 23/11/2024 là 163.000 đồng.
- Ốp đầu trước bị vỡ trên mặt đồng hồ, thời điểm định giá ngày 23/11/2024 là 155.000 đồng.
- Ốp đầu sau bị gãy ở mặt dưới vị trí bắt chóa đèn, thời điểm định giá ngày 23/11/2024 là 148.000 đồng.
- Vỡ kính, vỡ đế ốp đồng hồ, thời điểm định giá ngày 23/11/2024 là 1.463.000 đồng.
- Vỡ chóa đèn và nứt ốp đèn chính, thời điểm định giá ngày 23/11/2024 là 453.000 đồng.
- Vỡ ốp nhựa đèn sương mù bên tay ga, thời điểm định giá ngày 23/11/2024 là 757.000 đồng.
- Mặt nạ bên trên đèn sương mù bên tay ga bị nứt và có nhiều vết xước, thời điểm định giá ngày 23/11/2024 là 152.000 đồng.
- Đế mặt nạ bị xước, thời điểm định giá ngày 23/11/2024 là 175.000 đồng.
Tổng thiệt hại: 3.466.000 đồng. (Ba triệu, bốn trăm, sáu mươi sáu nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 170/CT-VKS ngày 07/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 171/2025/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – An Giang) đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 19/6/2025.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H về Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357, 468, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự 2015;
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại về việc bị cáo đồng ý bồi thường chi phí sửa chữa xe cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Văn H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá tổng cộng số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) bao gồm 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0009294 ngày 13/6/2025 và 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0009302 ngày 19/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá. Bị hại Danh M1 có quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá để nhận số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0009294 ngày 13/6/2025 và 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0009302 ngày 19/6/2025 khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Số tiền còn lại 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) bị cáo Nguyễn Văn H phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Danh M1 khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bác yêu cầu của bị hại đối với yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí đi lại do không có phương tiện lưu thông, tiền tổn thất tinh thần, tiền mất thu nhập do phải đi đến cơ quan tố tụng làm việc số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/6/2025, bị hại Danh M1 kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Tăng hình phạt cho bị cáo, yêu cầu bồi thường thiệt hại thêm số tiền 4.850.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại bổ sung kháng cáo nêu rõ, yêu cầu tăng hình phạt của bị cáo H từ tù treo chuyển sang tù giam và tăng tiền bồi thường thêm 14.850.000 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về tội danh, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Về hình phạt: Do mâu thuẫn cá nhân, bị cáo cố ý thực hiện hành vi làm hư hỏng tài sản người khác. Bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bồi thường khắc phục hậu quả theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với mức độ, hành vi của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện nên được cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm là đúng quy định. Bị hại cho rằng bị cáo không trả lại tiền trong giao dịch nhờ làm giấy tờ đất với bị hại là không chấp hành pháp luật, nhân thân không tốt, việc đập xe là côn đồ, không ăn năn hối cải, không bồi thường kịp thời là không có căn cứ chấp nhận. Do mâu thuẫn bị hại đến nhà bị cáo xảy ra cự cãi, bị hại dùng điện thoại quay phim nhà bị cáo từ đó bị cáo bức xúc, thiếu kiềm chế mới xảy ra sự việc.
Về phần trách nhiệm dân sự: Bản án sơ thẩm đã xem xét toàn bộ thiệt hại tài sản của bị hại và ghi nhận buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 11.000.000đ (Mười một triệu đồng). Bị hại kháng cáo yêu cầu tăng tiền bồi thường do kéo dài thời gian đặt linh kiện về sửa xe bị hại phải thuê xe đi làm là không có căn cứ.
Từ nhận định nêu trên đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lời nói sau cùng bị cáo thống nhất với bản án sơ thẩm, do bị hại đến nhà nhiều lần, quay phim nhà, quay phim bị cáo cùng những người khác nên bị cáo có bức xúc đi ra ngăn cản, hai bên ném qua lại, bị cáo có đập 2-3 cái vào đầu xe của bị hại. Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Xét đơn kháng cáo của bị hại về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quyết định của Bản án sơ thẩm: Do mâu thuẫn cá nhân, sau khi rượt đánh nhau với bị hại không được, bị cáo Nguyễn Văn H đã dùng leng (đang xúc cát) đập vỡ phần đầu xe honđa của bị hại Danh M1. Theo kết luận định giá tài sản bị hư hỏng có giá trị bằng 3.466.000 đồng. Do đó bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt, yêu cầu tăng tiền bồi thường đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, bị hại có đến nhà bị cáo cự cãi, do bức xúc vì bị hại dùng điện thoại quay phim về hướng nhà mình nên bị cáo dùng leng đập vào đầu xe honđa của bị hại. Bản án đã xem xét đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là tương xứng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện nên cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 03 năm là phù hợp.
Các ý kiến trình bày của bị hại về việc bị cáo có tranh chấp hợp đồng thuê làm giấy tờ với mình là không chấp hành pháp luật, bị cáo không đặt phụ kiện để sửa xe kịp thời là không phải bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo côn đồ khi không phải đứng ra ngăn cản bị hại quay phim mà cố tình đập xe bị hại và có phạm tội đến cùng đều không phù hợp. Đối với phần bồi thường, cấp sơ thẩm đã xem xét chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) là có căn cứ.
Bị hại kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt và tăng tiền bồi thường do thời gian chậm đặt hàng sửa xe là không có căn cứ, cấp sơ thẩm đã buộc bồi thường đúng quy định nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị hại.
[4] Về quan điểm đề nghị Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại Danh M1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 19/6/2025 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H về Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguyễn Văn H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357, 468, 584, 585, 589 Bộ luật dân sự 2015;
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại về việc bị cáo đồng ý bồi thường chi phí sửa chữa xe cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Văn H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá tổng cộng số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) bao gồm 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0009294 ngày 13/6/2025 và 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0009302 ngày 19/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá. Bị hại Danh M1 có quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá để nhận số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0009294 ngày 13/6/2025 và 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0009302 ngày 19/6/2025 khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Số tiền còn lại 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) bị cáo Nguyễn Văn H phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Danh M1 khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
-
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị hại Danh M1 phải nộp án phí phúc thẩm bằng 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016893, ngày 25 tháng 7 năm 2025 của Cục quản lý Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, (bị hại đã nộp xong án phí).
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 171/2025/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh An Giang) không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Diệu Hiền |
Bản án số 157/2025/HS-PT ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm về tội cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 157/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn văn H - Hủy hoại tài sản
