Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 148/2025/HS-ST

Ngày: 18/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Như Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Công Nhân;
  2. Ông Nguyễn Đình Rành.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 6 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2025/HSST-QĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1991; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, Khu phố S, Thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Nay là xã M, tỉnh An Giang); Nơi cư trú: Số A N, Khu phố H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (N là Phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1971; Anh chị em: 03 người (lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1989); Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1989; Con: Nguyễn Thị M, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2025, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Cháu Huỳnh Thanh N1, sinh ngày 06/01/2008; Địa chỉ thường trú: Ấp Đ, xã T, Huyện T, Tỉnh Sóc Trăng (nay là Xã T, Thành phố Cần Thơ); Nơi cư trú: Số A N, Khu phố H, phường T, Quận G (nay là Phường T), Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Văn M1 và bà Phan Thị Ngọc T1 (là cha mẹ cháu Huỳnh Thanh N1); Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, Huyện T, Tỉnh Sóc Trăng (nay là Xã T, Thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
  2. Cháu Nguyễn Chí L1, sinh ngày 16/01/2008;Địa chỉ thường trú: Ấp Đ, xã T, Huyện T, Tỉnh Sóc Trăng (nay là Xã T, Thành phố Cần Thơ); Nơi cư trú: Số A N, Khu phố H, phường T, Quận G (nay là Phường T), Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hồng T2 và bà Lê Thị D (là cha mẹ cháu Nguyễn Chí L1); Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, Huyện T, Tỉnh Sóc Trăng (nay là Xã T, Thành phố Cần Thơ) ( vắng mặt).
  3. Ông Phạm Thanh L2, sinh năm 1999; Địa chỉ thường trú: Ấp P, xã N, Huyện M (nay là xã N), Tỉnh Vĩnh Long; địa chỉ cư trú: Số A N, Khu phố H, phường T, Quận G (nay là Phường T), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 2000; Địa chỉ thường trú: E P, Ấp A, xã T, Huyện C (nay là Xã P), Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cư trú: Số A N, Khu phố H, phường T, Quận G (nay là Phường T), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Đức T3, sinh năm 1971(vắng mặt);

    Địa chỉ thường trú: Bản T, xã Đ, thị xã M (nay là Phường M), tỉnh Sơn La.

  2. Bà Phạm Thị T4, sinh năm 1989(vắng mặt);

    Địa chỉ thường trú: Xóm F, K, huyện Y (nay là xã K), Tỉnh Ninh Bình.

  3. Ông Quàng Văn C, sinh năm 1991(vắng mặt);

    Địa chỉ thường trú: Bản B, phường C, Thành phố S (nay là Phường C), tỉnh Sơn La.

    Cùng địa chỉ cư trú: 156 P, xã B, huyện B (nay là xã B), Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Ông Huỳnh Văn M2, sinh năm 1984(vắng mặt);

    Địa chỉ thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ấp Đ, xã T, Thành phố Cần Thơ).

  5. Ông Nguyễn Thành T5, sinh năm 1999(Vắng mặt);

    Địa chỉ thường trú: 84 G, Nhuận Phú T6, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là H G, Xã N, tỉnh Vĩnh Long); Địa chỉ cư trú: C P, xã B, huyện B (nay là xã B), Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Bà Nguyễn Thị Diễm M3, sinh năm 1993(Vắng mặt);

    Địa chỉ thường trú: Tổ A, Ấp T, phường V, tỉnh An Giang.

  7. Bà Phạm Thị Hồng Đ, sinh năm 1997 (vắng mặt);

    Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là Ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long); Địa chỉ cư trú: A11/15B Quốc lộ E, xã B, huyện B (nay là xã B), Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối tháng 4/2025, Nguyễn Văn H đến ở thuê tại nhà số A N, khu phố H, phường T, Quận G (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) cùng nhà trọ với Phạm Thanh L2, Huỳnh Thanh N1,Nguyễn Xuân Qvà Nguyễn Chí L1,căn nhà trọ có 1 trệt, 1 lửng, 1 lầu; Nguyễn Văn H ở lầu 1 cùng với Huỳnh Thanh N1 và Nguyễn Chí L1; Nguyễn Xuân Q ở tầng lửng, Pham T ở tầng trệt. Đầu tháng 6/2025, do cần tiền trả nợ nên Nguyễn Văn H nảy sinh ý định trộm tài sản của những người ở chung nhà.

Khoảng 04 giờ sáng ngày 05/6/2025, Nguyễn Văn H thức dậy, thấy mọi người đang ngủ say, nên lấy trộm tài sản. Nguyễn Văn H lục túi đeo của ông Huỳnh Thanh N1 để dưới sàn nhà, gần chỗ Huỳnh Thanh N1 ngủ lấy chìa khóa xe Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 83Y1-180.42 và giấy đăng ký của xe. Tiếp tục, Nguyễn Văn H lấy điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu vàng và điện thoại di động OPPO A5 màu đỏ của ông Huỳnh Chí L3 đang để cạnh chỗ L3 nằm. Sau đó, Nguyễn Văn H xuống tầng lửng, đến chỗ Nguyễn Xuân Q nằm lấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Realme C55 màu đen của Q. Nguyễn Văn H đi xuống tầng trệt, lại chỗ Phạm Thanh Liêm nằm ngủ lấy chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S10 màu vàng của L2. Lấy trộm được tài sản, Nguyễn Văn H bỏ 04 chiếc điện thoại vào hai bên túi quần đi ra ngoài qua cửa chính (bình thường cửa mở, không khóa). Nguyễn Văn H ra sân phía trước dắt xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 83Y1-180.42 ra cổng - cửa cổng khóa bằng ổ khóa số, mật khẩu mọi người trong nhà đều có. Nguyễn Văn H mở cửa cổng, dắt xe ra ngoài rồi khóa cổng lại. Nguyễn Văn H dắt xe ra đến đường N mở chìa khóa xe, lên xe chạy đi.

Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/6/2025, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 83Y1-180.42 đến tiệm cầm đồ 2 Đô, tại địa chỉ số A P, xã B, huyện B, để cầm đồ. Vào trong tiệm, Nguyễn Văn H hỏi xe này cầm được bao nhiêu tiền, nhân viên yêu cầu đưa các giấy tờ liên quan xe và giấy tờ tùy thân của Nguyễn Văn H. Nguyễn Văn H đưa ra giấy đăng ký xe bản gốc và bản photo Căn cước công dân, do không đem Căn cước công dân bản gốc theo. Nhân viên hỏi nguồn gốc xe thì Nguyễn Văn H trả lời xe này mua lại của bạn, chưa sang tên. Nhân viên hỏi giấy mua bán đâu thì H trả lời đã làm mất. Sau đó, nhân viên kiểm tra xe, đối chiếu số khung số máy báo giá cầm 9.500.000 đồng. Nguyễn Văn H đồng ý cầm xe và nhận 9.500.000 đồng tiền mặt.

Ngày 06/6/2025, Nguyễn Văn H mang điện thoại di động hiệu Realme C55 màu đen trộm được của anh Q đến tiệm C1, địa chỉ: C3/17 P, ấp D xã B, huyện B cầm. Lý do Nguyễn Văn H chỉ cầm 01 cái điện thoại trên, là do cần đủ 10.000.000 đồng để trả nợ và trong các điện thoại trộm được, chỉ có điện thoại hiệu Realme C55 màu đen trộm của Q là không có mật khẩu màn hình. Vào tiệm Nguyễn Văn H hỏi cần cầm điện thoại, thì nhân viên yêu cầu đưa Căn cước công dân. Nguyễn Văn H nói trước giờ cầm điện thoại không cần Căn cước công dân. Nhân viên hỏi nguồn gốc điện thoại ở đâu, Nguyễn Văn H nói là điện thoại của mình. Sau khi xem điện thoại, nhân viên báo giá 1.500.000 đồng. Nguyễn Văn H đồng ý cầm. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Văn H sử dụng tiêu xài cá nhân.

Sáng ngày 07/6/2025, sau khi trả tiền nước, Nguyễn Văn H gửi lại balo bên trong có 03 chiếc điện thoại trộm được còn lại và một số đồ dùng cá nhân tại quán cà phê võng. Nguyễn Văn H nói với chủ quán là trông hộ cái ba lô chút xíu quay lại lấy, thì bà chủ quán đồng ý (Nguyễn Văn H không nói bên trong ba lô có đồ gì). Sau đó, Nguyễn Văn H ra đến đầu đường P thì bị Công an mời về làm việc. Thời điểm trên, Nguyễn Văn H còn tiền trong ví là 9.800.000 đồng, trong đó là 9.500.000 đồng cầm xe mô tô; 300.000 đồng tiền cầm điện thoại Realme C55.

Các bị hại phát hiện bị trộm mất tài sản, đến Công an phường T, Quận G trình báo, qua truy xét bắt giữ Nguyễn Văn H làm rõ xử lý.

Tại kết luận định giá tài sản số 8119/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G kết luận: “01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha biển số 83Y1 - 18042, sản xuất năm 2023, trị giá 15.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng, dung lượng 16Gb, đã qua sử dụng, trị giá 1.170.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu đỏ, đã qua sử dụng, trị giá 1.080.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Realme C55 màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 1.150.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung S10 màu vàng, đã qua sử dụng, trị giá 1.217.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 19.620.000 đồng”.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 83Y1-180.42. Thu giữ tại tiệm C2, giấy đăng ký xe.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Realme C55 màu đen; 128 GB; số Imei 1: 866865060076899; số Imei 2: 866865060076881, đã qua sử dụng. T7 tại tiệm C1.
  • - 01 điện thoại di động hiệu SamSung S10 màu vàng đã khóa màn hình, đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu vàng, dung lượng 16Gb, đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5 màu đỏ đã khóa màn hình, đã qua sử dụng.
  • - Tiền mặt 9.800.000 đồng, gồm: 18 tờ mệnh giá 500.000 đồng và 04 tờ mệnh giá 200.000 đồng. Tiền do cầm xe mô tô và điện thoại đi động của các bị hại.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu xanh, số imei 1: 860749057435852, số imei 2: 860749057435845, đã qua sử dụng dụng, đã khóa màn hình;
  • - 01 xe mô tô hiệu Elizabeth, màu đỏ, biển số 68S1-087.71, số khung; RLGKA11AD-AD099745, số máy: VMVUAA-D-009745
  • + 01 giấy cầm đồ, bên cầm là Nguyễn Văn H, bên nhận cầm là tiệm cầm đồ 2 Đô, tài sản cầm là 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 83Y1-180.42.
  • - 01 giấy cầm đồ, bên cầm là Nguyễn Văn H, bên nhận cầm là tiệm cầm đồ Sơn P, tài sản cầm là 01 điện thoại di dộng hiệu Realme C55.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSKV6 ngày 09/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và sửa đổi, bổ sung năm 2025 xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và sửa đổi, bổ sung năm 2025.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Đối với nhân viên của H1 kinh doanh dịch vụ cầm đồ 2 Đô và Hộ kinh doanh cầm đồ Sơn Phát, do không biết được tài sản bị cáo Nguyễn Văn H đưa đến cầm cố là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H không xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.

Đối với Phạm Thị T4 chủ hộ Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ 2 Đô, cầm tài sản có đăng ký chủ sở hữu, nhưng không chính chủ hoặc có ủy quyền nên Công an phường T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, việc khai nhận hành vi hành vi trộm cắp của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành Phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết luận định giá tài sản số 8119/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha biển số 83Y1 - 18042, sản xuất năm 2023, trị giá 15.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng, dung lượng 16Gb, đã qua sử dụng, trị giá 1.170.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu đỏ, đã qua sử dụng, trị giá 1.080.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Realme C55 màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 1.150.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung S10 màu vàng, đã qua sử dụng, trị giá 1.217.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 19.620.000 đồng và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 04 giờ sáng ngày 05/6/2025, tại nhà số A N, khu phố H, phường T, Quận G (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản bao gồm: 01 xe mô tô Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 83Y1-180.42 của ông Huỳnh Thanh N1 trị giá 15.000.000

đồng; 01 điện thoại di động hiệu Realme C55 màu đen 128 GB của ông Nguyễn Xuân Q trị giá 1.150.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu SamSung S10 màu vàng của ông Phạm Thanh L2 trị giá 1.220.000 đồng; 1 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu vàng 16Gb trị giá 1.170.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5 màu đỏ trị giá 1.080.000 đồng của ông Nguyễn Chí L1. Tổng trị giá tài sản: 19.620.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và sửa đổi, bổ sung năm 2025, như vậy Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 đã truy tố là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo phạm lỗi do cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo do tham lam tư lợi, đã lén lút trộm tài sản của các bị hại, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và sửa đổi, bổ sung năm 2025. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Đối với nhân viên của H1 kinh doanh dịch vụ cầm đồ 2 Đô và Hộ kinh doanh cầm đồ Sơn Phát, do không biết được tài sản bị cáo Nguyễn Văn H đưa đến cầm cố là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H không xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.

[5]. Đối với Phạm Thị T4 chủ hộ Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ 2 Đô nhận cầm cố 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha biển số 83Y1 – 18042, hành vi nhận cầm tài sản có đăng ký chủ sở hữu nhưng không chính chủ hoặc có ủy quyền, cơ quan Công an phường T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[6] Xử lý vật chứng:

  • + 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 83Y1-180.42. Là tài sản bị trộm, được thu giữ tại tiệm cầm đồ 2 Đô, giấy đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã lập biên bản trả lại xe cho ông Huỳnh Thanh N1 là có căn cứ nên Tòa án không xét.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Realme C55 màu đen; 128 GB; số Imei 1: 866865060076899; số Imei 2: 866865060076881, đã qua sử dụng. Là tài sản bị trộm, được thu giữ tại tiệm C1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã lập biên bản trả lại tài sản cho ông Nguyễn Xuân Q là có căn cứ nên Tòa án không xét.
  • + 01 điện thoại di động hiệu SamSung S10 màu vàng đã khóa màn hình, đã qua sử dụng. Là tài sản bị trộm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã lập biên bản trả lại cho ông Phạm Thanh L2 là có căn cứ nên Tòa án không xét.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu vàng, dung lượng 16Gb, đã qua sử dụng. Là tài sản bị trộm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã lập biên bản trả lại cho ông Nguyễn Chí L1 là có căn cứ nên Tòa án không xét.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5 màu đỏ đã khóa màn hình, đã qua sử dụng. Là tài sản bị trộm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã lập biên bản trả lại cho ông Nguyễn Chí L1 là có căn cứ nên Tòa án không xét.
  • + Tiền mặt 9.800.000 đồng, gồm: 18 tờ mệnh giá 500.000 đồng và 04 tờ mệnh giá 200.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận đây là tiền do cầm xe mô tô và điện thoại đi động trộm cắp của các bị hại. Xét thấy đây là tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
  • + 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu xanh, số imei 1: 860749057435852, số imei 2: 860749057435845, đã qua sử dụng dụng, nứt màn hình, là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn H. Xét thấy tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo;
  • + 01 xe mô tô hiệu Elizabeth, màu đỏ, biển số 68S1-087.71, số khung; RLGKA11AD-AD099745, số máy: VMVUAA-D-009745. Qua xác minh, xe do bà Nguyễn Thị Diễm M3 đứng tên chủ xe. Năm 2021, bà Nguyễn Thị Diễm M3 bán xe cho một người đàn ông (không rõ lai lịch), không làm thủ tục sang tên. Bà Nguyễn Thị Diễm M3 không có ý kiến, yêu cầu gì đối với chiếc xe. Cơ quan điều tra Công an Thành phố H đã đăng báo tìm chủ sở hữu, nhưng chưa có kết quả, nên tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 30 ngày để tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe, kể từ ngày thông báo mà tìm được người quản lý hợp pháp thì trả lại xe. Hết thời hạn 30 (Ba mươi) ngày, kể từ ngày thông báo mà vẫn không tìm được người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước;
  • + 01 giấy cầm đồ, bên cầm là Nguyễn Văn H, bên nhận cầm là tiệm cầm đồ 2 Đô, tài sản cầm là 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 83Y1-180.42. Xét thấy đây là chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo H và người có quyền lợi liên quan nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
  • + 01 giấy cầm đồ, bên cầm là Nguyễn Văn H, bên nhận cầm là tiệm cầm đồ Sơn P, tài sản cầm là 01 điện thoại di dộng hiệu Realme C55. Xét thấy đây là chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo H và người có quyền lợi liên quan nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Các bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét;
  • - Ông Nguyễn Đức T3 – Hộ kinh doanh dịch vụ cầm đồ 2 Đô là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường 9.500.000 đồng tiền cầm xe mô tô, tại phiên tòa vắng mặt, nên Hội đồng xét xử không xét;
  • - Ông Nguyễn Thành T5 – Hộ kinh doanh cầm đồ Sơn P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường 1.500.000 đồng tiền cầm điện thoại Realme C55, tại phiên tòa vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét;

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1].Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

[1.1]. Căn cứ Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) năm tù

Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2025

[2]. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[2.1]. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 9.800.000 (Chín triệu, tám trăm ngàn) đồng. (Theo Giấy nộp tiền ngày 17/9/2025 của Ngân hàng TMCP C3, người nộp: Nguyễn Văn T8; Tên cơ quan đơn vị nhận: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H; số tài khoản: 39490905977500000 tại KBNNKV2.PGD số 10, Thành phố Hồ Chí Minh)

[2.2] Thông báo trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe gắn máy hiệu Elizabeth, màu đỏ, biển số 68S1-087.71, số khung: RLGKA11AD-AD099745, số máy: VMVUAA-D-009745. Kể từ ngày thông báo mà tìm được người quản lý hợp pháp thì trả lại xe. Hết thời hạn 30 (Ba mươi) ngày, kể từ ngày thông báo mà vẫn không tìm được người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước. (Biên bản giao nhận vật chứng số 24/2026 ngày 20/11/2025)

[2.3] Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906 màu xanh, số imei 1: 860749057435852, số imei 2: 860749057435845, đã qua sử dụng dụng, nứt màn hình (Biên bản giao nhận vật chứng số 24/2026 ngày 20/11/2025)

[2.2]. Lưu hồ sơ vụ án:

  • + 01 giấy cầm đồ, bên cầm là bị cáo Nguyễn Văn H, bên nhận cầm là tiệm cầm đồ 2 Đô, tài sản cầm là 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển số 83Y1-180.42.
  • + 01 giấy cầm đồ, bên cầm là bị cáo Nguyễn Văn H, bên nhận cầm là tiệm cầm đồ Sơn P, tài sản cầm là 01 điện thoại di dộng hiệu Realme C55.

[3]. Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản nên không còn yêu cầu gì khác. Ông Nguyễn Đức T9 người đã nhận cầm cố tài sản bị trộm, tự nguyện giao nộp cho Công an, không yêu cầu nhận lại số tiền 9.500.000 (Chín triệu, năm trăm ngàn) đồng. Ông Nguyễn Thành T5 người đã nhận cầm cố tài sản bị trộm, tự nguyện giao nộp cho Công an, không yêu cầu nhận lại số tiền 1.500.000 (Một triệu, năm trăm ngàn) đồng.

[4]. Về án phí : Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

[5]. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án : Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[6]. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Như T10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 148/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger