|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 154/2025/HSST Ngày: 30/10/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Hoà
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Ngọc Thịnh
- Bà Đào Phương Mai
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội và Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố H, xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 125/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025 - theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/QĐ-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
NGUYỄN NGỌC Q; sinh năm 1989; tại Hà Nội; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (nay là thôn T, xã P, Thành phố Hà Nội); hiện không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc T (đã chết) và bà: Trần Thị H; vợ là Nguyễn Thị T1 và có 02 con (con lớn sinh năm 2011; con nhỏ sinh năm 2013).
Tiền án; tiền sự: (Không)
Nhân thân:
- Ngày 27/02/2017 Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội kết án 05 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 tháng về tội "Đánh bạc".
- Ngày 08/6/2021 Tòa án huyện Chương Mỹ, Hà Nội kết án 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 24 tháng về tội "Trộm cắp tài sản" (trị giá tài sản là 10.050.000 đồng).
Tạm giữ: 27/7/2025
Tạm giam: 30/7/2025
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. (Có mặt).
* Người bị hại:
- Anh Nguyễn Quốc N, sinh năm 1991
Nơi cư trú: K1 xã Ấ, huyện H, tỉnh Phú Thọ (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ). (Vắng mặt). - Anh Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1989
Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là xã Y, tỉnh Lào Cai). (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:
Ngày 10/3/2024, anh Nguyễn Hoàng G; sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Yên Bái (nay là xã H, tỉnh Lào Cai) đến Công an phường P, quận H, Thành phố Hà Nội trình báo. Khoảng 06h00 ngày 09/3/2024, Nguyễn Ngọc Q; sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (nay là xã P, Thành phố Hà Nội) là bạn cùng thuê trọ ở tầng 2 số F N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội trộm cắp 02 chiếc điện thoại, gồm một điện thoại do động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen dung lượng 128GB của Nguyễn Hoàng G và một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng dung lượng 128GB của anh Nguyễn Quốc N. Anh G và anh N đều để điện thoại ở đầu giường ngủ tại tầng 2 số F N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường H, Thành phố Hà Nội).
Tại Cơ quan điều tra, anh Nguyễn Hoàng G và anh Nguyễn Quốc N đều khai nhận: Nguyễn Ngọc Q là bạn cùng làm ở số C H, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường C, Thành phố Hà Nội) và cùng ở trọ tại tầng 2 số F N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường H, Thành phố Hà Nội). Khoảng 06h00' ngày 09/3/2024, anh G và anh N ngủ dậy, phát hiện bị mất điện thoại. Anh G và anh N đều để điện thoại ở đầu giường. Đồng thời anh G và anh N không thấy Q đâu. Đến khoảng 20h30' cùng ngày thì Q gọi điện cho anh N và thừa nhận đã lấy trộm 02 chiếc điện thoại của anh N và anh G mang đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hiện Nguyễn Ngọc Q đã trả 02 điện thoại trên cho anh G và anh N, anh G và anh N đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H.
Tài sản tạm giữ:
- + Một chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen dung lượng 128GB (đã qua sử dụng) của anh Nguyễn Hoàng G.
- + Một chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax màu vàng dung lượng 128GB (đã qua sử dụng) của anh Nguyễn Quốc N.
Theo Kết luận định giá tài sản số 2034/KL- HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H kết luận:
- - Một chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen dung lượng 128G (đã qua sử dụng) có giá là 13.000.000 đồng.
- - Một chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax màu vàng dung lượng 128G (đã qua sử dụng) có giá là 17.000.000 đồng.
Tổng cộng 02 chiếc điện thoại là: 30.000.000 đồng (BL: 69a, 69b)
Đến ngày 26/7/2025, Nguyễn Ngọc Q đã bị Công an phường P, Thành phố Hà Nội bắt theo quyết định truy nã số 4159 ngày 18/9/2024 của Cơ quan điều tra - Công an quận H.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc Q khai nhận: Khoảng tháng 03/2024, Nguyễn Ngọc Q làm thợ sơn tại công trường của Tòa nhà số C H, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường C, Thành phố Hà Nội) và thuê trọ ở chung với anh Nguyễn Quốc N và anh Nguyễn Hoàng G tại tầng 2 số F N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường H, Thành phố Hà Nội). Q phát hiện anh G, anh N đều sử dụng điện thoại đắt tiền, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Q nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 05h30' ngày 09/3/2024, Q thấy anh N và anh G đang ngủ say và sạc pin 02 chiếc điện thoại ở đầu giường, Q lại gần dùng tay phải rút 02 chiếc điện thoại ra khỏi dây sạc và tắt nguồn điện thoại rồi nhét vào túi quần bên phải. Sau đó Q đi bộ về công trường làm việc bình thường. Đến khoảng 14h00' sau khi tan làm Q bắt xe buýt về quê nhờ anh Nguyễn Ngọc M; sinh năm 1983, trú tại: thị trấn G, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội (nay là xã P, Thành phố Hà Nội) là chủ cửa hàng điện thoại mở khóa điện thoại, do điện thoại bị khóa mật khẩu I nên anh M đã trả lại. Đến khoảng 20h00' cùng ngày Q biết anh N, anh G phát hiện Q lấy điện thoại nên Q đã tự chủ động gọi điện cho anh N hẹn đến trạm Y tế xã Đ, huyện C, Hà Nội (nay là xã P, Thành phố Hà Nội) để trả điện thoại. Khi anh N đến nơi Q có nhờ một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) là lái xe taxi được Q trả công 200.000 đồng để mang điện thoại ra trả cho anh N. Còn điện thoại của anh G, Q vẫn giữ lại vì anh G còn nợ chưa thanh toán hết tiền công thợ cho Q với số tiền 1.800.000 đồng. Đến ngày 10/3/2024, Q hẹn anh G đến ngã ba Y, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội (nay là xã P) để trả điện thoại. Anh G đi cùng với anh Phạm Duy T2; sinh năm 1993, trú tại thôn N, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái nay là tỉnh Lào Cai là em trai của anh G. Lúc này Q bảo anh G là điện thoại đang nhờ anh Nguyễn Mạnh C; sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã P, Thành phố Hà Nội là chủ cửa hàng sửa xe máy ở ngã tư Đ, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội (nay là xã P, Thành phố Hà Nội) cầm hộ với số tiền là 3.000.000 đồng. Sau đó, anh G nhờ T2 chở Q đến gặp anh Nguyễn Mạnh C. Tại đây, Q có đưa cho T2 số tiền 1.100.000 đồng và T2 có chuyển cho anh C số tiền 3.000.000 đồng, anh C đã đưa lại điện thoại cho Q và Q đưa trả cho anh G. Do lo sợ mình bị bắt nên Q bỏ trốn, đến ngày 26/7/2025 Q bị bắt và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Cơ quan điều tra - Thành phố Hà Nội ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho anh Nguyễn Quốc N một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng, dung lượng 128GB (đã qua sử dụng) và trả cho anh Nguyễn Hoàng G một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đen, dung lượng 128GB (đã qua sử dụng). Sau khi nhận là tài sản, anh N và anh G không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự.
Đối với số tiền 3.000.000 đồng trong đó có 1.800.000 đồng là tiền công thợ G còn nợ Q, số tiền 1.100.000 đồng là tiền Quân đưa cho T2 trước khi T2 chuyển 3.000.000 đồng cho anh C. Vậy Q vẫn giữ 100.000 đồng của T2. Sau khi sự việc xảy ra anh G đã trả lại cho T2 số tiền 3.000.000 đồng, T2 không có yêu cầu đề nghị gì khác
Đối với số tiền 100.000 đồng, do số tiền không lớn nên anh G không yêu cầu Q phải bồi thường và không yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự.
Đối với anh Nguyễn Mạnh C chỉ là người cầm hộ tiền và điện thoại cho Q khi Q nhờ, anh C không bàn bạc, thỏa thuận, hưởng lợi gì cũng như không biết nguồn gốc tài sản là do Q trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với anh Nguyễn Ngọc M và anh Nghiêm Xuân D được Q mang điện thoại đến nhờ mở khóa điện thoại Icloud, không biết việc Q trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với người lái xe Taxi, do Q khai không biết nhân thân lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 24/9/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Ngọc Q khai nhận toàn bộ hành vi như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất động cơ và mục đích phạm tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Trộm cắp tài sản” - theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q với mức án từ 16 đến 20 tháng tù.
Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Dân sự: Bị cáo chiếm đoạt một điện thoại di động Iphone 12 Promax của anh Nguyễn Hoàng G có trị giá 13.000.000 đồng và một điện thoại di động Iphone 13 Promax của anh Nguyễn Quốc N có trị giá là 17.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 30.000.000 đồng.
- - Anh Nguyễn Hoàng G và anh Nguyễn Quốc N đã nhận lại điện thoại di động và không có yêu cầu gì khác nên không xét.
- - Đối với số tiền 3.000.000 đồng anh T2 chuyển cho anh C, sau đó anh G đã trả lại cho anh T2 3.000.000 đồng; trong đó có 1.800.000 đồng là tiền anh G nợ Q, số tiền 1.100.000 đồng là tiền Quân đưa cho anh T2 trước khi anh T2 chuyển 3.000.000 đồng cho anh C. Như vậy, Q còn thiếu 100.000 đồng của anh G. Hiện anh G không yêu cầu gì về số tiền này.
- - Xét số tiền 100.000 đồng là tiền do Q phạm tội mà có nên buộc bị cáo phải truy nộp để sung quỹ Nhà Nước.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo; lời khai của những người bị hại; tài liệu thu được; kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ phù hợp nhau; hành vi của bị cáo thể hiện như sau:
Anh Nguyễn Hoàng G, anh Nguyễn Quốc N và bị cáo Nguyễn Ngọc Q làm cùng tại công trường ở Hà Nội và cùng thuê trọ tại tầng 2 số F N, phường H, Thành phố Hà Nội.
Khoảng 05h30 ngày 9/3/2024, khi hai anh đang ngủ và để hai điện thoại di động đang sạc pin ở đầu giường thì Q đã lấy điện thoại di động tắt nguồn rồi đi đến công trường làm việc.
Đến 14h00 cùng ngày, Q mang hai điện thoại di động về quê nhờ anh Nguyễn Ngọc M (chủ cửa hàng điện thoại di động) nhờ mở khóa nhưng không được. Cùng ngày, khi Q biết hai anh đã theo dõi phát hiện Q lấy điện thoại di động nên gọi cho hai anh để trả lại điện thoại di động. Khoảng 20h00 cùng ngày Q nhờ một người lái xe taxi (không rõ căn cước) mang một điện thoại di động trả cho anh N. Do anh G còn nợ Q 1.800.000 đồng nên đến ngày 10/3/2024 Q gọi anh G nói là đang nhờ anh Nguyễn Mạnh C cầm hộ chiếc điện thoại với số tiền 3.000.000 đồng. Anh G đã nhờ em là Phạm Duy T2 gặp Q. Khi gặp Q, Q đưa anh T2 1.100.000 đồng. Anh Tú chuyển khoản cho anh C 3.000.000 đồng, anh C đưa điện thoại di dộng cho Q và Q đã mang điện thoại di động trả lại cho anh G.
Theo kết luận định giá, chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Hoàng G có trị giá 13.000.000 đồng và điện thoại di động Iphone 13 Promax bị cáo chiếm đoạt của anh Nguyễn Quốc N có trị giá là 17.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh G và anh N là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Do sợ bị bắt nên Q đã bỏ trốn. Ngày 10/3/2024 anh G và anh N trình báo sự việc trên với Công an phường P, Thành phố Hà Nội. Đến ngày 26/7/2025 Q bị bắt và khai nhận hành vi trên.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Q đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân về tài sản và trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo cần thiết phải truy tố và đưa ra xét xử.
Xét:
- Nhân thân bị cáo: Mặc dù bị cáo có công việc và thu nhập nhưng do thiếu tiền chi tiêu nên bị cáo đã trộm cắp tài sản với ý định bán lấy tiền. Bị cáo đã nhiều lần bị pháp luật xử phạt.
- Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích; nhưng bị cáo vẫn không chịu lao động và tu dưỡng. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho Cơ quan điều tra.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã khắc phục hậu quả vụ án; khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Với những phân tích trên về hành vi của bị cáo, hậu quả của vụ án; nhân thân bị cáo; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và cải tạo bị cáo.
* Biện pháp tư pháp:
- - Anh Nguyễn Hoàng G và Nguyễn Quốc N đã nhận lại tài sản là hai chiếc điện thoại di dộng và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Tòa án không xét.
- - Đối với số tiền 3.000.000 đồng anh T2 chuyển cho anh C, sau đó anh G đã trả cho anh T2 3.000.000 đồng; trong đó có 1.800.000 đồng là tiền anh G nợ Q, số tiền 1.100.000 đồng là tiền Quân đưa cho anh T2 trước khi anh T2 chuyển 3.000.000 đồng cho anh C. Như vậy, Q còn thiếu 100.000 đồng của anh G. Hiện anh G không yêu cầu gì về số tiền này.
- - Xét: 100.000 đồng và tiền do Q phạm tội mà có nên buộc bị cáo Q phải truy nộp để sung quỹ Nhà Nước.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: NGUYỄN NGỌC Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Hình phạt:
Xử phạt: NGUYỄN NGỌC Q 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2025. - Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Dân sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc Q phải nộp 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà Nước. - Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. - Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hiền Hòa |
Bản án số 154/2025/HSST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 154/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Quân
