Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1550/2025/DS-PT

Ngày: 05 - 12 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Đa.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Trúc

Bà Đinh Thị Mộng Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quốc Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Kim Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1111/2025/TLPT-DS ngày 03/11/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6604/2025/QĐXXPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Đỗ Tấn P, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố C, phường L, thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Hoàng V, sinh năm 1976; địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố C, phường L, thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn:

Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1965; địa chỉ: khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố A, phường B, thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.

Người kháng cáo: bị đơn ông Huỳnh Văn S.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Vợ chồng ông P, bà V có cho ông S mượn tiền 03 lần, cụ thể: Lần 01 là 40.000.000 đồng; Lần 2 là 50.000.000 đồng và lần 3 là 12.850.000 đồng (ông P không nhớ thời gian cho mượn cụ thể); tổng số tiền mượn là 102.850.000 đồng, không có lãi suất, vì hai bên là bạn thân của nhau. Sau nhiều lần mượn tiền nhưng không có tiền trả nên ngày 01/9/2019 hai bên tính tổng tiền nợ và ông S viết giấy Biên nhận nợ đưa cho ông P.

Ông S không trả nợ nên ông P yêu cầu ông S đưa ra thời hạn trả nợ và đến ngày 29/8/2022, ông S viết giấy có nội dung hẹn trả nợ vào cuối biên nhận nhận nợ ngày 01/9/2019.

Do ông S không thực hiện cam kết trả nợ nên ông P nhờ Văn phòng Thừa phát lại Bến Cát lập Vi bằng số 723/2024/VB-TPL ngày 17/12/2024 ghi nhận sự việc ông P giao Thông báo ngày 11/12/2024 về việc yêu cầu ông S trả nợ trong thời hạn 10 ngày, nếu không trả thì ông P nhờ cơ quan pháp luật giải quyết.

Ông S vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên vợ chồng ông P, bà V khởi kiện yêu cầu:

Ông S phải trả cho ông P, bà V số tiền nợ gốc là 102.850.000 đồng và tiền lãi chậm trả,từ ngày 01/9/2019 đến ngày 02/01/2025 là 05 năm 04 tháng x 102.850.000 đồng x 10%/năm = 54.853.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P và bà V rút một phần yêu cầu khởi kiện; chỉ còn yêu cầu ông S trả tiền gốc 102.850.000 đồng và lãi 10%/năm,từ ngày 22/12/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 08/8/2025, với số tiền lãi là 6.459.382 đồng.

Theo Bản tự khai ngày 10/7/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông S trình bày:

Ông S có vay của vợ chồng ông P, bà V số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất là 7%/tháng. Ông S đã trả lãi cho ông P, bà V được 02 tháng, do khó khăn nên không có tiền trả cho ông P, bà V. Do đó, ông P, bà V nhiều lần cộng dồn số tiền gốc và tiền lãi, đến ngày ngày 01/9/2019 số tiền gốc + lãi lên đến 102.850.000 đồng; ông S ký biên nhận mượn tiền ngày 01/9/2019, do phải chờ kết quả thi hành án tài sản thừa kế của gia đình mới có tiền trả cho ông P nên ông S tiếp tục ký cam kết và hẹn trả tiền nợ ngày 29/8/2022.

Do tài sản thừa kế của gia đình ông S không được hưởng, không có khả năng để trả nợ ông P; ông S chỉ đồng ý trả cho ông P, bà V số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng và mỗi tháng trả 500.000 đồng cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông P, bà V đồng ý hòa giải, ông S sẽ trả số tiền 30.000.000 đồng để kết thúc vụ án.

3

Tại Bản án sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Tấn P và bà Nguyễn Thị Hoàng V đối với bị đơn ông Huỳnh Văn S về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc ông Huỳnh Văn S có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Tấn P và bà Nguyễn Thị Hoàng V số tiền tổng là: 109.309.382 (một trăm lẻ chín triệu, ba trăm lẻ chín ngàn, ba trăm tám mươi hai) đồng, bao gồm:

  • + Tiền nợ gốc: 102.850.000 đồng;
  • + Tiền lãi tính từ ngày 22/12/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 08/8/2025 là: 6.459.382 đồng.

Kể từ ngày ông Đỗ Tấn P và bà Nguyễn Thị Hoàng V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Huỳnh Văn S không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên, thì ông Huỳnh Văn S còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

  1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền lãi 48.393.618 (bốn mươi tám triệu, ba trăm chín mươi ba ngàn, sáu trăm mươi tám) đồng.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 22/8/2025, bị đơn ông Huỳnh Văn S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp thẩm phúc sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày: Do là bạn bè thân thiết nên ông P cho ông S mượn 02 lần với số tiền mượn 90.000.000 đồng, không có lãi suất. Lần thứ 3 là do ông Sâm C xe mô tô không có tiền chuộc xe phải mượn xe ông P đi mấy tháng, khi ông P lấy lại xe thì ông S tiếp tục nhờ ông P trả tiền chuộc xe về để đi thì mới trả xe cho ông P; ông P phải trực tiếp đến tiệm cầm đồ trả tiền chuộc xe cho ông S, số tiền chuộc xe bao gồm gốc và lãi là 12.850.000 đồng; cộng với tiền mượn trước đó là 90.000.000 đồng thành số tiền 102.850.000 đồng. Ông S nói vay 20.000.000 đồng, lãi 7%/tháng là không đúng. Ông P không thừa nhận các giấy vay tiền do ông S đưa ra tại phiên tòa phúc thẩm vì không có chữ ký của ông P, bà V.

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Ông S thừa nhận có cầm xe và có mượn xe ông P để đi một thời gian như ông P trình bày nhưng việc này không liên quan đến số tiền vay mượn giữa hai bên.

Ông S giao nộp một số giấy vay tiền do ông S ký vay tiền ông P nhưng giấy

4

vay tiền chỉ do ông một mình ông S viết và ký, không có chữ ký của ông P; ông S giải thích là các giấy tờ này mới tìm ra, chưa nộp ở cấp sơ thẩm.

Hai bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đầy đủ chứng cứ, giải quyết vụ án đúng quy định, bị đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Tòa án xét xử vắng mặt bà V theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S giao nộp một số giấy vay tiền do ông S ký vay tiền ông P nhưng giấy vay tiền chỉ do một mình ông S viết và ký, không có chữ ký và sự thừa nhận của ông P, bà V; do đó, giấy vay tiền do ông S giao nộp không có giá trị chứng cứ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu trả tiền gốc: Nguyên đơn trình bày cho bị đơn mượn tiền 03 lần, với tổng số tiền vay gốc là 102.850.000 đồng; với chứng cứ là Biên nhận ngày 01/9/2019 có nội dung: “Tôi Huỳnh Văn Sngụ tại khu phố C, phường B, thị xã B có mượn chú P và V số tiền 102.850.000 đồng”; và đến ngày 29/8/2022, bị đơn ông S tiếp tục ký giấy cam kết trả số tiền mượn nêu trên cho ông P, bà V. Nguyên đơn ông P đã giải thích rõ ràng về số tiền mượn, có số tiền lẻ khi cho mượn tiền là do trả tiền cầm xe mô tô của ông S.

Bị đơn ông S thừa nhận chữ viết, chử ký trong các giấy tờ do ông P đưa ra, thừa nhận có cầm xe và mượn xe của ông P; nhưng vẫn xác định chỉ có vay ông P số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 7%/tháng, do không trả được lãi nên ông P cộng gốc và lãi nhiều lần thành số tiền 102.850.000 đồng. Tuy nhiên, ông S không có chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình, giấy vay tiền do ông S đưa ra tại phiên tòa phúc thẩm chỉ có một mình ông S ký, không có chữ ký của ông P, bà V nên không có giá trị chứng cứ ràng buộc trách nhiệm của ông P, bà V.

5

Do đó, án sơ thẩm xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P, bà V về số tiền gốc ông S phải trả là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.1] Về yêu cầu trả tiền lãi:

Nguyên đơn ông P, bà V đã rút phần lớn yêu cầu tiền lãi chậm trả, chỉ còn lại một phần tiền lãi 6.459.382 đồng; Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần tiền lãi chậm trả và đình chỉ giải quyết đối với số tiền lãi ông P, bà V đã rút yêu cầu là có căn cứ.

[3] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 217; Điều 296; Khoản 1 Điều 308; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn S.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Tấn P và bà Nguyễn Thị Hoàng V đối với bị đơn ông Huỳnh Văn S về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc ông Huỳnh Văn S có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Tấn P và bà Nguyễn Thị Hoàng V số tiền tổng là: 109.309.382 (một trăm lẻ chín triệu, ba trăm lẻ chín nghìn, ba trăm tám mươi hai) đồng, bao gồm:

  • + Tiền nợ gốc: 102.850.000 đồng;
  • + Tiền lãi tính từ ngày 22/12/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 08/8/2025 là: 6.459.382 đồng.

Kể từ ngày ông Đỗ Tấn P và bà Nguyễn Thị Hoàng V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Huỳnh Văn S không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên, thì ông Huỳnh Văn S còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy

6

định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

2.2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Tấn P, bà Nguyễn Thị Hoàng V về yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Văn S thanh toán số tiền lãi 48.393.618 (bốn mươi tám triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, sáu trăm mươi tám) đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 3.942.575 (ba triệu, chín trăm bốn mươi hai nghìn, năm trăm bảy mươi lăm) đồng tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0003608 ngày 13/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh).
  • - Bị đơn ông Huỳnh Văn S được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn S được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - VKSND Tối cao;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Khu vực 18 - TP.HCM;
  • - Phòng THADS khu vực 18, TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Minh Đa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1550/2025/DS-PT ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 1550/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger