TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 140/2025/HSST
Ngày: 30 - 10 - 2025.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà: Lê Thị Phương Anh.
- Ông: Lê Mạnh Hùng.
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 – tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2025/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Nhật Đ, T gọi khác: Giới tính: N, Sinh năm 2004 tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); Nơi cư trú: khu phố T, phường T, tỉnh Lâm Đồng; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: sinh viên; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1968; Con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1978; Hiện trú khu phố T, phường T, tỉnh Lâm Đồng. Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không, nhân thân: không; Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.
*/Người bị hại:
Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: khu phố T, phường T, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ ngày 27/01/2025 đến ngày 16/02/2025, Nguyễn Văn Nhật Đ từ Thành phố Hồ Chí Minh về đón tết Nguyên Đán cùng gia đình tại nhà ở thuộc thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố T, phường T, tỉnh Lâm Đồng). Đ phát hiện bà Nguyễn Thị B (sinh năm 1978, là mẹ của Đ) có cất giấu tiền, vàng trong tủ gỗ, chìa khóa tủ được giấu trong thanh ngang giường ngủ để trong phòng ngủ của bà B. Do cần tiền tiêu xài và trả nợ nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà B.
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/02/2025, lợi dụng lúc trong phòng ngủ của bà B không có ai, Đ, lén lút lấy chìa khóa dưới thanh ngang giường, mở tủ gỗ lấy số tiền 40.000.000 đồng, 01 sổ tiết kiệm và số trang sức bằng vàng gồm: 02 sợi dây chuyền, 02 lắc tay, 02 chiếc nhẫn, 01 đôi bông tai. Lấy trộm tài sản xong, Đ ghi một tờ giấy có nội dung "EM XIN LỖI ANH CHỊ EM NỢ NẦN QUÁ" và mặt còn lại ghi chữ "KHI NÀO EM CÓ EM TRẢ LẠI 9/2" để lại trong tủ gỗ. Sau đó, Đ trả nợ và tiêu xài hết 15.000.000 đồng, còn lại 25.000.000 đồng, 01 sổ tiết kiệm và số trang sức bằng vàng Đông cất giấu trong cặp của Đ để trong phòng ngủ của bà B. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/02/2025, Đ đem theo số tài sản cất giấu trong cặp vào lại Thành phố Hồ Chí Minh để học tập rồi Đ vứt sổ tiết kiệm vào thùng rác trên đường đi. Ngày 17/02/2025, bà B phát hiện số tài sản trên bị mất, bà B gọi điện thoại hỏi Đ có lấy không nhưng Đ không thừa nhận đã lấy trộm tài sản.
Sáng ngày 17/02/2025, bà B đến Công an xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là Công an phường T, tỉnh Lâm Đồng) trình báo sự việc. Tối ngày 17/02/2025, Đ gọi điện cho bà B thừa nhận đã lấy trộm số tài sản trên. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18/02/2025, Đ đi từ Thành phố Hồ Chí Minh về nhà trả lại cho bà B số tiền 25.000.000 đồng còn lại và số trang sức bằng vàng đã lấy trộm. Ngày 25/02/2025, Đ tiếp tục trả lại số tiền 15.000.000 đồng cho bà B.
Quá trình điều tra, Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nêu trên. (bút lục 28, 97-100)
Vật chứng của vụ án: Thu giữ từ Nguyễn Thị B.
- 01 mảnh giấy, một mặt mảnh giấy có ghi dòng chữ "EM XIN LỖI ANH CHỊ EM NỢ NẦN QUÁ" và mặt còn lại ghi chữ "KHI NÀO EM CÓ EM TRẢ LẠI 9/2".
- 50 tờ tiền chất liệu polyme màu xanh, mệnh giá 500.000 đồng.
- 01 sợi dây chuyền nam, bằng kim loại màu vàng, dây trơn dạng mắt xích nối liền nhau.
- 01 sợi dây chuyền hoa mai nữ bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền có 07 bông hoa, dây dạng mắt xích nối liền nhau.
- 01 chiếc lắc tay hoa mai, bằng kim loại màu vàng, mặt dây lắc có 03 hình bông hoa, phần dây đeo dạng mắt xích nối liền nhau.
- 01 chiếc nhẫn nữ, bằng kim loại màu vàng, có hình sọc lưới hình mặt nhẫn.
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có 04 bông hoa màu trắng, 04 bông hoa màu xanh phần mặt nhẫn.
- 01 chiếc lắc tay, bằng kim loại màu vàng, mặt dây lắc có 03 hình bông hoa, phần dây đeo dạng mắc xích nối liền nhau.
- 01 đôi bông tai, bằng kim loại màu vàng, mắc xích dạng khối hình vuông và khối hình tam giác nối liền nhau.
Đông và bà B khai số tiền và số trang sức trên do Đ lấy trộm sau đó trả lại cho bà B, bà B giao nộp để phục vụ cho việc điều tra vụ án.
Tại Giấy kết quả thử nghiệm số 27022025/09-PNJL-TNV của công ty TNHH MTV G, Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐ ĐGTS ngày 04/4/2025 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự thành phố P và Phiếu kiểm định số G111546 ngày 22/8/2025 của Công ty cổ phần G1 vàng – SJC thể hiện:
- 01 sợi dây chuyền nam bằng kim loại màu vàng, dây trơn dạng mắt xích nối liền nhau, khối lượng 18,714 gram, hàm lượng 98,04% Au, tương ứng với trọng lượng là 4,99 chỉ và là loại vàng 24K, trị giá 43.013.800 đồng.
- 01 sợi dây chuyền hoa mai nữ bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền có 07 hình bông hoa, dây dạng mắt xích nối liền nhau, khối lượng 11,235 gram, hàm lượng 97,97% Au, tương ứng với trọng lượng là 2,996 chỉ và loại vàng 24K, trị giá 25.825.520 đồng.
- 01 chiếc lắc tay hoa mai bằng kim loại màu vàng, mặt lắc có 03 hình bông hoa, phần dây đeo dạng mắt xích nối với nhau, khối lượng 11,248 gam, hàm lượng 98,11%, tương ứng với trọng lượng là 2,996 chỉ và lo ại vàng 24K, trị giá 25.851.380 đồng.
- 01 chiếc nhẫn nữ bằng kim loại màu vàng; gắn nhiều viên đá giả (đá nhân tạo màu trắng, dạng tròn, kích thước rất nhỏ, có hình sọc lưới, không có giá trị), khối lượng 4,372 gram, hàm lượng 60,84% Au, tương ứng với trọng lượng là 1,165 chỉ và loại vàng 16K, trị giá 6.081.300 đồng.
- 01 chiếc nhẫn nữ bằng kim loại màu vàng; gắn 04 bông hoa màu trắng, 04 bông hoa màu xanh bằng đá giả (đá nhân tạo, kích thước nhỏ, không có giá trị), khối lượng 5,620 gram, hàm lượng 61,28% Au, tương ứng với trọng lượng là 1,498 chỉ và loại vàng 16K, trị giá 7.819.560 đồng.
- 01 chiếc lắc tay bằng kim loại màu vàng, mặt dây lắc có 03 hình bông hoa, phần dây đeo dạng mắt xích nối liền nhau, khối lượng 21,982 gram, hàm lượng 61,18% Au, tương ứng với trọng lượng là 5,861 chỉ và là loại vàng 16K, trị giá 30.594.420 đồng.
- 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng; gắn nhiều viên đá giả (đá nhân tạo màu trắng, dạng tròn, hạt dưa và baguette mắt xích dạng khối hình vuông và khối hình tam giác nối liền nhau không có giá trị), khối lượng 3,382 gram, hàm lượng 61,63% Au, tương ứng với trọng lượng là 0,901 chỉ và loại vàng 16K, trị giá 4.703.220 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 143.889.200 đồng.
Về xử lý vật chứng và dân sự:
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L đã trả lại 50 tờ tiền polyme màu xanh, mệnh giá 500.000 đồng và 02 sợi dây chuyền, 02 lắc tay, 02 chiếc nhẫn, 01 đôi bông tai bằng vàng cho bà Nguyễn Thị B. Bà B đã nhận tài sản, không yêu cầu gì thêm về dân sự. Đối với sổ tiết kiệm bị mất, bà B khai đã đi làm thủ tục cấp lại sổ tiết kiệm, số tiền trong tài khoản tiết kiệm không bị thiệt hại.
01 mảnh giấy, một mặt mảnh giấy có ghi dòng chữ "EM XIN LỖI ANH CHỊ EM NỢ NẦN QUÁ" và mặt còn lại ghi chữ "KHI NÀO EM CÓ EM TRẢ LẠI 9/2", lưu hồ sơ phục vụ xét xử.
Tại bản cáo trạng số 75/CT – VKSPT - HS ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng đã truy tố Nguyễn Văn Nhật Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đ 18 tháng đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 đến 48 tháng.
Biện pháp tư pháp:
Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/02/2025 tại nhà của bà Nguyễn Thị B thuộc khu phố T, phường T, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Nguyễn Văn Nhật Đ lấy trộm số tiền 40.000.000 đồng và số trang sức bằng vàng gồm 02 sợi dây chuyền, 02 lắc tay, 02 chiếc nhẫn, 01 đôi bông tai, trị giá trang sức vàng là 143.889.200 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt của bà B là 183.889.200 đồng.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Do đó, Bản cáo trạng số 75/CT-VKSPT - HS ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Nhật Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy, bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của người khác, thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được tiếp tục đi học, bị hại xác định có phần lỗi của bị hại trong việc quản lý tài sản (để chìa khoá dưới thanh ngay giường ngủ cho bị cáo biết) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi phạm tội là sai trái vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, hành vi phạm tội của bị cáo là nhất thời, hiện nay bị cáo là sinh viên năm 4 - trường Đại học Nông Lâm thành phố H, xin cơ hội học tập trở thành công dân tốt. Tại địa phương có thành tích trong công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2024, nên Hội đồng xét xử khoan hồng thể hiện tính nhân đạo không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đ hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và giao bị cáo Đ về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp và đúng theo quy định của pháp luật.
[5] Biện pháp tư pháp:
Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sỡ hữu là đúng theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
*Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự.
*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Nhật Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
*Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Nhật Đ 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tù tính từ ngày tuyên án (30/10/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Văn Nhật Đ cho UBND phường T, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 01 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
*Về án phí: áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết. Bị cáo Nguyễn Văn Nhật Đ phải nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo, bị hại là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/10/2025).
Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Văn Nhật Đ.
Nơi nhận
- - VKSND khu vực 10 – Lâm Đồng;
- - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- - TAND tỉnh Lâm Đồng;
- - Cơ quan thi hành án hình sự;
- - Người tham gia tố tụng;
- - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
- - Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng;
- - Lưu hồ sơ.
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Vũ Thị Thu Hà
Bản án số 140/2025/HSST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 140/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO NGUYỄN VĂN NHẬT Đ PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
