Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2025/HS-ST

Ngày: 27/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Doãn Thế Dương; ông Đỗ Văn Túy và ông Lê Văn Nguyên.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Lê Bình K, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2025/TLST-HS ngày 02/10/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/QĐXXST-HS ngày 13/10/2025, đối với bị cáo:

Họ tên: Vũ Thị Thùy D, sinh ngày 08/10/1991; giới tính: Nữ;

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: số nhà A, đường L, tổ G, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên).

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: ông Vũ Mạnh H, sinh năm 1968; Mẹ đẻ: bà Đào Thị V, sinh năm 1971. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con lớn. Chồng: anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1989. Con: Có 01 con Vũ Trúc L, sinh năm 2018, hiện ở cùng anh T tại tổ G, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản thân học hết lớp 12/12, sau đó học tại Học viện T5. Năm 2013 làm việc tại Ngân hàng V1

Ngày 20/01/2025, bị khởi tố bị can và bị bắt tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh H. (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo D: Luật sư Phạm Hữu G – thuộc Văn phòng luật sư Phạm Hữu L1 và Cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh H (có mặt).

* Người bị hại: Anh Trần Ngọc T1, sinh năm 1984 (có mặt);

TT; Số nhà D, ngõ G, đường L, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Này là: phường T, tỉnh Hưng Yên).

* Người làm chứng:

  • - Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm: 1991 (vắng mặt);
  • TT: Số nhà F, đường A, khu tái định cư T, tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là: phường T, tỉnh Hưng Yên) .
  • - Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1986 (vắng mặt); TT: Số nhà D, ngõ G, Tổ F, đường L, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  • - Bà Trần Thị Huyền T2, sinh năm: 1997 (vắng mặt);
  • TT: Số A, đường T, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là: Tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thị Thùy D được Ngân hàng V1 (V2) tuyển dụng từ tháng 8 năm 2013 và làm việc tại chi nhánh T6; đến tháng 02 năm 2021, D được bổ nhiệm làm Giám đốc phòng G1 thuộc chi nhánh T6. Trong thời gian làm việc tại Ngân hàng, D nhiều lần vay tiền của các đồng nghiệp, D vay của chị Trần Thị Huyền T2, sinh năm 1997, trú tại tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên số tiền 10.250.000.000 đồng; vay của chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1991, trú tại tổ E, phường T, tỉnh Hưng Yên số tiền 2.922.080.000 đồng; vay của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1968, trú tại thôn H, xã Đ, tỉnh Hưng Yên số tiền 2.165.000.000 đồng; tổng số tiền D vay nợ là 15.337.080.000 đồng. Do yêu cầu phải trả nợ, D hỏi anh Trần Ngọc T1 sinh năm 1984, trú tại tổ F, phường T, tỉnh Hưng Yên là bạn với chồng D (anh T1 nhận D là em nuôi) để vay tiền nhưng anh T1 không đồng ý. Anh T3 nói với D nếu có kèo làm ăn gì thì cho anh T3 làm chung. Đầu tháng 9 năm 2024, D nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh T3 bằng cách D tự nghĩ các tài sản như đất, ô tô là những tài sản có giá trị cao, D rủ anh T3 góp tiền (chung kèo), D đứng ra mua, bán lại kiếm lời trong thời gian ngắn, được hưởng tiền chênh lệch cao để anh T3 tin tưởng và góp tiền. D đưa ra mức tiền anh T3 phải bỏ ra, thời hạn thực hiện xong việc mua bán và số tiền lợi nhuận D chia cho anh T3 khi đã giao dịch mua bán thành công, từ đó anh T3 lựa chọn và tham gia góp tiền. Để thuận lợi liên lạc với anh T3, D sử dụng tài khoản Zalo tên “Thuy Dung” đăng ký bằng số điện thoại 0936.937.933 nhắn tin cho anh T3 sử dụng tài khoản zalo tên “Trần Ngọc T1” đăng ký bằng số điện thoại 0899.271.666 đưa ra thông tin mua đất và mua ô tô. Ngày 14/9/2024, D chặn liên lạc với anh T1, D xóa tài khoản Zalo “Thuy Dung” và đi khỏi địa phương. Từ ngày 09/9/2024 đến ngày 13/9/2024, với cách thức và thủ đoạn trên D đã 04 lần chiếm đoạt 2.900.000.000 đồng của anh T1, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 09/9/2024, D rủ anh T1 góp tiền mua đất thanh lý sau đó bán lại, D đưa ra mức anh T1 phải góp là 1.400.000.000 đồng, trong 11 ngày sẽ hoàn thành việc mua và bán, D trả cho anh T1 tiền gốc góp chung và tiền lợi nhuận 120.000.000 đồng. Anh T3 tin tưởng D làm Giám đốc Phòng giao dịch của Ngân hàng và việc chung mua bán hợp lý nên đồng ý và đã 09 lần chuyển tổng số tiền 1.400.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng B số 8801348668 mang tên Trần Ngọc T1 đến tài khoản ngân hàng T7 số 19034875393017 mang tên Vũ Thị Thùy D. Sau khi nhận được tiền do anh T1 chuyển, D chuyển toàn bộ số tiền đến tài khoản V3 số 9919586886 mang tên Nguyễn Thị Kim A để trả nợ cho chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1991, trú tại số nhà F, đường số A, khu tái định cư T, phường T, tỉnh Hưng Yên.

Lần thứ hai: Ngày 12/9/2024, D đua ra thông tin mua xe ô tô thanh lý và rủ anh T1 góp vốn chung, mức anh T1 phải góp là 500.000.000 đồng, tiền lợi nhuận anh T1 được hưởng là 45.000.000 đồng, thời gian thực hiện 06 ngày. Anh T3 đồng ý. Anh T3 sử dụng tài khoản ngân hàng B mang tên Trần Ngọc T1 chuyển đến tài khoản ngân hàng T7 số 19034875393017 mang tên Vũ Thị Thùy D số tiền 500.000.000 đồng. Khi nhận được tiền do anh T1 chuyển, D chuyển toàn bộ số tiền đến tài khoản V3 số 9919586886 mang tên Nguyễn Thị Kim A để trả nợ cho chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1991, trú tại số nhà F, đường số A, khu tái định cư T, phường T, tỉnh Hưng Yên.

Lần thứ ba: Ngày 13/9/2024, D đưa ra thông tin chung tiền mua, bán đất và rủ anh T1 góp 700.000.000 đồng, thời gian thực hiện việc mua bán là 06 ngày, lợi nhuận anh T1 được hưởng 60.000.000 đồng. Anh T3 đồng ý và chuyển 700.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng B tên Trần Ngọc T1 đến tài khoản ngân hàng V2 số 53733988, mang tên Vũ Thị Thùy D. Cũng trong ngày 13/9/2024, D tiếp tục đưa ra thông tin mua xe ô tô thanh lý và rủ anh T1 góp 300.000.000 đồng để mua và bán lại kiếm lời, lợi nhuận được chia 30.000.000 đồng. Anh T3 đồng ý và chuyển 300.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng B mang tên Trần Ngọc T1 đến tài khoản ngân hàng V2 số 53733988, mang tên Vũ Thị T4. Sau khi chiếm đoạt được của anh T1 số tiền 1.000.000.000 đồng, D đã chuyển toàn bộ số tiền trên đến tài khoản ngân hàng T7 số 19036920101017 mang tên Nguyễn Văn Q để trả nợ cho anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986, trú tại: thôn H, xã Đ, tỉnh Hưng Yên.

Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như:

  • - Kết quả in sao hội thoại tin nhắn Zalo giữa tài khoản Z “Thuy Dung” và tài khoản Zalo anh Trần Ngọc T1
  • - Biên bản làm việc xác định tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập hồi 16 giờ 15 phút ngày 19/01/2025 thể hiện Vũ Thị Thùy D xem đoạn hội thoại được in trên giấy A4 do anh T1 giao nộp, D xác định D là người đã thực hiện việc nhắn tin hội thoại với anh T1. D trình bày tài khoản Zalo “Thuy Dung” được đăng ký bằng số điện thoại 0936.937.933; D trình bày nội dung kèo đất ngày 09/9/2024 nội dung 1,4 tỷ-5-120 là số tiền 1,4 tỷ đồng anh T1 phải góp đầu tư kèo đất, 5 là thứ năm tuần sau hoàn thành việc mua bán, 120 là số tiền anh T1 được hưởng lợi 120.000.000 đồng. Tương tự kèo xe ngày 12/9/2024 nội dung “500-3-45” tức 500 là số tiền 500.000.000 đồng anh T1 góp, 3 là thứ ba tuần sau hoàn thành mua bán, 45 là 45.000.000 đồng lợi nhuận anh T1 được hưởng; tương tự là kèo ngày 13/9/2024;
  • - Công văn số 595/VPĐKĐĐTB-CNTTLT ngày 05/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai Sở tài nguyên môi trường tỉnh T thể hiện ông Vũ Ngọc T, bà Vũ Thị Thùy D hiện đang sử dụng thửa đấ số 508, tờ bản đồ số 06, diện tích 39,1m² đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất số 192/16, L, phường K, thành phố T có số phát hành Giấy chứng nhận CT868140 và được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T đăng ký chuyển nhượng ngày 28/6/2021, đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 04/8/2021 (hiện tại đã thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại Ngân hàng N Chi nhánh K1 – Phòng giao dịch khu vực V.
  • - Công văn số 566/2024/TBH/TCB ngày 03/10/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần K2 về việc cung cấp thông tin chủ tài khoản 19034875393017 mang tên Vũ Thị Thùy D và kết quả in sao kê các giao dịch từ 01/02/2024 đến 10/9/2024.
  • - Công văn số 8411/2024/CV-VPB ngày 27/12/2024 của Ngân hàng V1 (V2) cung cấp số tài khoản 53733988 mang tên Vũ Thị Thùy D và sao kê giao dịch từ 01/02/2024 đến ngày 07/12/2024.
  • - Hồ sơ mở tài khoản số 8801348668 mang tên Trần Ngọc T1 tại Ngân hàng B kèm sao kê giao dịch từ ngày 01/02/2024 đến ngày 10/12/2024.
  • - Công văn số 1272/TBI-KT ngày 04/12/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần N1 chi nhánh T6 cung cấp thông tin chủ tài khoản 9919586886 mang tên Nguyễn Thị Kim A kèm sao kê giao dịch từ ngày 01/5/2024 đến ngày 28/11/2024.
  • - Lời khai người bị hại anh Trần Ngọc T1 sinh năm 1984, trú tại phường T, tỉnh Hưng Yên.
  • - Lời khai người làm chứng chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1991 trú tại số F, lô A, tổ E, phường T, tỉnh Hưng Yên, anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986, trú tại thôn H, xã Đ, tỉnh Hưng Yên, chị Trần Thị Huyền T2, sinh năm 1997, trú tại tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên;
  • Cáo trạng số: 50/ CT-VKSHY ngày 30/9/2025 của VKSND tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Vũ Thị Thùy D1 về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Vũ Thị Thùy D1 thành khẩn khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất trí không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Gia đình bị cáo xuất trình bị cáo có bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác khi làm việc tại Ngân hàng, ngoài ra cung cấp thêm số tiền 15.000.000đ gia đình bị cáo nộp để khắc phục một phần thiệt hại cho người bị hại.

Bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo cải tạo sớm trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng.

* Người bị hại là anh Trần Ngọc T1 đề nghị: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xác định trong tổng số 2.900.000.000đ bị cáo chiếm đoạt, anh T1 cho bị cáo 1.400.000.000đ để khuyến khích bị cáo cải tạo tốt, còn lại 1.500.000.000₫ yêu cầu bị cáo phải trả anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Vũ Thị Thùy D1 về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 điều 174; điểm s, v khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Vũ Thị Thùy D từ 14 năm đến 15 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 20/01/2025.

Miễn phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo;

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Thị Thùy D1 tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa. Các chứng cứ đó là: Lời khai của người bị hại và người làm chứng; cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 09, 12, 13/9/2024, Vũ Thị Thùy D tự đưa ra các thông tin không có thật về các mảnh đất và ô tô thanh lý, thời gian đầu tư ngắn, lợi nhuận cao để anh Trần Ngọc T1 sinh năm 1984, trú tại phường T, tỉnh Hưng Yên tin tưởng góp tiền mua bán chung. Khi nhận được 2.900.000.000 đồng do anh T1 góp, D không có hoạt động mua bán xe đất và xe ô tô, D chiếm đoạt 2.900.000.000 đồngvà chuyển trả nợ cá nhân.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trái pháp luật nhưng vì muốn có tiền để chi tiêu vào mục đích cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Số tiền bị cáo Vũ Thị Thùy D1 chiếm đoạt trên 2.900.000.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Vũ Thị Thùy D1 về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung là “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự cả tin và thiếu hiểu biết của người bị hại, dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm mất trật tự trị an xã hội; gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, dành cho bị cáo mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 3 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; Bị cáo có thành tích xuất sắc trong lao động được Chủ tịch UBND tỉnh T tặng bằng khen; quá rình giải quyết gia đình bị cáo đã nộp số tiền 15.000.000đ để khắc phục một phần thiệt hại cho người bị hại. Ngoài ra bị cáo được người bị hại anh Trần Ngọc T1 xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, chỉ trong một thời gian ngắn bị cáo đã liên tục thực hiện nhiều hành vi phạm tội, số tiền mà bị cáo chiếm đoạt là rất lớn. Nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian dài đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt và phòng ngừa chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với động cơ, mục đích vụ lợi, lẽ ra phải tuyên phạt hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp, còn phải có nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại số tiền rất lớn. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Trách nhiệm dân sự: Người bị hại có quan điểm yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ phải bồi thường khoản tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt. Xét thấy, yêu cầu của người bị hại là hợp pháp và có căn cứ nên cần được chấp nhận. Nhưng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa anh T1 chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000.000 đồng còn số tiền 1.400.000.000 đồng bị hại cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo trả đây là sự tự nguyện của anh T1 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối trừ với số tiền gia đình bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh H là 15.000.000 đồng, bị cáo còn phải trả cho anh T1 là: 1.485.000.000 đồng.

[8]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, số IMEI 352364225989304 là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Thùy D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    Áp dụng: Điểm a khoản 4 điều 174; điểm s, v khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 và khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị Thùy D 14 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/01/2025.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

  3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 46; khoản 2 điều 47; khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 584; 585; 586 và khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Vũ Thị Thùy D phải bồi thường cho anh Trần Ngọc T1 số tiền 1.500.000.000 đồng. Được đối trừ với số tiền 15.000.000đ bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000967 ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, số tiền còn lại bị cáo phải bồi trường tiếp cho anh T1 1.485.000.000₫ (một tỷ bốn trăm tám mươi năm triệu dồng).

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra Quyết định thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải chịu lãi suất theo qui định tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 46; điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, số IMEI 352364225989304.

  5. Về án phí: Bị cáo Vũ Thị Thùy D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và: 56.550.000 đồng án phí trách nhiệm dân sự. Tổng cộng là: 56.750.000 đồng.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND Tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cq CSĐT- Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo (qua TTG)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VPCQ, Tòa hình sự./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHẨN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA

Hoàng Hữu Tăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2025/HS-ST ngày 27/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 152/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger