Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - TP HÀ NỘI

*******

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 140/2025/HS-ST

Ngày: 13-11-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TP HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tưởng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

+ Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký TAND Khu vực 6, Tp Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Tp Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở TAND Khu vực 6, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T - sinh năm 1998; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: Thôn G, N, xã N, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở: Số B P, phường H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Văn Q và bà Đoàn Thị L; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt.

* Bị hại: + Anh Nguyễn Phúc T1, sinh năm 1982; Nơi ở: số G D Y, phường Y, TP Hà Nội. Vắng mặt.

+ Anh Hoàng Xuân K, sinh năm 1979; Trú tại: A, tổ A Đ, phường K, TP Hà Nội. Vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thanh T2, sinh năm 2007; Trú tại: Thôn T, xã T, TP Hà Nội. Vắng mặt.

+ Chị Hoàng Thị Hải Y, sinh năm 1986; trú tại: P Chung cư T, phường H, TP Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/01/2025, Hoàng Văn T có ký hợp đồng thuê nhà với bà Đặng Thị T3 (Sinh năm 1959, trú tại số B P, phường H, thành phố Hà Nội) để ở.

Để có tiền tiêu xài, trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 8/2025, T đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường H. Cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 5/2025, T đi xe máy hiệu Honda Wave @ (không nhớ biển số) đến trước cửa hàng C tại L thuộc phường H, thành phố Hà Nội. Tại đây, T quan sát thấy chiếc xe máy hiệu SYM, biển kiểm soát 29BE-085.50 của cháu Nguyễn Phúc L1 không khóa cổ, khóa càng, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa và không có người trông giữ. T dựng xe máy của mình ở gần khu vực cửa hàng rồi đi bộ đến dắt chiếc xe máy của cháu L1 ra ngoài, nổ máy đi về nhà trọ cất giấu. Sau đó, T đi xe Grap quay lại khu vực cửa hàng trên lấy xe máy của mình đi về phòng trọ. Sau khi trộm được chiếc xe máy SYM, biển kiểm soát 29BE-085.50 Toại đã bán chiếc xe máy Honda Wave @ cho một người không quen biết qua mạng internet.

- Lần thứ hai: Khoảng 08 giờ 30 ngày 08/7/2025, T đi xe máy nhãn hiệu SYM biển kiểm soát 29BE-085.50 trộm cắp trước đó từ nhà trọ đến khu vực đường N, phường H. Khi đến trước cửa hàng C địa chỉ số B N, T quan sát thấy chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Xman của chị Nguyễn Thanh T2 không khóa cổ, không khóa càng, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa và không có người trông giữ. Toại đi xe máy SYM biển kiểm soát 29BE-085.50 đến để ở sau chung cư CT2 Ngô Thì N rồi đi bộ ra cửa hàng lấy chiếc xe đạp điện của chị T2 đi về nhà trọ cất giấu. Sau đó, T đi xe G quay lại khu chung cư CT2 Ngô Thì N lấy xe máy của mình đi về phòng trọ.

- Lần thứ ba: Khoảng 14 giờ ngày 13/8/2025, T đi xe máy SYM, biển kiểm soát 29BE-085.50 từ nơi trọ đến khu vực đường N, phường H. Khi tới trước cửa hàng C ở số B N, T phát hiện chiếc xe đạp nhãn hiệu Galaxy của cháu Lê Vân A đang dựng trước cửa hàng, không khóa cổ, khóa càng và không có người trông giữ. T đi xe máy SYM đến sau tòa chung cư CT2 Ngô Thì N cất giữ và đi bộ quay trở lại cửa hàng lấy chiếc xe đạp của cháu Vân A đi về phòng trọ cất giấu. Sau đó, T đi xe Grap quay lại khu Chung cư CT2 Ngô Thì N lấy xe máy của mình đi về phòng trọ.

- Lần thứ tư: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/8/2025, T đi xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 29BE-085.50 từ nhà trọ đến khu vực ngã 5 H, phường H, thành phố Hà Nội. Khi đến cửa hàng C địa chỉ ngã 5 H, phường H, T quan sát thấy chiếc xe đạp nhãn hiệu Giant của cháu Hoàng Quang V không khóa cổ, không khóa càng và không có người trông giữ. T đi xe máy SYM đến cất giấu tại vỉa hè trước Chung cư H, rồi đi bộ đến cửa hàng lấy chiếc xe đạp của cháu V đi về phòng trọ cất giấu. Sau đó, T đi xe Grap quay lại khu chung cư H lấy xe máy của mình đi về phòng trọ.

Chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Xman của chị Nguyễn Thanh T2 và chiếc xe đạp nhãn hiệu Galaxy của cháu Lê Vân A, sau khi trộm cắp Hoàng Văn T đã bán cho người không quen biết được tổng số tiền 3.000.000 đồng.

Ngày 30/8/2025, các anh Nguyễn Phúc T1, Hoàng Xuân K, chị Nguyễn Thanh T2 và chị Hoàng Thị Hải Y đã có đơn trình báo sự việc gửi Công an phường H. Cùng ngày, Hoàng Văn T đã đầu thú tại Công an phường H và khai nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Hoàng Văn T vật chứng và tài sản liên quan, gồm: 01 xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 29BE-085.50, màu sơn đen số máy VMVW1CVD003385, số khung RLGDA05BMRD 003385; 01 xe đạp nhãn hiệu Giant - AT 620 màu đen.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1227/KL-HĐĐGTS ngày 05/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 29BE-085, đăng ký lần đầu ngày 27/9/2024, tại thời điểm tháng 5/2025) trị giá: 10.000.000 đồng; 01 xe đạp nhãn hiệu Giant màu đen mua tháng 01/2024, tại thời điểm ngày 30/8/2025) trị giá: 4.000.000 đồng; 01 xe đạp điện nhãn hiệu Xman mua tháng 2/2023, tại thời điểm ngày 08/7/2025) trị giá: 2.000.000 đồng; 01 xe đạp nhãn hiệu Galaxy mua tháng 12/2024, tại thời điểm ngày 13/8/2025) trị giá 2.000.000 đồng”.

Ngày 09/9/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy SYM màu sơn đen, biển kiểm soát 29BE-085.50 cho anh Nguyễn Phúc T1 (Bố đẻ cháu Nguyễn Phúc L1); trả lại chiếc xe đạp nhãn hiệu Giant cho anh Hoàng Xuân K (Bố đẻ cháu Hoàng Quang V).

Chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Xman của chị Nguyễn Thanh T2 và xe đạp nhãn hiệu Galaxy của cháu Lê Vân A, Cơ quan điều tra đã xác minh, truy tìm nhưng không thu được.

Trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, anh Nguyễn Phúc T1, anh Hoàng Xuân K đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu bồi thường dân sự; chị Hoàng Thị Hải Y (Mẹ đẻ cháu Lê Vân A) và chị Nguyễn Thanh T2 đã được gia đình bị can Hoàng Văn T bồi thường số tiền 4.000.000 đồng (Mỗi chị 2.000.000 đồng), chị Y và chị T2 đã nhận tiền, không có yêu cầu bồi thường dân sự và đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 29/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Hà Nội đã truy tố Hoàng Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, TP Hà Nội sau khi phân tích, giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 328 của BLTTHS. Đề nghị xử phạt Hoàng Văn T từ 15-18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 - 36 tháng. Trả tự do ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại không yêu cầu không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an T, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, Truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà bị cáo Hoàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 quy kết. Bị cáo thừa nhận: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 5/2025 đến ngày 30/8/2025, lợi dụng sơ hở của những người bị hại, bị cáo đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản gồm: Khoảng tháng 5/2025 bị cáo trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 29BE-085.50 của cháu Nguyễn Phúc L1; Ngày 08/7/2025 bị cáo lấy trộm 01 xe đạp điện nhãn hiệu Xman của chị Nguyễn Thanh T2; Ngày 13/8/2025 bị cáo lấy 01 xe đạp nhãn hiệu Galaxy của cháu Lê Vân A và ngày 30/8/2025 bị cáo trộm cắp 01 xe đạp nhãn hiệu Giant của cháu Hoàng Quang V. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 18.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn T đã phạm tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Hà Nội truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, do đó cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là trong một thời gian ngắn bị cáo đã 04 lần trộm cắp tài sản, giá trị tài sản mỗi lần bị cáo trộm cắp đều từ 2.000.000 đồng nên bị cáo đã phạm tội nhiều lần đó là tình tiết quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra cơ quan Công an đầu thú, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra đã thu hồi được tài sản trả cho người bị hại, bị cáo cũng đã khắc phục bồi thường cho những người bị hại, mặt khác những người bị hại cũng có đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đó là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên HĐXX có thể xem xét cho cho bị cáo được hưởng mức hình phạt tù có điều kiện cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa những người bị hại vắng mặt và tại cơ quan điều tra các bị hại cũng đã nhận lại được tài sản và đã được bồi thường nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, xét thấy yêu cầu trên của những người bị hại là hoàn toàn tự nguyện do đó Hội đồng xét xử chấp nhận. Mặt khác những người bị hại cũng có đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Hoàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trả tự do ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Hoàng Văn T cho UBND xã N, tỉnh Ninh Bình và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngay tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - TA TP Hà Nội
  • - VKS Khu vực 6;
  • - Phòng THA khu vực 6;
  • - Công an TP Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hs

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Tưởng Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 140/2025/HS-ST ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TP HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 140/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Toại - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger