|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÀO CAI Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 11-11-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huệ.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hoàng Liên;
- Ông Phạm Thanh Châu Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025, đối với:
* Bị cáo: Phùng Thị Q; tên gọi khác không; sinh ngày: 02-02-1982 tại tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu N, xã T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ: tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn L (đã chết) và bà Hà Thị C, sinh năm 1961; chồng: Trương Văn N, sinh năm 1983; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam ngày 12-6-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh L. Có mặt.
* Bị hại: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn C, xã M, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.
- - Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn Đ, xã M, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.
- - Anh Phùng Văn N1, sinh năm 1980, địa chỉ: Khu N, xã T, tỉnh Phú Thọ - vắng mặt.
* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1989, địa chỉ: Khu Phố B, phường Q, tỉnh Thanh Hóa - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Thị Q làm môi giới, tư vấn xuất khẩu lao động, hoạt động tự do không thuộc cơ quan, tổ chức nào được giao thẩm quyền trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. Tháng 7 năm 2024, chị Hoàng Thị H liên hệ với Q để nhờ làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, Q đồng ý giúp và thông báo với H chi phí hết 162.000.000 đồng. Sau đó, Q đưa H xuống thành phố Hà Nội, dẫn đến gặp chị Nguyễn Thị O cũng là người môi giới, tư vấn xuất khẩu lao động để làm các thủ tục ban đầu. Sau khi khám sức khỏe Q biết H bị mắc bệnh giang mai nên không đủ điều kiện làm hồ sơ đi xuất khẩu lao động. Tuy nhiên do cần tiền chi tiêu cá nhân, Q vẫn nói dối, hứa hẹn sẽ giúp H làm hồ sơ đi xuất khẩu lao động với mục đích để H tin tưởng và chuyển số tiền 162.000.000 đồng cho mình rồi chiếm đoạt. Từ ngày 21-7-2024 đến ngày 06-9-2024, Q đã ba lần yêu cầu H chuyển tiền thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản số [...] của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (MB) mang tên Phùng Thị Q với tổng số tiền là 162.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 21-7-2024 và ngày 31-7-2024, H đã chuyển khoản cho Q 02 lần, mỗi lần 25.000.000 đồng; ngày 06-9-2024, H tiếp tục chuyển cho Q 112.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, Q đã chi tiêu cá nhân hết. Sau khi chuyển đủ số tiền 162.000.000 đồng vẫn không thấy được gọi làm thủ tục để đi xuất khẩu lao động nên chị H đã nhiều lần liên lạc yêu cầu Quy trả lại tiền nhưng Q không trả nên ngày 09-6-2025 chị H đã trình báo sự việc tại Cơ quan Công an. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, đã qua sử dụng.
Ngoài ra quá trình điều tra còn xác định: Từ tháng 8-2024 đến tháng 02-2025, bị cáo còn nhận của gia đình anh Hoàng Văn T số tiền 122.000.000 đồng và gia đình chị Phạm Thị T1 số tiền 178.000.000 đồng với mục đích liên hệ giúp anh T và chồng của chị T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Tuy nhiên, sau khi liên hệ với nhiều công ty nhưng không được nên Q đã trả lại toàn bộ số tiền trên cho gia đình anh T và gia đình chị T1. Việc các gia đình chuyển tiền cho Q là tự nguyện, không bị ép buộc, bản thân Q không được hưởng lợi cũng không hứa hẹn gì trước, trong và sau khi nhận tiền. Q khẳng định nếu không đi xuất khẩu lao động được thì sẽ trả lại tiền cho các gia đình trên.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Phùng Thị Q đã tác động gia đình để bồi thường cho bị hại. Anh Phùng Văn N1 là anh trai của bị cáo đã bồi thường cho chị Hoàng Thị H số tiền 162.000.000 đồng. Sau khi nhận được số tiền trên chị H đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q.
Cáo trạng số 40/CT-VKS-KV3 ngày 30-9-2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai truy tố Phùng Thị Q về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về hình phạt:
- - Hình phạt chính: Áp dụng điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm b, điểm s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 4, Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phùng Thị Q từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 05 năm; trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- * Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Hoàng Thị H đã được bồi thường thỏa đáng, đến nay không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên không xem xét giải quyết.
- * Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, đã qua sử dụng.
- * Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên những người này đã có lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Lào Cai.
[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù là người không có khả năng, chức năng đưa người đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài đồng thời biết chị Hoàng Thị H mắc bệnh truyền nhiễm không đủ điều kiện được đi xuất khẩu lao động nhưng Phùng Thị Q đã nhiều lần đưa ra các thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Hoàng Thị H. Trong khoảng thời gian từ ngày 21-7-2024 đến ngày 06-9-2024, bị cáo đã chiếm đoạt của chị H tổng số tiền 162.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động anh ruột bồi thường cho bị hại số tiền 162.000.000 đồng; bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, ổn định, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả xác minh của Cơ quan điều tra, bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định và không có tài sản gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phùng Thị Q đã tác động gia đình bồi thường cho chị Hoàng Thị H số tiền 162.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm về vấn đề dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phùng Văn N1 đã tự nguyện bồi thường số tiền 162.000.000 đồng cho bị hại thay bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về các hành vi và người liên quan khác:
Đối với anh Hoàng Văn T và chị Phạm Thị T1 là những người đã nhờ bị cáo liên hệ để giúp anh T và chồng của chị T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Bị cáo nhận của gia đình anh Hoàng Văn T, số tiền 122.000.000 đồng và gia đình chị Phạm Thị T1 số tiền 178.000.000. Tuy nhiên, bị cáo không giúp được nên đã trả lại toàn bộ số tiền trên cho gia đình anh T và gia đình chị T1. Việc các gia đình chuyển tiền cho bị cáo là tự nguyện, không bị ép buộc, bị cáo cũng không được hưởng lợi cũng không hứa hẹn gì trước, trong và sau khi nhận tiền. Do vậy hành vi này của bị cáo không cấu thành tội phạm.
[9] Về vật chứng và tài sản, đồ vật tạm giữ: Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, đã qua sử dụng: Xét là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị miễn án phí. Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phùng Thị Quy .
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[11] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên,
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Quy phạm T2 “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Thị Q 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11-11-2025).
Giao bị cáo Phùng Thị Q cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
- Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max vỏ máy màu vàng, màn hình cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 21/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Lào Cai).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phùng Thị Q được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Huệ |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 11/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÀO CAI về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Quy phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Thị Quy 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11-11-2025).
