|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 14/2025/HSST Ngày 30/9/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nhan Ngọc Đăng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Cúc và ông Nguyễn Hữu Luật.
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Văn Linh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST - HS ngày 04 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 9 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 01/TB - TA ngày 23 tháng 9 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Phan Thế Q, sinh ngày 27/12/1990, tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn L, xã T (trước đây là xã N, huyện Q), tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; con ông Phan Bích H (đã chết) và bà Chu Thị L, sinh năm 1948; có vợ: Chị Lê Thị Phương T, sinh năm 1990 và có 02 con: Lớn sinh năm 2012; nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2025 đến ngày 23/01/2025 thì thay thế biện pháp ngăn chặn: “cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại có mặt.
- Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 12/4/1972, tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn L, xã C (trước đây là xã H, huyện V), tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1948 và bà Lê Thị A, sinh năm 1949; có vợ: Bà Trần Thị R, sinh năm 1979 và có 04 con: Lớn nhất sinh năm 1999; nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2025 đến ngày 13/01/2025 thì thay thế biện pháp ngăn chặn: “cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Trần Thị R, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn L, xã C (trước đây là xã H, huyện V), tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Lê Anh T1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn M, xã M, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Trần Đức N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình chạy xe tải chở hàng tuyến B - N, Phan Thế Q biết một số người chạy xe mua pháo hoa nổ từ tỉnh Quảng Trị đưa ra tỉnh Nghệ An bán lại cho người khác nên nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ về bán lại kiếm lời dịp Tết Nguyên đán nên Q đã hỏi một số người lái xe (không biết tên tuổi, địa chỉ) gặp tại quán cơm về số điện thoại của Nguyễn Mạnh H1.
Trưa ngày 03/01/2025, Q sử dụng thẻ sim số thuê bao 0589.512.906 gắn trong điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max của mình gọi điện tới số thuê bao 0941.393.729 của H1 hỏi mua pháo hoa nổ thì H1 đồng ý bán. Sau đó, Q điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 29H-822.63 của Công ty trách nhiệm hữu hạn () A S (gọi tắt là Công ty A1, địa chỉ tại thành phố Hà Nội) chở hàng chuyển phát nhanh lưu thông trên Quốc lộ A, theo hướng từ thành phố Hồ Chí Minh đi thành phố Hà Nội, đi cùng trên xe có các anh Trần Đức N và anh Lê Anh T1.
Khoảng 16 giờ 46 phút cùng ngày, H1 sử dụng số điện thoại trên nhắn tin cho Q với nội dung: "10to13nho", "16,640k" (ý H1 bán 10 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống, 13 hộp loại 36 ống với giá 16.640.000 đồng), Q nhắn lại: "OK" (tức là đồng ý mua), rồi cả hai gọi qua lại nói chuyện với nhau, hẹn trưa ngày 04/01/2025 giao hàng tại huyện V (nay là xã V), tỉnh Quảng Trị. Do không có tiền trong tài khoản nên tối cùng ngày Q nói dối cần tiền mua hàng rồi hỏi vay tiền anh T1 để chuyển khoản thì anh T1 đồng ý, sử dụng tài khoản 0101001134989 của mình mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP ) chuyển 16.640.000 đồng đến tài khoản số 0941393729 tại Ngân hàng TMCP Q của H1.
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 04/01/2025 khi xe đến thành phố H, Q sử dụng điện thoại số thuê bao 0965.926.xxx của mình gọi đến số 0345.310.257 của người phụ nữ tên H3 (lưu trong danh bạ "Chị St Bảo T2", Q đã từng chở hàng cho người này) hỏi mua thêm pháo hoa nổ. Q trao đổi với chị H3 rồi thống nhất mua 29 hộp pháo hoa nổ loại 36 ống, 05 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống với giá 18.000.000 đồng. Chị H3 yêu cầu chuyển tiền trước nên Q điện thoại cho chị Lê Thị Phương T (sinh năm 1990, trú tại tỉnh Nghệ An, vợ Q) chuyển 23.000.000 đồng từ số tài khoản 5130497822 tại Ngân hàng TMCP N đến số tài khoản 5130339687 tại Ngân hàng TMCP Đ của anh T1. Q tiếp tục nhờ anh T1 chuyển 18.000.000 đồng đến số tài khoản 0973415552 tại Ngân hàng TMCP Q, chủ tài khoản Trịnh Thị Mỹ D số tiền 18.000.000 đồng.
Khoảng 11 giờ cùng ngày, anh N đang điều khiển xe ô tô BKS 29H - 822.63 đến vị trí quán cắt tóc "P" (bên trái Quốc lộ A, hướng Nam - Bắc tại thị xã Q), Q nói N dừng xe để xuống lấy bao hàng. Q thấy 03 thùng giấy catong (bên trong đựng 34 hộp pháo hoa nố) để sẵn phía trước bên lề đường sát bên trái quán cắt tóc "P" thì bưng bỏ vào cốp gầm bên phụ rồi nói anh N điều khiển xe đi tiếp. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi Q đến N, H1 điện thoại hẹn giao pháo tại cây xăng bỏ hoang thuộc xã T, huyện G (nay là xã B, tỉnh Quảng Trị).
Sau đó, H1 lấy 23 hộp pháo hoa nổ mua từ tháng 9/2024 cất giấu trong nhà ở tại thôn L, xã C, tỉnh Quảng Trị bỏ vào 02 thùng giấy, bên ngoài được bọc bằng 02 bao gai, trong đó: 01 bao gai chứa 10 hộp pháo hoa nổ (05 hộp loại 36 ống, 05 hộp loại 49 ống) để phía trước gác để chân của xe máy và 01 bao gai chứa 13 hộp (08 hộp loại 36 ống, 05 hộp loại 49 ống) cho lên phía sau yên xe máy rồi điều khiển xe mô tô BKS 74L1-366.85 của mình đến C tại Quốc lộ A (thuộc thôn A, xã B) để chờ Q. Khoảng 12 giờ 10 phút, xe ô tô BKS 29H-822.63 đi đến, Q xuống xe cùng H1 đem bao gai đựng 10 hộp pháo lên cốp gầm giữa bên phải xe ô tô rồi tiếp tục lấy bao gai còn lại đang để trên yên xe máy thì bị Tổ công tác Công an huyện G kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tang vật.
Kết luận giám định số: 173/KL-KTHS ngày 13/01/2025, Phòng K, Công an tỉnh Q2, kết luận:
"Mẫu vật được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu QT1 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 15,7kg.
Mẫu vật được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu QT2 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 16,25kg.
Mẫu vật được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu QT3 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 16,4kg.
Mẫu vật được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu QT4 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 16kg.
Mẫu vật được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu QT5 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 20,4kg.
Tổng khối lượng mẫu vật trong các thùng giấy ký hiệu QT1, QT2, QT3, QT4, QT5 gửi đến giám định là 84,75kg. Trong đó, tổng khối lượng pháo thu được của Nguyễn Mạnh H1 là 36,1kg; Phan Thế Q là 84,75kg".
Tại Bản kết luận giám định số 248/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q2, kết luận: "Trên bề mặt các Hộp pháo hoa nổ được niêm phong trong thùng giấy QT1, QT2, QT3, QT4, QT5 gửi đến giám định có dấu vết đường vân, nhưng đường vân bị mờ nhòe, không đủ cơ sở giám định so sánh truy nguyên".
Tại Bản kết luận giám định số 225/KL-KTHS ngày 23/01/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q2, kết luận: "Trên bề mặt các túi ni lông màu đen (được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu QT6), gửi đến giám định phát hiện có 01 dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định".
Tại Bản kết luận giám định số: 952/KL- KTHS ngày 26/5/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q2, kết luận: "Dấu vết đường vân phát hiện được tại Kết luận giám định số 225/KL-KTHS ngày 23/01/2025 cảu Phòng K Công an tỉnh Q2 với dấu đường vân in ở ô cái phải trên Chỉ bản ghi tên: Nguyễn Mạnh H1 sinh ngày 12/4/1972, nơi thường trú: Liêm Công P1, Hiền T3, V, Quảng Trị là dấu đường vân của cùng một người".
Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKSVL ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Quảng Trị, đã truy tố bị cáo Phan Thế Q, về tội: “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Mạnh H1 về tội: “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự; các điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thế Q từ 1.000.000.000 đồng đến 1.100.000.000 đồng.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/9/2025).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (một) thùng giấy niêm phong ký hiệu QT6-SGĐ bên trong có chứa pháo hoa nổ còn lại sau giám định (Kèm theo Kết luận Giám định số 225/23.01.2025 của Phòng K Công an tỉnh Q2); 01 (một) bao gai màu đà, kích thước (103x67) cm, đã qua sử dụng; 01(một) bao gai màu trắng, kích thước (103x63)cm, loại bao đựng thức ăn cho heo, mặt ngoài có chữ màu đỏ “Sản phẩm của Công ty cổ phần C1. Việt Nam” và ký hiệu “552SF” màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) sợi dây cao su màu đen, bên ngoài bọc sợi vải màu xanh, có chiều dài 201cm, bản rộng 2,5cm, ở hai đầu có gắn móc bằng kim loại; 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu trắng, có chữ “AQUAFINA” màu xanh, bọc ngoài bao nilong màu xanh, đã qua sử dụng (thùng giấy ký hiệu 2); 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu xám, có chữ “AQUAFINA” màu xanh, bọc ngoài bao nilong màu xanh, đã qua sử dụng (thùng giấy ký hiệu 3); 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu xám, có chữ “NESCAFE” màu trắng, đã qua sử dụng (thùng giấy ký hiệu 4); 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu xám, có chữ “Custard” màu vàng, đã dụng (thùng giấy ký hiệu 1), đã qua sử dụng; 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu vàng - xanh, có chữ “MÍT SẤY màu trắng, đã qua sử dụng (thùng giấy ký hiệu 5);
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- Tiền Ngân hàng N1 là 16.640.000đ (mười sáu triệu, sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) đã được nộp vào tài khoản của Phòng cảnh sát ĐTTP về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường mở tại Ngân hàng TMCP C (V) chi nhánh Q3 (Kèm ủy nhiệm chi số 05/08/9/2025 và lệnh chuyển có ngày 11/9/2025).
- 01 (một) máy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, võ màu đen, kiểu máy CPH2577, số sẽ ri: 49CIEEPFAME6UK9H; số IMEL 1: 865039065219117, số IMEL 2: 865039065219109 bên trong có gắn sim điện thoại số thuê bao 0941.393.xxx có dãy số 89840 20001 06531 80596 và sim điện thoại số thuê bao 0328.633.xxx có dãy số 89840 48000 33642 5734, đã qua sử dụng;
- 01(một) máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, võ màu đen, số máy MU2R3CH/A, số Sê-ri D907XK2D19 bên trong có gắn sim điện thoại số thuê bao 0965.926.xxx có dãy số 8984048000926488902 và sim điện thoại số thuê bao 0589.512.xxx có 2 dãy số 8984050924 và 1463262633, đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, màu sơn đỏ, dung tích 124,8cm, loại xe hai bánh từ 50-175cm số máy: JK12E0323776, số khung: RLHJK1217PZ017099, mang biển kiểm soát 74L1 - 366.85.
- + Tịch thu, tiêu hủy:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra tỉnh Quảng Trị, Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Quảng Trị), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2]. Về tội danh: Khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 04/01/2025, bị cáo Phan Thế Q1 đã có hành vi mua 48,65 kg pháo hoa nổ của một người không quen biết ở thị xã Q (nay là phường Q) và đến 12 giờ 10 phút cùng ngày, tại thôn A, xã B, bị cáo Q mua của bị cáo Nguyễn Mạnh H1 36,1 kg pháo hoa nổ nhằm mục đích mua bán, tổng số pháo hoa nổ mà bị cáo Phan Thế Q1 mua nhằm mục đích bán kiếm lời là 84,75kg.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Thế Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Buôn bán hàng cấm" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[3.1]. Đối với bị cáo Phan Thế Q:
Khoảng 10 giờ ngày 04/01/2025, bị cáo liên hệ với một người không xác định mua 48,65 kg pháo hoa nổ với số tiền 18.000.000 đồng, bị cáo đã nhận số pháo hoa nổ trên tại thị xã Q (nay là phường Q) đồng thời đã thanh toán số tiền 18.000.000 đồng và vận chuyển đến thôn A, xã B. Trước đó, bị cáo liên hệ với bị cáo H1 mua 36,1 kg pháo hoa nổ, khi nhận hàng tại thôn A, xã B thì bị bắt giữ phạm tội quả tang cùng với toàn bộ tang vật. Như vậy, bị cáo Q đã 02 lần mua pháo hoa nổ để nhằm mục đích bán. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tại thời điểm bị bắt phạm tội quả tang, bị cáo Q đã khai nhận hành vi mua bán hàng cấm của mình tại thị xã Q cũng như của bị cáo H1, đồng thời cung cấp thông tin người bán, người nhận chuyển tiền. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh người bán nhưng không xác định được, đồng thời ra thông báo truy tìm người nhận tiền để giải quyết theo quy định của pháp luật. Như vậy, bị cáo Q đã chủ động, tích cực giúp cơ quan điều tra trong việc chứng minh ý thức chủ quan mua bán hàng cấm của bị cáo dẫn tới việc giải quyết vụ án được thực hiện nhanh hơn. Đồng thời cung cấp thông tin, tài liệu để cơ quan cảnh sát điều tra xác minh các đối tượng có liên quan, việc không chứng minh được đồng phạm là do yếu tố khách quan. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bố mẹ của bị cáo là người có công với nhà nước, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.2]. Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H1: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bố mẹ của bị cáo là người có công với nhà nước, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thế Q rất nghiêm trọng, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tuy nhiên bị cáo có thu nhập ổn định (25.000.000 đồng/tháng) nên cần áp dụng Điều 35 BLHS áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H1 có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo cải tạo tại địa phương và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4]. Về xử lý tài liệu, đồ vật, vật chứng:
- Đối với số pháo hoa nổ còn lại sau giám định, là đồ vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 bao gai màu đà, kích thước (103x67)cm; 01 bao gai màu trắng, kích thước (103x63)cm; 01 sợi dây cao su màu đen, 02 bao nilong màu đen; 01 thùng giấy có chữ "Custard"; 01 thùng giấy in chữ "Mít sấy" của bị cáo H1; 02 thùng giấy mặt ngoài có chữ "AQUAFINA", 01 thùng giấy có chữ "NESCAFE", 03 bao nilong màu đen của bị cáo Q, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 mô tô BKS 74L1-366.85 kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên bị cáo H1 là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO A58 bên trong gắn 02 thẻ sim điện thoại số thuê bao 0941.393.xxx của mang tên bị cáo H1; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max bên trong có gắn 02 thẻ sim số thuê bao 0965.926.228, 0589.512.906 của bị cáo Q và tiền ngân hàng N1: 16.640.000 đồng bị cáo H1 nộp lại, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Đối với các thẻ sim điện thoại kèm theo các điện thoại hiện không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe ô tô BKS 29H-822.63 kèm Giấy biên nhận thế chấp, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện cơ giới đường bộ của Công ty A1; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu XIAOMI, vỡ màu hồng, tên thiết bị Mill LiteSG, số IMEI 1: 867139050664786, số IMEI 2: 867139050664794; bên trong gắn sim Viettel số 0375.466.xxx và sim Vinaphone số 0812.654.xxx của anh Lê Anh T1, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không xem xét.
[5]. Về các hành vi liên quan đến vụ án:
- Đối với người đã bán pháo cho H1, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý trong một vụ án khác.
- Đối với bà Trần Thị R (vợ của bị cáo H1), quá trình sinh sống bà đi làm ăn xa, không có mặt ở nhà nên không biết H1 mua pháo về cất giấu và dùng xe mô tô BKS 74L1-366.85 chở pháo đi bán; anh Lê Anh T1, chị Lê Thị Phương T cho Q mượn tiền và nhờ chuyển khoản nhưng T1, T không biết Q dùng vào việc mua bán pháo; anh Trần Đức N, Lê Anh T1, quá trình đi chung xe cùng nhau, N, T1 không biết Q liên lạc đề mua pháo hoa nổ và quá trình mua bán pháo hoa nổ thì Q không có bàn bạc, trao đổi gì với N, T1 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
- Đối với người phụ nữ tên H3 sử dụng số điện thoại 0345.310.xxx mà Q lưu trong danh bạ "Chị St Bảo T2": Cơ quan CSĐT đã tiến hành điều tra nhưng Cơ quan điều tra không xác định được người phụ nữa tên "H3", khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
- Đối với tài khoản ngân hàng số 0973415552, chủ tài khoản mang tên Trịnh Thị Mỹ D có nhận từ Lê Anh T1 số tiền là 18.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT đã tiến hành mời D đến làm việc nhưng Trịnh Thị Mỹ D không có mặt ở địa phương, hiện không rõ sinh sống, tạm trú tại đâu, không có phương thức để liên lạc nên không làm việc được. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q2 đã ban hành Quyết định truy tìm đối với Trịnh Thị Mỹ D để làm việc và khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Về biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phan Thế Q để đảm bảo cho việc thi hành án. Bị cáo Nguyễn Mạnh H1 bị xử phạt hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo nên không cần thiết phải tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn. Vì vậy, hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 06/2025/HSST - LCĐKNCT ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Quảng Trị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thế Q, bị cáo Nguyễn Mạnh H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự; các điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thế Q 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/9/2025).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- [3.1]. Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (một) thùng giấy niêm phong ký hiệu QT6-SGĐ bên trong có chứa pháo hoa nổ còn lại sau giám định (Kèm theo Kết luận Giám định số 225/23.01.2025 của Phòng K Công an tỉnh Q2).
- 01 (một) bao gai màu đà, kích thước (103x67) cm, đã qua sử dụng; 01(một) bao gai màu trắng, kích thước (103x63)cm, loại bao đựng thức ăn cho heo, mặt ngoài có chữ màu đỏ “Sản phẩm của Công ty cổ phần C1. Việt Nam” và ký hiệu “552SF” màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) sợi dây cao su màu đen, bên ngoài bọc sợi vải màu xanh, có chiều dài 201cm, bản rộng 2,5cm, ở hai đầu có gắn móc bằng kim loại.
- 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu trắng, có chữ “AQUAFINA” màu xanh, bọc ngoài bao nilong màu xanh, đã qua sử dụng (thùng giấy ký hiệu 2).
- 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu xám, có chữ “AQUAFINA” màu xanh, bọc ngoài bao nilong màu xanh, đã qua sử dụng (thùng giấy ký hiệu 3).
- 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu xám, có chữ “NESCAFE” màu trắng, đã qua sử dụng (thùng giấy ký hiệu 4).
- 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu xám, có chữ “Custard” màu vàng, đã dụng (thùng giấy ký hiệu 1), đã qua sử dụng.
- 01 (một) thùng giấy mặt ngoài màu vàng - xanh, có chữ “MÍT SẤY màu trắng, đã qua sử dụng (thùng giấy ký hiệu 5);
- 01 sim điện thoại số thuê bao 0941.393.xxx có dãy số 89840 20001 06531 80596 và sim điện thoại số thuê bao 0328.633.xxx có dãy số 89840 48000 33642 5734, đã qua sử dụng (không bao gồm số thuê bao).
- 01 sim điện thoại số thuê bao 0965.926.xxx có dãy số 8984048000926488902 và sim điện thoại số thuê bao 0589.512.xxx có 2 dãy số 8984050924 và 1463262633 (không bao gồm số thuê bao).
- [3.2]. Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- Tiền Ngân hàng N1 là 16.640.000đ (mười sáu triệu, sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) đã được nộp vào tài khoản của Phòng cảnh sát ĐTTP về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường mở tại Ngân hàng TMCP C (V) chi nhánh Q3 (Kèm ủy nhiệm chi số 05/08/9/2025 và lệnh chuyển có ngày 11/9/2025).
- 01 (một) máy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, võ màu đen, kiểu máy CPH2577, số sẽ ri: 49CIEEPFAME6UK9H; số IMEL 1: 865039065219117, số IMEL 2: 865039065219109, đã qua sử dụng.
- 01(một) máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, võ màu đen, số máy MU2R3CH/A, số Sê-ri D907XK2D19 bên trong có gắn sim điện thoại số thuê bao 0965.926.xxx có dãy số 8984048000926488902 và sim điện thoại số thuê bao 0589.512.xxx có 2 dãy số 8984050924 và 1463262633, đã qua sử dụng;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD, màu sơn đỏ, dung tích 124,8cm, loại xe hai bánh từ 50-175cm số máy: JK12E0323776, số khung: RLHJK1217PZ017099, mang biển kiểm soát 74L1 - 366.85, xe đã qua sử dụng sau khi thi hành án.
(Các vật chứng trên hiện có tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11 tháng 9 năm 2025)
- [3.1]. Tịch thu, tiêu hủy:
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Buộc các bị cáo Phan Thế Q, Nguyễn Mạnh H1, mỗi bị cáo phải chịu: 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nhan Ngọc Đăng |
Bản án số 14/2025/HSST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự - buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 14/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thế Q và Nguyễn Mạnh H "Mua bán hàng cấm"
