Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 04/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Toàn và ông Trần Xuân Thuận

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST - HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Văn C, sinh ngày 18/7/1994 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Xuân T, sinh năm 1963 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1965; có vợ là Đinh Thị T2, sinh năm 1997; con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 31/7/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1998.
  2. Nơi cư trú: thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị ( Vắng mặt)

  3. Bà Lê Thị L, sinh năm 1989.
  4. Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, tỉnh Quảng Trị ( Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 30/7/2025, tại đường bê tông liên thôn thuộc địa phận thôn Đ, xã T, tỉnh Quảng Trị, tổ công tác Công an xã T, tỉnh Quảng Trị tuần tra kiểm soát trên địa bàn phát hiện Lê Văn C, trú tại thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 49G1 – 325.78 chạy theo đường liên thôn hướng thôn C, xã T đi thôn Đ, xã T có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đón dừng xe tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi quần bên phải mà C đang mặc trên người có 01 bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long”, màu vàng, bên trong có 01 túi ni lon, trong suốt chứa bên trong 11 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược. C khai nhận số viên nén hình tròn nói trên là ma tuý, loại hồng phiến mang theo để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu có liên quan.

Về nguồn gốc số ma túy, Lê Văn C khai nhận: Trước đó do có nhu cầu sử dụng ma túy, ngày 30/07/2025, Lê Văn C đi đến khu vực cầu B, thuộc địa phận xã Đ, tỉnh Quảng Trị gặp và mua được ma túy từ một người đàn ông không quen biết, ngồi trên xe ô tô tải, biển kiểm soát có chữ của nước Lào 15 viên ma túy với giá 1.000.000 đồng. Đến 16 giờ, cùng ngày thì có Nguyễn Văn M trú cùng thôn đến nhà chơi và xin ma túy để sử dụng, C lấy 03 viên ma túy đưa cho M. Sau khi M rời đi, C lấy 01 viên ma túy sử dụng, số còn lại 11 viên Chính cất giấu vào túi quần bên phải. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Lê Văn C điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 49G1 - 325.78 đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường bê tông liên thôn và Quốc lộ A thuộc địa phận thôn Đ, xã T thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ ma túy và các tang vật liên quan.

* Tại bản kết luận giám định số: 905/KL-KTHS ngày 05/08/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, kết luận: 11 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược thu giữ trên người Lê Văn C, được gửi trưng cầu giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 1,046 gam.

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã thu giữ từ Lê Văn C, gồm: 11 viên nén hình tròn, màu hồng dạng thuốc tân dược, có tổng khối lượng 1,046 gam. Theo kết quả giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 0,865 gam, cùng vỏ bao gói, được đóng

gói niêm phong vào bì thư ghi ký hiệu “905/KL-KTHS”, có chữ ký của những người tham gia, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt; 01 (Một) xe mô tô, biển kiểm soát: 49G1-325.78 nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, số khung: RLCS 5C6H0GY193459; Số máy: 5C6H193468; tình trạng xe đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu: VIVO Y36, màu xanh, số IMEI1: 864983066742174; số IMEI2: 864983066742166, bên trong có gắn thẻ sim số: 0945536863, tình trạng đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSKV2 ngày 08 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Lê Văn C đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đề nghị xử phạt Lê Văn C từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Về vật chứng vụ án:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “905/KL-KTHS” niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dính băng dính trong suốt, bên trong có: 0,865 gam ma túy loại Methamphetamine cùng vỏ bao gói.
  • Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: trả lại cho bị cáo Lê Văn C: 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu: VIVO Y36, màu xanh, số IMEI1: 864983066742174; số IMEI2: 864983066742166, bên trong có gắn thẻ sim số: 0945536863, tình trạng đã qua sử dụng; trả lại cho chị Lê Thị L 01 (Một) xe mô tô, biển kiểm soát: 49G1-325.78 nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, số khung: RLCS 5C6H0GY193459; Số máy: 5C6H193468; tình trạng xe đã qua sử dụng.

Ý kiến bị cáo Lê Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để cải tạo sớm được trở về giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Q lập ngày 30/7/2025 phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 30/7/2025, Tổ công tác của Công an xã T, tỉnh Quảng Trị tiến hành tuần tra, kiểm soát tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, khi đến khu vực đường liên thôn hướng thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị phát hiện Lê Văn C có biểu hiển nghi vấn nên Tổ công tác tiến đã hành kiểm tra, phát hiện ở túi quần bên phải Lê Văn C đang mặc có 01 bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long”, bên trong có 01 túi nilon trong suốt chứa 11 viên nén hình tròn, màu hồng. Theo kết luận giám định số 905/KL-KTHS ngày 05/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 1,046 gam. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ, hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây nên những hậu quả xấu về nhiều mặt, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Bị cáo Lê Văn C là người đã trưởng thành, có nhận thức xã hội đáng lẽ bị cáo phải là người tích cực thực hiện và tuyên truyền mọi người cùng thực hiện tốt quy định của pháp luật, nhưng do thiếu ý thức, xem thường pháp luật đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt

mức án nghiêm và cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo phấn đấu trở thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Hiện bị cáo Lê Văn C đang bị tạm giam nên tiếp tục tạm giam theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “905/KL-KTHS” niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dính băng dính trong suốt, bên trong có: 0,865 gam ma túy loại Methamphetamine cùng vỏ bao gói. Xét thấy, vật chứng là phong bì thư chứa ma tuý thu giữ thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 để tịch thu tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: VIVO Y36, màu xanh và 01 xe mô tô, biển kiểm soát: 49G1-325.78 nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được: chiếc điện thoại di động là của bị cáo C, bị cáo không sử dụng để liên lạc mua ma túy nên không liên quan đến vụ án; chiếc xe mô tô là tài sản của chị Lê Thị L, việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy về sử dụng thì chị L không biết, đồng thời chị L cũng có nguyện vọng được nhận lại tài sản để sử dụng. Vì vậy, cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo Lê Văn C chiếc điện thoại di động; trả lại cho chị Lê Thị L chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên.

[7] Liên quan trong vụ án còn có anh Nguyễn Văn M là người đến xin Lê Văn C 03 viên ma túy và sử dụng. Tại các lời khai ban đầu, Lê Văn C khai nhận nguồn gốc ma túy là do Nguyễn Văn M cung cấp. Tuy nhiên, quá trình điều tra, C đã thay đổi lời khai, phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn M. Vì vậy, không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn M. Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất

ma túy trong cơ thể ngày 30/7/2025 của Trạm y tế xã Đ xác định Nguyễn Văn M “Dương tính với chất ma túy trong cơ thể””. Ngày 29/8/2025 cơ quan Công an xã T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn M về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Xét thấy, việc xử phạt hành chính của là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lê Văn C, quá trình điều tra, xác minh không có đầy đủ dữ liệu, thông tin nên không có cơ sở để xử lý.

[8] Án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

    Xử phạt bị cáo Lê Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/7/2025.

    Tiếp tục tạm giam Lê Văn C 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/11/2025) để đảm bảo thi hành án.

  3. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) phong bì thư ký hiệu số: “905/KL-KTHS” có chữ ký của những người tham gia, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dính băng dính trong suốt, bên trong có: 0,865 gam ma túy loại Methamphetamine, cùng vỏ bao gói.

    Trả lại cho bị cáo Lê Văn C 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y36, màu xanh, số IMEI1: 864983066742174; số IMEI2: 864983066742166, bên trong có gắn thẻ sim số: 0945536863, tình trạng đã qua sử dụng.

Trả lại cho chị Lê Thị L 01 (Một) xe mô tô, biển kiểm soát: 49G1-325.78 nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, số khung: RLCS 5C6H0GY193459; Số máy: 5C6H193468; tình trạng xe đã qua sử dụng.

(Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 10 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Trị.)

  1. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/11/2025) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hạn trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh.
  • - VKSND tỉnh.
  • - Sở Tư pháp QT.
  • - VKSND khu vực 2 - QT.
  • - Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - Trại tạm giam số 2 – CATQT;
  • - THADS tỉnh Quảng Trị.
  • - THA phạt tù.
  • - Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Nguyễn Phúc Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự Lê Văn C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger