Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2025/DS-PT

Ngày 24 tháng 12 năm 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và ông Ngô Thế Tương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 133/2025/TLPT-DS ngày 30/10/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 195/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 177/2025/QĐ-PT ngày 09/12/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn kháng cáo: Bà Phạm Thị Ú, sinh năm 1954; nơi cư trú: Phố A, phường P, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Vũ Văn B, sinh năm 1965; nơi cư trú: Phố A, phường P, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1948;
    • 3.2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1969;
    • 3.3. Bà Đỗ Thị G, sinh năm 1933;

Đều có HKTT: Phố A, phường P, tỉnh Hưng Yên.

Ông C vắng mặt, uỷ quyền cho bà Ú tham gia tố tụng; bà G vắng mặt, uỷ quyền cho chị L tham gia tố tụng, chị L có mặt.

  1. Người làm chứng: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1956; nơi cư trú: Phố A, phường P, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ú trình bày:

Bà Ú và ông C là đồng sử dụng thửa đất số 12, tờ bản đồ số 07, tại đội 1, khu phố A, phường A, (nay là phường P, tỉnh Hưng Yên). Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HH00313/QSDĐ/1694/QĐ - UB/Q02 - T108, do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 20/6/2005 có tổng diện tích là 1.018m² mục đích sử dụng lâu dài. Theo Vlap năm 2010 - 2012 và năm 2021 diện tích đo chỉ còn lại diện tích là 951,6m².

Quá trình sử dụng do nhà bà ở giữa xóm, trước năm 1988 gia đình bà đi theo hướng Bắc của thửa đất, đi chung với nhà ông K, không đi ngõ đi chung (của nhà cụ G và cụ D). Đến khoảng năm 1987, gia đình bà xin đi nhờ phần đất của cụ D (chính là phần diện tích ngõ đi chung của nhà cụ G và cụ D), khi được cụ D cho đi nhờ ngõ gia đình bà có cạp và xây 5000 gạch phía bờ ao nhà cụ D để đi chung ngõ. Diện tích ngõ đi chung hai nhà cụ G và cụ D ban đầu có chiều dài 22m chiều rộng 3m, phía Bắc của ngõ giáp đất nhà cụ G (mẹ anh B). Đến năm 1997, chính quyền đến đo đạc kẻ vào bản đồ năm 1997, nhưng bản đồ năm 1997 không thể hiện cụ thể diện tích, kích thước ngõ đi chung là bao nhiêu. Đến năm 2005, anh B (con cụ G) không cho bà đi nhờ cùng với nhà cụ D và bắt gia đình bà phải đổi một phần diện tích đất thổ cư của nhà bà để trả anh B thì gia đình bà mới được tiếp tục đi ở ngõ đi chung này với nhà cụ D. Khi đổi hai bên chỉ thống nhất bằng miệng, không đo đạc diện tích và bàn giao cụ thể diện tích đổi cho nhau là bao nhiêu, không ra Uỷ ban xã để điều chỉnh trên sơ đồ. Sau đó, gia đình anh B xây dựng tường bao, lấn ra phần ngõ đi chung của gia đình bà và bà H (con cụ D), cụ thể các phần lấn chiếm như sau:

- Năm 2007, sau khi nhà bà và nhà anh B đổi đất thổ cư lấy diện tích ngõ đi chung với nhà cụ D, gia đình anh B xây luôn tường ngăn cách đất nhà anh B với ngõ đi chung, lấy cột điện gia đình bà chôn (phía Tây giáp đường đi) trước đó làm mốc, hiện cột điện đó vẫn còn. Cũng trong năm 2007, anh B lại đập tường ra xây lại, khi anh B xây lại tường đã xây lấn ra ngoài cột điện (đã chôn làm mốc giới). Diện tích anh B, chị L xây lấn ra ngõ đi chung diện tích khoảng 22m² (phía Tây 0,7m, phía Đông Nam 1,1m, dài 22m). Dẫn đến hiện nay ngõ đi chung của gia đình bà với gia đình bà H con cụ D chỉ còn phía Tây 2,3m phía Đông Nam 1,9m làm ảnh hưởng tới quyền lợi của gia đình bà.

- Diện tích gia đình anh B lấn ra phần ngõ đi riêng (duy nhất) của gia đình bà: Giáp ngõ đi chung (nhà bà và nhà cụ D) để đi vào nhà có ngõ đi riêng (ngõ đi duy nhất), phần diện tích ngõ này được chính quyền đo và kẻ thể hiện trên bản đồ năm 1997. Ngõ này được lấy từ phần diện tích của gia đình bà, chỉ mình gia đình bà sử dụng, với diện tích rộng 2,7m, dài 10,5m tiếp giáp và nối với ngõ đi chung. Năm 2007, anh B xây tường và chiếm cả ngõ đi riêng (ngõ đi duy nhất) của nhà bà Ú.

Vì vậy, bà Ú đề nghị Tòa án giải quyết:

  • Buộc anh Vũ Văn B phải trả lại bà phần diện tích thuộc ngõ đi chung của gia đình bà và nhà cụ D (nay là nhà bà H) mà anh B đã lấn chiếm với diện tích khoảng 22m² (lấn phía Tây 0,7m, phía Đông Nam 1,1m, dài 22m) trị giá thành tiền là 100.000.000 đồng.
  • Buộc anh B phải trả lại phần diện tích là ngõ đi riêng (ngõ đi duy nhất) của gia đình bà mà anh B đã lấn chiếm với diện tích khoảng 26m² (chiều rộng 2,7m, dài 10,5m) trị giá thành tiền là 130.000.000 đồng.

Do từ khi đo thẩm định giải quyết vụ án lần trước năm 2024 đến nay diện tích vị trí đất tranh chấp không thay đổi, do vậy bà đề nghị Tòa án không cần phải thẩm định và định giá lại hai thửa đất nhà bà và nhà anh B, không thẩm định, định giá lại phần diện tích đất tranh chấp (là diện tích phần ngõ đi chung và ngõ đi duy nhất). Đề nghị Tòa án sử dụng lại kết quả và sơ đồ thẩm định, kết quả định giá ngày 19/01/2024 và ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên cũ để làm căn cứ giải quyết vụ án.

  1. Bị đơn anh Vũ Văn B trình bày:

Vợ chồng anh hiện đang ở, quản lý, sử dụng diện tích đất theo bản đồ 299 diện tích đất trên gồm 2 thửa: Thửa số 48 diện tích 725m² (loại đất T), thửa số 49 diện tích 200m² (loại đất A), tên người sử dụng đất là cụ Đỗ Thị G, là mẹ đẻ ông đứng tên trên giấy tờ. Hiện nay diện tích đất trên vẫn do mẹ ông là người đứng tên trên các giấy tờ. Quá trình sử dụng bà Ú, ông C có sang nói với gia đình ông xin đổi một phần diện tích đất thổ cư khoảng 22m² ở phía sau thuộc phía Đông thửa đất gia đình ông, để bà Ú, ông C lấy phần ngõ đi chung (nằm ở phía Nam, phía Tây phía giáp đường của xóm, phía Đông giáp ao nhà ông K, hiện nay bà Ú đang sử dụng phần diện tích đất đổi này). Một phần diện tích đất này khoảng 22m² đến 25m² (chiều dài khoảng 22m, chiều rộng phía Tây 1,25m, phía Đông là 0,9m), được cắt ra từ thửa đất số 49 diện tích 200m² loại đất ao, phần còn lại của ngõ đi chung là của nhà bà D mẹ chị H có diện tích phía T và phía Đông rộng khoảng 1m. Như vậy tổng diện tích ngõ đi chung của hai nhà sau khi gia đình ông đổi đất là (dài 22m, phía Tây rộng 2,25m, phía Đông 1,9m). Khi đổi một phần đất hai bên gia đình chỉ thỏa thuận miệng để cho gia đình bà Ú lấy lối đi, việc đổi đất hai bên không lập biên bản, không đo cụ thể diện tích là bao nhiêu, không báo Uỷ ban nhân dân xã để điều chỉnh.

Sau khi đổi đất hai gia đình sử dụng ổn định không có tranh chấp, đến năm 2004 hai bên gia đình có mời bà H và anh Nguyễn Văn L1 (P) là con bà H ra làm chứng, kết hợp với cán bộ phường là ông L1 và ông C1 cùng ra chỉ vị trí diện tích đất đổi. Các bên vẫn thống nhất lấy diện tích đất các bên đã thỏa thuận thống nhất trước đó. Khi đó gia đình bà Ú còn dọn dẹp cây cối để trả diện tích đất cho gia đình ông xây tường. Bà Ú nói gia đình ông đập tường đi xây lại năm 2007 là không đúng. Việc xây tường để phân định ngõ đi chung từ năm 2004 đến nay, bức tường trên hiện vẫn còn, gia đình anh chưa khi nào phá tường đi xây lại như lời trình bày của bà Ú. Việc bà Ú lấy cột điện, hiện chôn trên phần đất nhà ông làm mốc giới là không đúng vì cột điện trên có trước khi đổi đất năm 1988.

Đối với tranh chấp ngõ đi riêng: Bà Ú cho rằng gia đình ông lấn phần ngõ đi riêng của nhà bà Ú với diện tích rộng 2,7m, dài 10,5m, nội dung này là không đúng vì theo bản đồ 299 thì phần diện tích đất tranh chấp trên thuộc thửa đất 49 của gia đình anh giáp thửa đất số 55 nhà ông K hai nhà cách nhau bờ ao, quá trình sử dụng nhà anh mở ngõ đi chung bờ ao với nhà ông K. Sau này đổi đất cho gia đình bà Ú, thì gia đình bà Ú đi ngõ đi này. Tuy nhiên năm 2005, gia đình bà Ú làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đo lại đất theo hiện trạng mà các bên đã đổi đất cho nhau. Gia đình bà Ú lấy diện tích đất theo tài liệu bản đồ 237 và các giấy tờ cũ để làm, không lấy diện tích đất theo hiện trạng. Thực tế phần diện tích mà bà Ú cho là ngõ đi riêng duy nhất của gia đình bà Ú không có.

Nay bà Ú khởi kiện đề nghị Tòa án buộc gia đình anh phải trả phần diện tích ngõ đi chung, diện tích ngõ đi riêng (duy nhất) là không có căn cứ, anh không đồng ý.

  1. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về cơ bản chị nhất trí với ý kiến trình bày của anh B, chị chỉ bổ sung thêm ý kiến của bà Ú về phần diện tích mà bà Ú nói là ngõ đi riêng (ngõ đi duy nhất) phần diện tích đất này trước là bờ ao ngăn cách hai thửa đất 49 và thửa 55 (theo bản đồ 299) của gia đình chị và gia đình ông K. Khi gia đình bà Ú đổi đất ao cho nhà ông K, vì diện tích đất của nhà ông K ít hơn diện tích đất của nhà bà Ú, do vậy khi đó gia đình chị thống nhất cho nhà ông K toàn bộ bờ ao chung của hai thửa 49 và thửa 55 (bản đồ 299) để ông K lấy bờ ao này trả cho nhà bà Ú sau bà Ú đổi làm ngõ đi chung. Nay bà Ú đòi gia đình chị diện tích ngõ đi riêng (duy nhất) là không có căn cứ.

Về việc thẩm định, định giá lại diện tích hai thửa đất nhà chị và phần diện tích đất ngõ đi chung, phần đất đang tranh chấp, quan điểm của chị không đề nghị Tòa án thẩm định và định giá lại hai thửa đất nhà chị và nhà bà Ú hiện đang tranh chấp. Đề nghị Tòa án sử dụng lại kết quả và sơ đồ thẩm định, kết quả định giá ngày 19/01/2024 và ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên cũ để làm căn cứ giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ thêm Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” để làm căn cứ giải quyết.

  1. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà G trình bày:

Theo bản đồ 299, bà đứng tên sử dụng thửa đất có diện tích 925m²; theo bản đồ 237 đo năm 1999, thửa đất bà đứng tên sử dụng diện tích là 958m². Quá trình sử dụng gia đình bà đã cho ông Vũ Quang K1 em chồng bà khoảng 41,2m² để làm nhà thờ. Theo bản đồ VLAP năm 2010 - 2012 diện tích là 947,4m². Diện tích đất trên bà đã cho vợ chồng anh B, chị L quản lý sử dụng, xây nhà 2 tầng cùng tường rào và các công trình phụ khác trên đất. Nay bà Phạm Thị Ú khởi kiện cho rằng vợ chồng anh B, chị L xây tường lấn ra ngõ đi chung của nhà bà Ú là hoàn toàn không đúng. Anh B, chị L xây tường đúng mốc giới không lấn đất của gia đình bà Ú.

  1. Người làm chứng bà Vũ Thị H trình bày:

Bà với gia đình bà G, anh B và gia đình ông C, bà Ú có quan hệ họ hàng. Đất ở của bố mẹ bà là cụ D liền kề với ao nhà ông K và một cái ao giáp lối đi của gia đình nhà bà G nay anh B đang quản lý sử dụng. Trước gia đình bà Ú, ông C đi ngõ phía Bắc cùng nhà ông K, giáp đất nhà ông S, sau đó gia đình bà Ú đổi đất cho nhà ông K lấy diện tích ao tại thửa 55 diện tích 120m². Sau khi đổi đất cho nhà ông K gia đình bà Ú xin đi nhờ ngõ đi chung với nhà bà và nhà bà G, anh B. Năm 2004, sau khi đổi đất xong gia đình bà G, anh B xây tường dậu bao quanh đến nay, bà Ú nói năm 2007 anh B đập tường đi xây lại là không đúng. Khi xây tường chính ông C, bà Ú ra chỉ mốc giới cho anh B, chị L xây không hề có xảy ra mâu thuẫn tranh chấp gì. Năm 2009, khi đo Vlap gia đình bà Ú cũng ký giáp ranh với các hộ không hề có tranh chấp. Việc chôn cột điện nhờ trên đất nhà bà G có từ lâu trước khi có sự việc đổi đất giữa các nhà (bà G, bà Ú, ông K), bà Ú nói khi đổi đất các bên mới chôn cột điện để làm mốc giới theo quan điểm của bà không đúng. Việc bà Ú cho rằng nhà anh B còn lấn sang phần ngõ đi riêng (ngõ đi duy nhất) nhà bà Ú, việc này là không có. Phần diện tích mà bà Ú nói là ngõ đi riêng thực chất là bờ ao ngăn cách hai thửa đất 49 và thửa 55 (theo bản đồ 299) của nhà cụ G và ông K, sau bà Ú đổi đất để làm ngõ đi chung với mọi người. Nay gia đình ông C, bà Ú khởi kiện bảo anh B, chị L lấn phần đất ngõ đi chung, phần đất ngõ đi riêng (ngõ đi duy nhất) của gia đình nhà bà Ú là hoàn toàn không đúng.

  1. Tại biên bản xác minh chính quyền địa phương - Ủy ban nhân dân phường A cung cấp:

Việc thay đổi diện tích của gia đình bà Ú qua các thời kỳ đo đạc là do thay đổi mốc giới diện tích đất giữa gia đình bà Ú với gia đình ông K và gia đình anh B. Diện tích của gia đình anh B thay đổi cũng do thay đổi mốc giới với gia đình bà Ú, sau này gia đình anh B làm GCNQSDĐ thừa thiếu sẽ do hội đồng xét duyệt theo quy định của luật đất đai.

  1. Biên bản thẩm định và sơ đồ ngày 18/8/2025 phần diện tích đất có tranh chấp:

- Tổng diện tích ngõ đi chung của hai nhà (bà Ú và bà H) có diện tích là 47,7m² trong đó các bên tự phân chia với nhau thành hai phần: Phần diện tích đất tranh chấp thuộc ngõ đi chung của gia đình bà Ú trong diện tích ngõ đi với nhà bà H mà bà Ú cho rằng anh B lấn chiếm. Vị trí do bà Ú chỉ để đo có diện tích là 25m² (chiều rộng phía Tây 1,37m, phía Đông 0,90m, cạnh dài phía Bắc giáp đất nhà anh B là 19,32m; cạnh dài phía Nam giáp với phần nửa ngõ nhà bà H 22,11m). Trên đất có bức tường do gia đình anh B xây giáp ngõ đi chung của gia đình bà Ú và gia đình bà H, tường 10, cao 1,8m, dài 19,32m. Phần diện tích ngõ còn lại của gia đình bà H có diện tích là 22,7m² (chiều rộng phía Tây 1,01m, phía Đông 1,04m, cạnh dài phía Bắc giáp với phần nửa ngõ nhà bà Ú 22,11m; cạnh dài phía Nam 20,01m).

+ Phần diện tích là ngõ đi riêng (ngõ đi duy nhất) của gia đình bà Ú cho rằng anh B đã lấn chiếm với diện tích khoảng 28,3m² (chiều rộng phía Bắc 1,58m; phía Nam 2,70m, dài 10,50m). Trên đất có bức tường do gia đình anh B xây tường 10, cao 2,3m, chiều dài 10,50m.

Hiện trạng diện tích đất và tài sản trên đất được đo thẩm định lại lần này về cơ bản các đương sự trình bày không có sự thay đổi từ các lần thẩm định trước ngày 19/01/2024 và ngày 13/6/2024 của Toà án nhân dân thành phố (cũ).

  1. Bản án sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số 85) ngày 25/6/2025 của Quốc hội; Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; điểm c khoản 1 Điều 12 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phạm Thị Ú đối với yêu cầu anh B trả lại phần diện tích ngõ đi chung của gia đình bà mà ông đã lấn chiếm diện tích (lấn phía Tây 0,7m, phía Đông Nam 1,1m, dài 22m).
  2. Không chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Ú đối với yêu cầu anh B phải trả lại diện tích bà cho rằng là ngõ đi duy nhất với diện tích rộng 2,7m, dài 10,5m.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

  1. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/9/2025, bà Phạm Thị Ú có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm để xem xét lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
  1. Tại phiên tòa, bà Ú trình bày và tranh luận:

Nhà bà ở giữa xóm, không có ngõ đi nên phải đổi đất thổ cư 48,45m² cho nhà anh B để lấy ngõ đi. Hiện nay anh B chiếm ngõ của gia đình bà, chỉ trả bà 23,65m² đất ngõ đi chung với nhà bà H. Gia đình bà còn có ngõ đi riêng, nối liền với ngõ đi chung có diện tích 28,35m², nhưng anh B đã xây tường và chiếm hết ngõ đi riêng này của gia đình bà. Vì vậy, bà Ú đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc anh B phải trả lại ngõ đi riêng cho gia đình bà, đồng thời trả đủ diện tích đất ngõ mà bà đã đổi đất thổ cư cho gia đình anh B để đổi ngõ đi chung. Bà Ú xác định ranh giới ngõ đi của gia đình bà được chỉ ranh giới một đầu bằng cột điện nhà bà đã mang về chôn năm 1997 để nối đấu điện cho các nhà trong ngõ nhưng hiện nay anh B lại xây tường bao bên ngoài cột điện để biến đất ngõ đi chung thành đất nhà anh B. Khi anh B xây tường thì gia đình bà có biết nhưng không biết chính xác là anh B xây lấn ngõ là bao nhiêu mét, chỉ khi bà lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà về mới thấy ngõ đi không thể hiện giống như trong bản đồ đo đạc năm 1997 nên bà mới có tranh chấp với anh B.

  1. Tại phiên tòa, bị đơn anh Vũ Văn B và người liên quan là chị L trình bày tranh luận:

Bà Ú và anh B, chị L đều xác định đã đổi đất cho nhau để gia đình bà Ú chuyển đi chung ngõ với gia đình bà H. Việc đổi đất không lập biên bản, chỉ đổi miệng với nhau, không cụ thể diện tích đất đã đổi. Tuy nhiên, sau khi đổi đất, năm 2004, hai gia đình đã ra chỉ mốc giới cho nhau và anh B, chị L xây tường dậu bao quanh thửa đất như hiện trạng, đến nay phần xây dựng ở giáp ngõ nhà bà H và bà Ú đang sử dụng không có thay đổi gì. Cột điện được chính quyền địa phương đặt trên đất gia đình anh chị từ trước năm 1990, năm 2004, gia đình anh chị xây tường bao quanh thửa đất, bà Ú biết việc xây dựng này nhưng từ đó đến khi xảy ra vụ án đều không có ý kiến gì. Đối với ngõ đi riêng mà bà Ú yêu cầu gia đình anh chị phải trả lại thì anh chị cũng không đồng ý. Anh B, chị L vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ú, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên.

  1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm:

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Ú, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Phạm Thị Ú làm trong hạn luật định nên vụ án được đưa ra xét xử theo trình tự, thủ tục tố tụng phúc thẩm.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Ú, thì thấy: Các đương sự đều thừa nhận có việc đổi đất cho nhau giữa gia đình bà Ú và gia đình bà G, anh B. Việc đổi đất giữa các bên chỉ bằng miệng, không đo đạc, không lập văn bản, không đăng ký biến động, khi đổi đất các đương sự không có số liệu cụ thể diện tích, tứ cận, chiều dài, chiều rộng. Bản đồ 327, đo đạc năm 1997, đã thể hiện ngõ đi chung nhưng không có toạ độ nên không xác định được chiều dài, chiều rộng của ngõ đi chung là bao nhiêu mét. Mặt khác, sau khi đổi đất cho nhau, năm 2004 khi gia đình anh B, chị L xây bờ tường bao xung quanh thửa đất để phân định ranh giới, mốc giới giữa các thửa đất, việc xây tường có sự chứng kiến và chỉ mốc giới của chính vợ chồng bà Ú, người làm chứng là bà H và sử dụng ổn định từ đó đến năm 2024 không phát sinh tranh chấp. Các gia đình khi sử dụng ngõ đi chung không chia cụ thể mỗi bên có bao nhiêu diện tích, do vậy không xác định được cụ thể diện tích ngõ đi chung trước và sau khi các bên đổi đất là bao nhiêu, cũng không xác định được chính xác phần diện tích đất thổ cư nhà bà Ú đã đổi cho nhà anh B để lấy phần ngõ đi chung là bao nhiêu vì các bên chỉ thoả thuận bằng miệng. Bà Ú chỉ dựa vào bản đồ năm 1997, thể hiện có ngõ đi chung để ước lượng diện tích ngõ đi chung (có chiều dài 22m, chiều rộng 3m) mà không cung cấp được chứng cứ pháp lý nào khác để chứng minh gia đình anh B lấn chiếm ngõ đi chung lấn phía Tây 0,7 m, phía Đông Nam 1,1m, dài 22m. Khi cấp đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005, bà Ú không kê khai việc đã đổi đất, nên dẫn đến chênh lệch diện tích, ranh giới không phản ánh đúng hiện trạng sử dụng đất của các hộ gia đình. Trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ địa chính qua các thời kỳ (bản đồ 299, bản đồ 237) cũng không thể hiện có sự tồn tại “ngõ đi riêng” của hộ bà Ú. Bà Ú không cung cấp được chứng cứ pháp lý nào mà chỉ căn cứ vào diện tích đất đo thực tế hiện còn thiếu so với diện tích đất ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và suy đoán nguyên nhân thiếu đất là do gia đình anh B lấn chiếm là không có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Ú, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên.

[3] Về án phí: Bà Phạm Thị Ú đã trên 60 tuổi, thuộc diện được miễn án phí nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Ú.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Ú, giữ nguyên Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 16/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên.
  2. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Phạm Thị Út .
  3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 24/12/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND khu vực 1;
  • - THADS khu vực 1;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2025/DS-PT ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 140/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Út - Vũ Văn Bắc tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger