|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số:152/2025/HSST Ngày 19/12/2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- + Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường.
- + Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thủy; Ông Lê Văn Hoan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 9 tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Mỹ Dung - Kiểm sát viên sơ cấp.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn thị Hải Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 158/2025/HSST ngày 26 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo: Đỗ Đức C, sinh ngày 13/8/ 2006; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Thôn D, xã P, thành phố Hà Nội; Số CCCD: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đỗ Thanh M, sinh năm: 1982; Con bà: Kiều Thị Kim Y, sinh năm: 1984; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: không ; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam tại trại tạm gian số 1 Công an thành phố H. ( Số giam : 5119 G2/20B).
Luật sư bào chữa bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo Đỗ Đức C. Ông Khuất Hữu Vũ T và ông Vũ Thành Đ, Luật sư – Công ty L1- Thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. ( Có đơn xin vắng mặt)
Bị hại: Anh Đinh Tiến H, sinh năm 2000. ( Có đơn xin vắng mặt )
Anh Đinh Công V, sinh năm 2001.( Có đơn xin vắng mặt)
Đều địa chỉ: Thôn D, xã P, thành phố Hà Nội.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
Chị Kiều Thị Kim Y, sinh năm 1984.( Có mặt)
Chị Đỗ Thanh M, sinh năm 1982. ( Có mặt)
Đều địa chỉ: Thôn D, xã P, thành phố Hà Nội.
Người làm chứng: Chị Vũ Hiền L, sinh năm 2002. ( Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã P, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 22/10/2024, do cần tiền để mua đồ, phụ kiện cho nhân vật trong game, Đỗ Đức C, sinh năm 2006, trú tại xã P, Hà Nội, đã nảy sinh ý định lừa bán chiếc điện thoại iPhone 13 Pro Max màu vàng của mình cho các cửa hàng điện thoại để chiếm đoạt tiền. (BL 542 - 544). Để thực hiện hóa mục đích, C đã thực hiện các hành vi sau:
C mang theo chiếc điện thoại iPhone 13 Pro Max đến cửa hàng T3 (chủ cửa hàng là anh Đinh Tiến H sinh năm 2000) địa chỉ tại thôn D, xã P, Hà Nội để hỏi vay 5.000.000 đồng và được anh H đồng ý. Anh H sử dụng tài khoản số 4520925189 mở tại ngân hàng B chuyển vào số tài khoản 109882362312 mở tại ngân hàng V1 do C cung cấp. Sau đó, C nói bán điện thoại trên cho anh H giá 10.000.000 đồng nên anh H chuyển khoản thêm số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản 250819870 mở tại ngân hàng M2 do C cung cấp. Khi anh H chuyển tiền xong, C xin anh H mang điện thoại đi bán ở một cửa hàng khác với giá cao hơn rồi mang tiền trả anh H (mục đích là để chiếm đoạt số tiền anh H vừa chuyển cho mình). Anh H đồng ý cho C đi còn C để lại xe đạp điện và điện thoại Iphone 7 Plus của mình để làm tin.
Chính mang theo chiếc điện thoại iPhone 13 Pro Max trên đến cửa hàng C1 (cách đó 50m) bán cho chủ cửa hàng là anh Đinh Công V (sinh năm 2001) với giá 8.000.000 đồng, anh V dùng số tài khoản 4511179779 chuyển khoản vào số tài khoản 107882385519 mở tại ngân hàng V1 do C cung cấp. Sau đó, C nói với anh V để mang điện thoại đi bán ở cửa hàng khác với giá cao hơn sẽ trả lại tiền cho anh V. Anh V đồng ý và đi cùng C đến cửa hàng C1, nhưng C không bán được điện thoại do chủ cửa hàng không có nhà. Sau đó, anh V cùng C đi đến cửa hàng C1 (cạnh cửa hàng C1), C đi vào trong bán điện thoại còn anh V đứng ở ngoài chờ. Rồi anh V có khách về nhà khoảng 1-2 phút sau, C nhân lúc anh V không có mặt nên đã bỏ trốn và mang theo chiếc điện thoại iPhone 13 Pro Max. Chính đến nội thành Hà Nội làm thuê, rồi bán chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max cho một cửa hàng (không rõ địa chỉ) để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Ngày 25/10/2024, anh Đinh Công V và anh Đinh Tiến H trình báo công an xã P về việc bị Đỗ Đức C chiếm đoạt tổng số tiền 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) (BL 58 - 61).
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc điện thoại iPhone 7 Plus màu đỏ (do anh Đinh Tiến H giao nộp, đây là điện thoại Chính để làm tin) (BL 75).
Đối với chiếc xe đạp điện bị cáo C dùng để di chuyển đến cửa hàng điện thoại của anh H và để ở đây để làm tin, là tài sản của ông Đỗ Thành M1 (sinh năm 1982), bà Kiều Thị Kim Y (sinh năm 1984, cùng trú tại: Tổ dân phố số D, xã P, Hà Nội) là bố, mẹ đẻ của Đỗ Đức C. Bà Y không biết, không liên quan đến việc C lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đã lấy xe từ nhà anh H để mang về đi lại hàng ngày, sau đó ông M1 đã bán chiếc xe đạp điện cho người không quen biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ chiếc xe này (BL 570-572).
Về dân sự: Sau khi xảy ra vụ án, bị cáo C và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Đinh Tiến H và anh Đinh Công V tổng số tiền 18.000.000 đồng. Anh H và anh V không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với C.
Tại bản cáo trạng số: 104/CT-VKS ngày 25/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Đức Chính về tội : “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà bị cáo Đỗ Đức C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Đức C tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 174; Điểm b, i, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật. Nhưng cho hưởng án treo và chịu thử thách từ 18 đến 24 tháng. Giao bị cáo về địa phương cải tạo và giáo dục.
Về phần dân sự : Bị hại anh Đinh Tiến H và anh Đinh Công V đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì, đề nghị HĐXX không xét.
Về vật chứng : Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015; Đề nghị HĐXX: Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước 01 chiếc điện thoại iPhone 7 Plus màu đỏ, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, thuộc Khu vực 9 lập ngày 05/12/2025.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Đỗ Đức C phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Luật sư bào chữa bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo Đỗ Đức C. Ông Khuất Hữu Vũ T và ông Vũ Thành Đ, Luật sư – Công ty L1- Thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có đơn xin vắng mặt, có bài luận cứ gửi HĐXX, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C, cho bị cáo C được hưởng án treo.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và người tham gia tố tụng khác, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định:
[1]. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/10/2024 bị cáo C điều khiển xe đạp điện, mang điện thoại iPhone 13 Pro Max đến cửa hàng T3 (chủ cửa hàng là anh Đinh Tiến H - sinh năm 2000) địa chỉ tại thôn D, xã P, Hà Nội để hỏi vay 5.000.000 đồng và được anh H đồng ý. Anh H sử dụng tài khoản số 4520925189 mở tại ngân hàng B chuyển vào số tài khoản 109882362312 mở tại ngân hàng V1 do C cung cấp. Sau đó, C nói bán điện thoại trên cho anh H giá 10.000.000 đồng nên anh H chuyển khoản thêm số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản 250819870 mở tại ngân hàng M2 do C cung cấp. Khi anh H chuyển tiền xong, C xin anh H mang điện thoại đi bán ở một cửa hàng khác với giá cao hơn rồi mang tiền trả anh H (mục đích là để chiếm đoạt số tiền anh H vừa chuyển cho mình). Anh H đồng ý cho C đi còn C để lại xe đạp điện và điện thoại Iphone 7 Plus của mình để làm tin.
Bị cáo C mang theo chiếc điện thoại iPhone 13 Pro Max trên đến cửa hàng C1 (cách đó 50m) bán cho chủ cửa hàng là anh Đinh Công V (sinh năm 2001) với giá 8.000.000 đồng, anh V dùng số tài khoản 4511179779 chuyển khoản vào số tài khoản 107882385519 mở tại ngân hàng V1 do C cung cấp. Sau đó, C nói với anh V để mang điện thoại đi bán ở cửa hàng khác với giá cao hơn sẽ trả lại tiền cho anh V. Anh V đồng ý và đi cùng C đến cửa hàng C1, nhưng C không bán được điện thoại do chủ cửa hàng không có nhà. Sau đó, anh V cùng C đi đến cửa hàng C1 (cạnh cửa hàng C1), C đi vào trong bán điện thoại còn anh V đứng ở ngoài chờ. Rồi anh V có khách về nhà khoảng 1-2 phút sau, C nhân lúc anh V không có mặt nên đã bỏ trốn và mang theo chiếc điện thoại iPhone 13 Pro Max. Chính đến nội thành Hà Nội làm thuê, rồi bán chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max cho một cửa hàng (không rõ địa chỉ) để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Ngày 25/10/2024, anh Đinh Công V và anh Đinh Tiến H trình báo công an xã P về việc bị Đỗ Đức C chiếm đoạt tổng số tiền 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Như vậy hành vi của bị cáo Đỗ Đức C đã đưa ra thông tin không đúng sự thật làm cho mọi người tin tưởng nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Đinh Công V và anh Đinh Tiến H, tổng số tiền là 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng), bị cáo C sử dụng vào việc chơi game và chi tiêu cá nhân. Nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của Công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, an ninh địa phương, gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong nhân dân. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Bị cáo phạm tội 02 lần, nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo Điểm g Khoản 1 Điều 52 – BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phía bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội là Đỗ Văn K, là thương binh – đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy cần áp dụng Điều 65 – BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, chịu thời gian thử thách cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000,đ đến 100.000.000,đ. Xét bị cáo điều kiện khó khăn không có khả năng thi hành hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3]. Đối với chiếc điện thoại di động iPhone 13 Pro Max màu vàng mà bị cáo C sử dụng để lừa bán cho anh H và anh V. Quá trình điều tra, bị cáo C khai đã bán cho cửa hàng không rõ địa chỉ cụ thể ở nội thành H, nên không có căn cứ để xác minh. CQ CSĐT Công an thành phố H đã ra quyết định truy tìm đối với chiếc điện thoại nêu trên. Nên HĐXX không xét.
Đối với 03 tài khoản nhận tiền chuyển khoản từ anh Đinh Tiến H và anh Đinh Công V ngày 22/10/2024 do bị cáo C cung cấp là tài khoản ngân hàng V1 số [...], ngân hàng M2 số [...], ngân hàng V1 số [...], bị cáo C khai dùng để mua bán các trang phục, phụ kiện cho nhân vật game trong hội nhóm Telegram nên không biết nhân thân lai lịch chủ các tài khoản này là ai. CQ CSĐT Công an thành phố H đã tiến hành điều tra, xác minh các tài khoản nhận tiền do anh H và anh V chuyển đến, cụ thể:
Tài khoản ngân hàng V1, chủ tài khoản là anh Trần Xuân H1 (sinh năm 2001, trú tại: Tổ dân phố Đ, phường G, tỉnh Thái Nguyên), số tài khoản này anh H1 đăng ký chính chủ từ tháng 07/2024. Do không có nhu cầu sử dụng nên H1 đã bán tài khoản trên cho người không quen biết trên mạng xã hội facebook. Thời điểm ngày 22/10/2024, H1 không còn sử dụng tài khoản ngân hàng trên nữa. Quá trình điều tra, đến nay không xác định được người mua, sử dụng tài khoản của H1 là ai nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định. Nên HĐXX không xét.
Tài khoản ngân hàng M2, chủ tài khoản là chị Vũ Thị T1 (sinh năm 1987, trú tại: Xóm C, Phú Thọ, xã N, tỉnh Ninh Bình); Tài khoản ngân hàng V1, chủ tài khoản là chị Nguyễn Thị T2 (sinh năm sinh năm:1985, Trú tại: Xóm H, T, xã Q, TP.). Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh tại nơi ở của T1 và T2, kết quả: T1 và T2 không có mặt tại địa phương, không rõ nơi đang sinh sống, làm việc và không liên lạc được. Do đó, không có căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ được xử lý theo quy định của pháp luật. Nên HĐXX không xét.
Đối với các số tài khoản nhận chuyển tiền (109882362312, 250819870, 107882385519), bị cáo C khai dùng để mua bán các trang phục, phụ kiện cho nhân vật trong game, không liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nên Cơ quan điều tra không đề cập, xử lý. Là có căn cứ nên HĐXX không xét.
[4] Về phần dân sự : Sau khi xảy ra vụ án, bị cáo C và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho anh Đinh Tiến H và anh Đinh Công V tổng số tiền 18.000.000 đồng. Anh H và anh V không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với C.
[5 ] Về tang vật, vật chứng :
Chiếc điện thoại của bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước: 01 chiếc điện thoại iPhone 7 Plus màu đỏ, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, thuộc Khu vực 9 lập ngày 05/12/2025.
[ 6] Về án phí: Bị cáo Đỗ Đức C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự trong vụ án hình sự, theo quy định tại Điều 135, 136 - Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[7] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
[ 8] Những cứ cứ tài liệu do Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp .
[ 9]. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phản ánh, cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX không thấy có dấu hiệu vi phạm nên không kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khác phục vi phạm .
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
[2] Về điều luật áp dụng: Căn cứ Khoản 1 Điều 174; Điểm b, i, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 65 – Bộ luật hình sự năm 2015 - Sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đức C 09 (Chín) tháng tù .Nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 ( Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Tuyên bố trả tự do cho bị cáo sau khi kết thúc phiên tòa.
Giao bị cáo Đỗ Đức C cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[3] Về dân sự : Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu, không xét.
[ 4]Về tang vật, vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước 01 chiếc điện thoại iPhone 7 Plus màu đỏ, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, thuộc Khu vực 9 lập ngày 05/12/2025.
[5] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136- BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Đỗ Đức C phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Án hình sự sơ thẩm xét xử công khai. Bị cáo Đỗ Đức C, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án .
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
|
Nơi nhận
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lã Hùng Cường |
Bản án số 152/2025/HSST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 152/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: C lừa đảo chiếm đoạt tài sản
