Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án: 140/2025/HS-PT

Ngày: 29/9/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

—————————

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hải
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung
Bà Trần Thị Thu Hằng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 144/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Khánh Hòa.

* Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1990 tại: N, Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn P, xã N (trước là xã N, thị xã N), tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn T, sinh năm 1961; con bà: Phạm Thị N, sinh năm 1967; có chồng là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989 (đã ly hôn); có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Không;
  2. Tiền sự: Ngày 19/9/2022, bị Công an xã N xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 928/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc; đã đóng phạt ngày 22/9/2022;

    Nhân thân: Ngày 02/3/2021, bị Ủy ban nhân dân thị xã N xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 800/QĐ-UBND về hành vi để cho người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy trong khu vực mình quản lý và hoạt động karaoke quá giờ được phép; đã đóng phạt ngày 05/3/2021; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/8/2023 đến ngày 25/01/2024 và từ ngày 21/4/2025 cho đến nay; có mặt.

  3. Bị cáo Phan Nguyệt B, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1994 tại: N, Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N (trước là phường N, thị xã N), tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Thợ phun xăm; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Gia P, sinh năm 1963; con bà: Lữ Trung T2, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không. Có chồng là Phan Ngọc H, sinh năm 1995. Bị cáo bị C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/4/2024 cho đến nay; có mặt.

* Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:

  1. Bị cáo Huỳnh Văn T3, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1999 tại: N, Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn V, xã T (trước là xã N, thị xã N), tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn T4, sinh năm 1974; con bà: Trầm Thị Thanh P1, sinh năm 1974; tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 28/5/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, chấp hành xong hình phạt ngày 03/02/2021. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/8/2023 đến ngày 25/01/2024 và từ ngày 17/4/2025 cho đến nay; vắng mặt.
  2. Bị cáo Tôn Thất P2, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1997 tại: N, Khánh Hòa; nơi cư trú: TDP Đ, phường N (trước là xã N, thị xã N), tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tôn Thất N1, sinh năm 1973; con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/8/2023 đến ngày 26/10/2023 và từ ngày 17/4/2025 cho đến nay; vắng mặt.

Trong vụ án còn có 22 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm lời. Chiều ngày 30 tháng 10 năm 2022, Lê Chí C1 sử dụng tài khoản messenger của C1 tên “Cường L” để gọi điện đến tài khoản “Mai Tuấn A” không rõ nhân thân, lai lịch hỏi mua 10 viên ma túy “thuốc lắc” và 01 hộp 5 ma túy “khay” thì tài khoản “Mai Tuấn A” đồng ý, sau đó C1 điều khiển xe mô tô loại Vario, biển số 79V1-558.57 đến điểm hẹn tại ngã 2 D, thị xã N, đưa số tiền 8.000.000 đồng và nhận 10 viên ma túy “thuốc lắc”, 02 bịch ma túy “khay”. Sau khi mua được ma túy thì C1 lấy một viên ma tuý “thuốc lắc” và một ít ma túy “khay” tự dùng thử một mình. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, Phạm Văn T5 nhắn tin với C1 hỏi mua 03 viên ma tuý “thuốc lắc” và nửa hộp 5 ma túy “khay”, C1 đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển số 79V1-558.57 đến cơ sở kinh doanh karaoke G, lên phòng Chờ 5 giao ma túy cho T5 gồm 03 viên ma túy “thuốc lắc” và nửa hộp 5 ma túy “khay” với tổng giá tiền là 3.900.000 đồng. T5 đã thanh toán tiền mua ma túy bằng cách chuyển khoản cho C1. Khi C1 đang ở khu vực sảnh chờ chuẩn bị về thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng.

Nguyễn Thị Nhật S là chủ cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy tại thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Với mục đích lôi kéo khách nhằm tăng doanh thu, S chỉ đạo nhân viên là Huỳnh Văn T3 và Tôn Thất P2 (đã làm việc tại cơ sở kinh doanh từ khoảng tháng 7 đến tháng 8 năm 2022 với mức lương 6.000.000 đồng/tháng), chuẩn bị đĩa sứ, thẻ nhựa sim điện thoại phục vụ khách sử dụng ma túy tại cơ sở kinh doanh của mình. Thạch hoặc P2 nhận nhiệm vụ dẫn khách vào phòng hát, mang nước, trái cây, đĩa sứ, thẻ nhựa sim điện thoại phục vụ khách sử dụng trái phép chất ma tuý. Lợi nhuận từ việc cho thuê phòng sử dụng ma tuý do S trực tiếp hưởng. Vào ngày 30 tháng 10 năm 2022, T3, P2 là người trực tiếp nhận đặt phòng, cung cấp đĩa sứ, thẻ nhựa sim điện thoại cho các phòng V, Chờ 2, C, C, Chờ 6, Chờ 7 để khách sử dụng trái phép chất ma tuý.

Đối với phòng Vip 1:

Tối ngày 30 tháng 10 năm 2022, Hồ Quốc H2, Dương Thanh T6 trong lúc ăn nhậu tại quán B1, thuộc đường B, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa thì bàn bạc, thống nhất cùng nhau đi sử dụng trái phép chất ma tuý. Do chưa chọn được địa điểm, H2 gọi điện cho anh ruột là Hồ Thiện Q rủ tham gia. Lúc này, Q đang ăn nhậu cùng Trần Tuấn A1, Trần Văn A2 nên truyền đạt lại việc H2 rủ đi sử dụng ma tuý, H2 chọn cơ sở kinh doanh karaoke G là nơi sử dụng ma tuý và báo lại cho Q biết, số tiền mua ma tuý sử dụng và thuê phòng cho cả nhóm do H2 ứng trước trả, sau đó những người tham gia góp lại cho H2, tất cả đồng ý. H2 sử dụng tài khoản messenger của H2 tên “Quốc Huy” liên lạc đến người sử dụng tài khoản messenger tên “Nguyễn Thanh P3” không rõ nhân thân, lai lịch thoả thuận mua 03 viên ma túy “thuốc lắc” và nửa hộp 5 ma túy “khay”. Khi đến cơ sở kinh doanh karaoke G, H2, Q, Tuấn A1, Văn A2 gặp nhân viên Huỳnh Văn T3 đặt phòng sử dụng ma tuý, T3 đồng ý rồi dẫn lên phòng V3, cung cấp 01 đĩa sứ trắng, 01 thẻ nhựa sim điện thoại. Nhận phòng, H2 gọi điện đến tài khoản messenger “Nguyễn Thanh P3” yêu cầu giao ma tuý đến phòng Vip 1 cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy. Tại đây, H2, Q, Tuấn A1, Văn A2 trao đổi, thống nhất gọi 04 nữ phục vụ đến cùng sử dụng ma túy “dìu bay” thì H2 nhờ nhân viên cơ sở kinh doanh karaoke G (không xác định được ai) liên hệ giúp. Sau đó, một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch đến giao 03 viên ma túy “thuốc lắc” và 01 gói ma túy “khay” cho H2, H2 trả cho thanh niên này số tiền 2.600.000 đồng. Nhận được ma tuý, H2 bẻ ma tuý “thuốc lắc” thành nhiều phần, đổ ma tuý “khay” lên đĩa sứ trắng rồi dùng thẻ nhựa sim điện thoại nghiền nhỏ chia thành nhiều đường, quấn tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng thành dạng ống hút. Chuẩn bị xong, H2, T6, Q, Tuấn A1, Văn A2 cùng sử dụng ma tuý. Một lúc sau, Lê Thị Kim C2 (sinh ngày 01/11/2005) và Nguyễn Thị Ngọc V (sinh ngày 11/01/2004) là nữ phục vụ được gọi trước đó đến phòng V3, khi thấy trên bàn có đĩa sứ trắng chứa sẵn ma túy “khay” và ống hút quấn bằng tiền thì C2, V tự biết sử dụng. Tiếp đó, T6 đến phòng Vip 1 được H2 chia ma tuý “thuốc lắc” sử dụng và T6 tự sử dụng ma túy “khay” trên đĩa sứ trắng. Còn nữ phục vụ Lê Thị Ngọc T7 (sinh ngày 03/4/2007) và Hồ Thị Kim L1 (sinh ngày 20/9/2004) đến phòng Vip 1 sau, chưa sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng.

Đối với phòng Chờ 2:

Tối ngày 30 tháng 10 năm 2022, sau khi ăn nhậu tại nhà vợ của Võ Thành L2 là bà Nguyễn Thị Mỹ H3 thuộc thôn C, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, L2, Lê Ngọc S1, Nguyễn Quang H4, Ngô Công H5 bàn bạc, thống nhất cùng nhau đi nhậu tiếp và sử dụng trái phép chất ma tuý tại phường N, thị xã N. Để có tiền sử dụng ma tuý, H4, S1 mỗi người góp số tiền 2.200.000 đồng, H5 góp số tiền 600.000 đồng giao cho S1 giữ, riêng phần tiền của L2 do H4 lo. Quá trình di chuyển bằng xe taxi đến phường N, H4, S1 liên lạc cho bạn Nguyễn Văn K hỏi mua ma tuý giúp và rủ cùng đi sử dụng ma tuý thì K đồng ý, hẹn đến cơ sở kinh doanh karaoke G sử dụng ma tuý. Sau đó S1, H4, H5, L2, K cùng đến gặp mặt tại cơ sở kinh doanh karaoke G, lúc này bà H3 là vợ của L2 đi nhờ xe taxi được bạn chở đi chơi, còn S1, H4, H5, L2, K đặt phòng sử dụng ma tuý được nhân viên (chưa xác định được) dẫn lên phòng Chờ 2, cung cấp 01 đĩa sứ trắng, 01 thẻ nhựa sim điện thoại. Tại đây, K liên lạc với người sử dụng tài khoản messenger biết trước đó tên “Tý khay” không rõ nhân thân, lai lịch thoả thuận mua nửa hộp 5 ma túy “khay” và 03 viên ma túy “thuốc lắc”. Một lúc sau, có một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch đến giao ma túy, H4 trả cho người thanh niên này số tiền 4.200.000 đồng đã góp từ trước. Nhận được ma túy, L2 lấy thẻ ATM ngân hàng A4 tên NGUYEN THI MY HIEN số 9704053077994431, nghiền nhỏ ma tuý “khay” chia thành nhiều đường, S1 quấn tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng thành dạng ống hút, K bẻ ma tuý “thuốc lắc” thành nhiều phần. Chuẩn bị xong, L2, S1, H4, H5, K cùng sử dụng ma tuý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, K dùng tài khoản messenger của K tên “Khánh Ken P4" gọi cho bạn Nguyễn Hữu L3 qua tài khoản messenger tên “Nguyễn Hữu L3” rủ L3 đến sử dụng ma túy, L3 đồng ý và đến phòng Chờ 2 sử dụng ma túy “khay”, ma túy “thuốc lắc”.

Tối ngày 30 tháng 10 năm 2022, Nguyễn Thị Thu T8, Lê Quang S2, Thái Thành L4 sau khi nhậu tại nhà S2 thuộc thôn Q, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa thì bàn bạc, thống nhất cùng nhau đi sử dụng trái phép chất ma tuý, số tiền mua ma tuý và thuê phòng cho cả nhóm do T8 ứng trước trả, sau đó những người tham gia góp lại cho T8. S2 dùng tài khoản messenger của Sang tên “Quang S2” nhắn tin cho Nguyễn Hữu L3 qua tài khoản messenger tên “Nguyễn Hữu L3” hỏi L3 đang ở đâu thì L3 trả lời đang ở phòng Chờ 2 cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy. S2 nhận biết L3 đang sử dụng ma tuý nên nói lại cho T8, L4 cùng đến phòng Chờ 2. Lúc này, T8 liên lạc với bạn Đinh Quang V1 nhờ mua ma tuý giúp và rủ đến phòng Chờ 2 cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy sử dụng ma tuý, V1 đồng ý. Sau đó, V1 sử dụng tài khoản messenger của V1 tên “Đinh Quang V1" liên lạc với người sử dụng tài khoản messenger biết trước đó tên “Võ Đoàn Đ” không rõ nhân thân, lai lịch thoả thuận mua 02 viên ma túy “thuốc lắc” và nửa hộp 5 ma túy “khay”, tiền mua ma túy sẽ trả sau khi sử dụng ma tuý xong, người này đồng ý. T8, S2, L4 đến cơ sở kinh doanh karaoke G thì gặp một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch hỏi có phải người quen của Đinh Quang V1 không, nhóm T8 trả lời đúng, người thanh niên này cùng nhóm T8 vào phòng trống Vip 1 đưa cho S2 02 viên ma túy “thuốc lắc” và 01 bịch ma túy “khay”. Nhận được ma tuý, T8, S2, L4 gặp V1 nên cùng vào phòng Chờ 2, tại đây S2 đưa ma túy “khay” cho K để góp vào sử dụng chung, còn ma tuý “thuốc lắc” Sang bẻ chia đều cho S2, T8, L4, V1 sử dụng, khi nhìn thấy trên bàn có đĩa sứ trắng chứa sẵn ma túy “khay” và ống hút quấn bằng tiền thì S2, T8, L4, V1 cùng sử dụng. Sau đó, lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng.

Đối với phòng Chờ 3:

Khoảng 21 giờ ngày 30 tháng 10 năm 2022, Nguyễn Lê Đắc N2 gọi điện rủ Phan Nguyệt B sử dụng trái phép chất ma tuý, B đồng ý nên N2 nói Bối tìm địa điểm sử dụng, số tiền mua ma tuý và thuê phòng do Na ứng trước trả. Cùng lúc, Trần Thị Diễm H6 gọi điện cho B thì đồng thời hai người gặp nhau ở quán N9 đường B, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, B rủ H6 cùng đi sử dụng ma túy, H6 đồng ý. Bối nhờ H6 đặt mua ma túy và đặt phòng sử dụng ma tuý thì H6 hỏi mua số lượng bao nhiêu, lúc này B nhắn tin trao đổi với N2 và được biết số lượng cần mua là 03 viên ma túy “thuốc lắc”, 02 chấm ma túy “khay”, B truyền đạt lại nội dung này đến H6. Ngay sau đó, H6 gọi điện cho Huỳnh Văn T3 là nhân viên cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy đặt phòng sử dụng ma tuý thì T3 đồng ý, Thạch báo lại phòng được đặt là Chờ 3. H6 gọi điện nhờ đặt mua ma tuý từ người không xác định được. Đặt xong phòng, H6 nói lại cho B rồi rủ bạn Nguyễn Hồng Hoàng Y đi sử dụng ma tuý, Y đồng ý. Bối nhắn lại cho N2 biết địa điểm sử dụng ma túy phòng Chờ 3 cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy, tiếp đó rủ thêm Nguyễn Mai Quỳnh N3 (sinh ngày 24/02/2005) đi sử dụng ma túy, Như đồng ý. Khi N2 đến nhận phòng thì được nhân viên (chưa xác định được) dẫn lên phòng Chờ 3, cung cấp 01 đĩa sứ trắng, 01 thẻ nhựa sim điện thoại. Một lúc sau, B đến và một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch lên phòng đưa cho N2 03 viên ma túy “thuốc lắc”, 01 gói ma túy “khay” và báo giá 3.000.000 đồng, N2 nói tiền mua ma túy sẽ chuyển khoản sau khi sử dụng ma tuý xong, người thanh niên đồng ý. Khi B, Như, H6, Y đến phòng Chờ 3 thì N2 đổ ma tuý “khay” ra đĩa sứ trắng, dùng thẻ nhựa sim điện thoại nghiền nhỏ chia thành nhiều đường, quấn tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng thành dạng ống hút, còn H6 bẻ ma túy “thuốc lắc” thành các phần. Chuẩn bị xong, N2, B, H6, Y, N3 cùng sử dụng ma tuý. Sau đó, lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng.

Đối với phòng Chờ 5:

Tối ngày 30 tháng 10 năm 2022, trong quá trình ăn nhậu tại nhà Phạm Văn T5 thuộc thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, T5, Nguyễn Ngọc N4 nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy, T5 gọi điện rủ thêm bạn Võ Văn T9, lúc này T9 đang ngồi với Nguyễn Văn V2 nên T5, T9, V2 trao đổi, đồng ý cùng đi N sử dụng trái phép chất ma túy. Trên đường đi T5, N4 gặp T9, V2 rồi cả nhóm bàn bạc, thống nhất T5 là người đặt, ứng trước tiền mua ma tuý và thuê phòng, sau đó sẽ chia cho những người tham gia và thay đổi địa điểm đến cơ sở kinh doanh karaoke G sử dụng ma tuý. Khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, T5 nhắn tin cho Lê Chí C1 đặt mua 03 viên ma túy “thuốc lắc”, nửa hộp 5 ma túy “khay”, C1 đồng ý. Tại cơ sở kinh doanh karaoke G, T5, N4, T9, V2 đặt phòng sử dụng ma tuý được nhân viên Huỳnh Văn T3 dẫn lên phòng Chờ 5, cung cấp đĩa sứ trắng, thẻ nhựa sim điện thoại. Một lúc sau, C1 đến giao 03 viên ma túy “thuốc lắc”, 01 gói ma túy “khay”, T5 chuyển khoản cho C1 số tiền mua ma túy là 3.900.000 đồng. Nhận được ma tuý, T9 lấy ma túy “thuốc lắc” bẻ thành các phần chia đều cho cả nhóm sử dụng hết, còn ma túy “khay” T9 đổ lên đĩa sứ trắng, dùng thẻ nhựa sim điện thoại nghiền nhỏ chia thành nhiều đường, quấn tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng thành dạng ống hút, chưa sử dụng thì lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng.

Đối với phòng Chờ 6:

Tối ngày 30 tháng 10 năm 2022, Võ Văn T10 (đã chết ngày 12/11/2023), Nguyễn Văn N5 trong lúc ăn nhậu thì bàn bạc, thống nhất cùng nhau đi sử dụng trái phép chất ma tuý. Khi đến cơ sở kinh doanh karaoke G, T10 đặt phòng sử dụng ma tuý được nhân viên (chưa xác định được) dẫn lên phòng Chờ 6, cung cấp 01 đĩa sứ trắng, 01 thẻ nhựa sim điện thoại. Tại đây, T10 gọi điện liên lạc với một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đặt mua 02 viên ma túy “thuốc lắc”, 02 chấm ma túy “khay”, một lúc sau có một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch đến giao 02 viên ma túy “thuốc lắc”, 01 gói ma túy “khay”, T10 trả cho người thanh niên này số tiền 2.600.000 đồng rồi nhờ người thanh niên nghiền nhỏ ma tuý “khay” chia thành nhiều đường, quấn 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng thành dạng ống hút. Sau khi T10, N5 sử dụng một phần ma tuý, N5 gọi điện rủ Hồ Thị Thanh H7 (sinh ngày 05/4/2009), Võ Thị Thùy N6 (sinh ngày 04/7/2008) là nữ phục vụ đến cùng sử dụng ma túy “dìu bay”. H7, N6 đến nơi thì T10 bẻ 01 viên ma tuý “thuốc lắc” chia cho hai người, còn ma tuý “khay” có sẵn trên đĩa H7, N6 tự sử dụng. Tại thời điểm kiểm tra Công an không thu giữ được ma tuý do đã sử dụng hết.

Đối với phòng Chờ 7:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30 tháng 10 năm 2022, Nguyễn Kim P5, Trần Phương N7 trong quá trình ăn nhậu bàn bạc, thống nhất cùng nhau đi sử dụng trái phép chất ma tuý, N7 chịu trách nhiệm đặt mua ma túy và phòng sử dụng, P5 là người trả tiền. Sau đó, N7 gọi điện cho Huỳnh Văn T3 là nhân viên cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy đặt phòng sử dụng ma tuý thì T3 đồng ý, Thạch báo lại phòng được đặt là Chờ 7. Đồng thời, N7 gọi điện thoại liên lạc mua ma tuý từ người tên Đ1 không rõ nhân thân, lai lịch với số lượng 02 viên ma túy “thuốc lắc” và 02 chấm ma túy “khay” rồi N7, P5 đón taxi đến điểm hẹn khu vực ngã tư B, xã N, thị xã N. Tại đây, P5 đưa N7 số tiền mua ma tuý là 2.600.000 đồng, N7 xuống xe nhận từ một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch 02 viên ma túy “thuốc lắc”, 01 gói ma túy “khay” và trả cho người thanh niên số tiền 2.600.000 đồng. Đến cơ sở kinh doanh karaoke G, P5, N7 được Tôn Thất P2 dẫn lên phòng Chờ 7, cung cấp 01 đĩa sứ trắng, 01 thẻ nhựa sim điện thoại. Tiếp đó, N7 đổ ma túy “khay” lên đĩa sứ trắng, dùng thẻ nhựa sim điện thoại nghiền nhỏ chia thành nhiều đường, quấn 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng thành dạng ống hút, còn ma túy “thuốc lắc”, N7 và Phú chia mỗi người 01 viên. Sau khi sử dụng ma túy “thuốc lắc” và một phần ma tuý “khay”, N7, P5 thống nhất để N7 gọi 02 nữ phục vụ đến cùng sử dụng ma túy “dìu bay”. Một lúc sau, Sơn Cẩm Q1, Văn Thị Mỹ D đến phòng Chờ 7, chưa sử dụng ma tuý thì lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng.

Thời điểm kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện khu vực sảnh chờ tầng trệt cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy có Nguyễn Ngô Công D1, Nguyễn Tấn T11, Nguyễn Thị Thùy A3, Phạm Thị Bích H8, Trương Sơn N8 và tiến hành xét nghiệm đều dương tính với chất ma tuý. Tuy nhiên D1, T11, A3, H8, N8 tự sử dụng ma tuý trước đó và không liên quan đến việc mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy.

Tại bản Kết luận giám định số 451/GĐ-GT/2022/KL-KTHS ngày 01 tháng 11 năm 2022 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận:

  • Các viên nén và mảnh vỡ viên nén màu xanh trong mẫu ký hiệu A1 là ma túy, có tổng khối lượng 2,1176g, loại MDMA.
  • Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu B1 là ma túy, có khối lượng 0,6243g, loại Ketamine.
  • Chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu VIP 1-A là ma túy, có khối lượng 0,0155g, loại Ketamine.
  • Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu VIP 1-B là ma túy, có khối lượng 0,8685g, loại Ketamine.
  • Chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu CHỜ 2-A là ma túy, có khối lượng 0,7278g, loại Ketamine.
  • Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu CHỜ 2-B là ma túy, có khối lượng 1,5245g, loại Ketamine.
  • Mảnh vỡ viên nén và chất bột màu nâu trong mẫu ký hiệu CHỜ 2-C là ma túy, có tổng khối lượng 0,4655g, loại MDMA.
  • Chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu CHỜ 3-A là ma túy, có khối lượng 0,2864g, loại Ketamine.
  • Mảnh vỡ viên nén màu nâu trong mẫu ký hiệu CHỜ 3-B là ma túy, có tổng khối lượng 0,1833g, loại MDMA.
  • Mảnh vỡ viên nén màu nâu trong mẫu ký hiệu CHỜ 3-C là ma túy, có tổng khối lượng 0,2579g, loại MDMA.
  • Chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu CHỜ 5-A là ma túy, có khối lượng 0,5659g, loại Ketamine.
  • Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu CHỜ 7-A là ma túy, có khối lượng 0,3330g, loại Ketamine.
  • Các mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Giai đoạn điều tra, Lê Chí C1, Nguyễn Thị Nhật S, Huỳnh Văn T3, Tôn Thất P2, Hồ Quốc H2, Hồ Thiện Q, Dương Thanh T6, Trần Tuấn A1, Trần Văn A2, Lê Ngọc S1, Nguyễn Quang H4, Ngô Công H5, Võ Thành L2, Nguyễn Văn K, Lê Quang S2, Đinh Quang V1, Thái Thành L4, Nguyễn Lê Đắc N2, Phan Nguyệt B, Trần Thị Diễm H6, Phạm Văn T5, Nguyễn Ngọc N4, Võ Văn T9, Nguyễn Kim P5, Trần Phương N7, Nguyễn Thị Thu T8 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Huỳnh Văn T3 tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

  • 06 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng quấn thành dạng ống hút đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N nộp vào tài khoản số 9490905828500000 của Công an thị xã N mở tại Kho bạc Nhà nước thị xã N.
  • 04 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng (kích thước: dài 02cm, đường kính 0,7cm); 05 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng (kích thước: dài 2,5cm, đường kính 0,7cm); 04 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng xanh (kích thước: dài 03cm, đường kính 0,7cm).
  • 01 thẻ ATM ngân hàng A4 tên NGUYEN THI MY HIEN số 9704053077994431; 09 đĩa sứ hình tròn, màu trắng, đường kính 25,5cm; 01 thẻ nhựa màu đỏ trắng ghi chữ Vietnamobile; 01 thẻ nhựa màu đỏ trắng ghi chữ Viettel 4G; 06 thẻ nhựa màu đỏ-cam-trắng ghi chữ Vietnamobile; 02 thẻ nhựa màu trắng ghi chữ Viettel 4G; 03 thẻ nhựa màu đỏ ghi chữ V4 4G; 01 thẻ nhựa màu xanh ghi chữ Vinaphone; 01 thẻ nhựa màu đỏ-vàng-cam ghi chữ Mobifone; 01 thẻ nhựa màu trắng xanh ghi chữ Mobifone;
  • 01 đầu ghi hiệu HIKIVISION; 01 ổ cứng nhãn hiệu Bamba;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (14,5x7)cm do Lê Chí C1 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (16x8)cm do Huỳnh Văn T3 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu S4, kích thước (16,5x7,5)cm do Hồ Quốc H2 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (15x7,5)cm do Hồ Thiện Q giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Nokia do Trần Tuấn A1 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu S4, kích thước (15x7)cm do Trần Văn A2 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, kích thước (7,5x16)cm do Lê Quang S2 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (8x16)cm do Đinh Quang V1 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (8x16)cm do Nguyễn Văn K giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (13,5x6,5)cm do Nguyễn Quang H4 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (8x16)cm do Lê Ngọc S1 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu S4, kích thước (16x7,5)cm do Nguyễn Thị Thu T8 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (14,5x7)cm do Nguyễn Lê Đắc N2 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (8x16)cm do Phan Nguyệt B giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (7x14)cm do Trần Thị Diễm H6 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone do Phạm Văn T5 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (14,5x7)cm do Nguyễn Văn V2 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kích thước (14,5x7)cm do Trần Phương N7 giao nộp, đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hoà theo biên bản giao nhận ngày 24/4/2024.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-HS ngày 20/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4), tỉnh Khánh Hòa) truy tố các bị cáo:

Nguyễn Thị Nhật S, Nguyễn Lê Đắc N2, Phan Nguyệt B, Trần Thị Diễm H6, Hồ Quốc H2, Hồ Thiện Q, Dương Thanh T6, Trần Tuấn A1, Trần Văn A2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.

Huỳnh Văn T3, Tôn Thất P2, Lê Ngọc S1, Nguyễn Quang H4, Ngô Công H5, Võ Thành L2, Nguyễn Văn K, Lê Quang S2, Đinh Quang V1, Thái Thành L4, Phạm Văn T5, Nguyễn Ngọc N4, Võ Văn T9, Nguyễn Thị Thu T8 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.

Nguyễn Kim P5, Trần Phương N7 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.

Lê Chí C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Khánh Hòa đã căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nhật S 11 (Mười một) năm 06 (S3) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2025 nhưng được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 17/8/2023 đến ngày 25/01/2024. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Phan Nguyệt B 07 (Bảy) năm 06 (S3) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo Huỳnh Văn T3, Tôn Thất P2, Nguyễn Lê Đắc N2, Trần Thị Diễm H6, Hồ Quốc H2, Hồ Thiện Q, Dương Thanh T6, Trần Tuấn A1, Trần Văn A2, Lê Quang S2, Thái Thành L4, Đinh Quang V1, Nguyễn Văn K, Ngô Công H5, Võ Thành L2, Nguyễn Quang H4, Lê Ngọc S1, Phạm Văn T5, Võ Văn T9, Nguyễn Ngọc N4, Nguyễn Kim P5, Trần Phương N7, Lê Chí C1, Nguyễn Thị Thu T8 và quyết định về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.

Ngày 05/8/2025, bị cáo Phan Nguyệt B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 11/8/2025, bị cáo Nguyễn Thị Nhật S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đối với bị cáo Phạm Văn T5 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng đến ngày 27/8/2025 có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo trước khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm nên Thẩm phán được phân công giải quyết hồ sơ đã ra Thông báo số 03/2025/TB-TA ngày 12 tháng 9 năm 2025 về việc rút đơn kháng cáo của bị cáo nên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Khánh Hòa có hiệu lực pháp luật về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn T5 nên không xem xét.

* Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa căn cứ các Điều 345; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B; sửa bản án sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 31/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tinh K theo hướng:

  • Không áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật tố tụng Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Nhật S.
  • Giảm hình phạt đối với các bị cáo: Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B, Huỳnh Văn T3, Tôn Thất P2.

* Các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo vì hiện nay các con của các bị cáo còn quá nhỏ không ai chăm sóc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

  • Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S và Phan Nguyệt B được thực hiện trong thời hạn luật định, nên được cấp phúc thẩm xem xét.
  • Các bị cáo Huỳnh Văn T3 và Tôn Thất P2 không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng việc xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Nhật S có liên quan đến các bị cáo Huỳnh Văn T3 và Tôn Thất P2. Căn cứ Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cả về hình phạt của các bị cáo Huỳnh Văn T3 và Tôn Thất P2.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Nhật S và Phan Nguyệt B:

[2.1].

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S và Phan Nguyệt B đã khai nhận hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ. Do đó, đủ cơ sở để kết luận: vào đêm ngày 30 tháng 10 năm 2022, Nguyễn Thị Nhật S là chủ cơ sở kinh doanh karaoke Galaxy tại thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, S chỉ đạo các nhân viên Huỳnh Văn T3 và Tôn Thất P2 chuẩn bị đĩa sứ, thẻ nhựa sim điện thoại để phục vụ khách có nhu cầu sử dụng ma túy tại cơ sở kinh doanh của mình. Thời điểm cơ quan Công an kiểm tra vào đêm ngày 30/10/2022, tại các phòng V, C, C, C, Chờ 6, C đều có khách tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Đối với bị cáo Phan Nguyệt B vào tối ngày 30/10/2022, sau khi được Nguyễn Lê Đắc N2 rủ sử dụng ma tuý, Phan Nguyệt B đã có hành vi rủ bị cáo Trần Thị Diễm H6 và Nguyễn Mai Quỳnh N3 (thời điểm sử dụng ma túy mới 17 tuổi 8 tháng 29 ngày) sử dụng trái phép chất ma túy. Phan Nguyệt B nhờ Trần Thị Diễm H6 mua ma tuý, đặt phòng để sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Chờ 3 karaoke Galaxy,

Hành vi đó của các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm rất lớn cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy; ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và sức khỏe con người. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn là có căn cứ.

Tuy nhiên, xem xét về áp dụng điểm, khung, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Hội đồng xét xử thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết định khung hình phạt theo điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là không chính xác vì bị cáo không rủ rê người chưa đủ tuổi thành niên tham gia thực hiện việc tổ chức trái phép chất ma túy nên cấp phúc thẩm cần áp dụng lại cho đúng quy định. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật để xét xử đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Nhật S có xuất trình giấy xác nhận của chính quyền địa phương có thời gian chăm sóc, thờ cúng bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị X; bị cáo Nguyễn Thị Nhật S đã ly hôn đang nuôi 02 con có đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét. Thời điểm xét xử sơ thẩm bị cáo Phan Nguyệt B đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 là có căn cứ.

[2.2].

Xét về mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng: Đối với bị cáo Nguyễn Thị Nhật S phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự với 01 tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nhật S 11 năm 06 tháng tù là quá nghiêm khắc. Đối với bị cáo Phan Nguyệt B tại phiên tòa phúc thẩm đã ăn năn hối cải về hành vi phạm do nhận thức pháp luật có phần hạn chế, phạm tội lần đầu; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hiện nay đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Do đó, cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực cải tạo để trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.

[2.3].

Trong vụ án còn có bị cáo Huỳnh Văn T3 và Tôn Thất P2 (không có kháng cáo) là những người làm công cho bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, không hưởng lợi từ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Huỳnh Văn T3 10 năm 06 tháng tù, bị cáo Tôn Thất P2 09 năm 06 tháng tù là quá khá nghiêm khắc, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và hoàn cảnh của các bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo Huỳnh Văn T3 và Tôn Thất P2 để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực cải tạo. Tuy nhiên, mức hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn T3 phải cao hơn mức hình phạt của bị cáo Tôn Thất P2.

[3].

Đối với số tiền mua ma tuý 3.900.000 đồng mà Phạm Văn T5 chuyển cho bị cáo Lê Chí C1. Đây là số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có, tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm không tuyên tịch thu sung quỹ là có thiếu sót nên cần rút kinh nghiệm.

[4]. Về án phí:

Các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343; Điều 345; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 và khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B
    1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:
    2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Nhật S.

      + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nhật S 08(tám) năm 06(sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2023 đến ngày 25 tháng 01 năm 2024 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

      Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Nguyệt B.

      + Xử phạt bị cáo Phan Nguyệt B 07(bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt đi thi hành án.

      Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh Văn T3.

      + Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T3 07(bảy) năm 06(sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2025 và được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2023 đến ngày 25 tháng 01 năm 2024 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

      Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tôn Thất P2.

      + Xử phạt bị cáo Tôn Thất P2 07(bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2025 và được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2023 đến ngày 26 tháng 10 năm 2023 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

  2. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 29 tháng 9 năm 2025).

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tò

Võ Văn Hải

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa (PC10);
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa (PV06);
  • - Phân trại tạm giam khu vực Vạn Ninh – Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND Khu vực 4 - Khánh Hòa;
  • - VKSND Khu vực 4 - Khánh Hòa;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa;
  • - Các bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2025/HS-PT ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 140/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào Điều 343; Điều 345; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 và khoản 3 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Nhật S, Phan Nguyệt B 1.1. Sửa một phần bản án sơ thẩm: - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Nhật S. + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nhật S 08(tám) năm 06(sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2023 đến ngày 25 tháng 01 năm 2024 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Nguyệt B. + Xử phạt bị cáo Phan Nguyệt B 07(bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt đi thi hành án. - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh Văn T3. + Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T3 07(bảy) năm 06(sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2025 và được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2023 đến ngày 25 tháng 01 năm 2024 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tôn Thất P2. + Xử phạt bị cáo Tôn Thất P2 07(bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 4 năm 2025 và được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 17 tháng 8 năm 2023 đến ngày 26 tháng 10 năm 2023 vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger