|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 139/2025/HS-PT
Ngày 26 tháng 9 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu;
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Hạng;
Ông Trần Minh Thật.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị H cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 110/2024/HS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Khánh Hòa).
Bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Thị H, sinh năm 1964 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị Đ; Chồng: Nguyễn Văn T, sinh năm 1960; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1988.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-
Trần Đức Q, sinh năm 1987, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Hướng dẫn viên du lịch; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đức T1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Tố H2, sinh năm 1966; Vợ: Nguyễn Thị Bích L (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-
Diệp Bảo L1, sinh năm 1991, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Diệp Hồng S và bà Trần Thị T2; Vợ: Châu Thị H3;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-
Diệp Hồng Â, sinh năm 1993, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Hướng dẫn viên du lịch; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Diệp Hồng S và bà Trần Thị T2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-
Hàng Trung Q1, sinh năm 1980, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Nuôi hải sản; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hàng Phương N (chết) và bà Nguyễn Thị C; Vợ: Nguyễn Thị Kiều M; Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-
Nguyễn Thị N1, sinh năm 1974, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1946 và bà Trần Thị M1 (chết); Chồng: Nguyễn Văn H4, sinh năm 1972; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1994.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-
Trần Thị T3, sinh năm 1963, tại Bình Định (nay là Gia Lai); Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc X (đã chết) và bà Trần Thị T4 (chết); Chồng: Huỳnh Thiện Đ1, sinh năm 1964; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2001.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-
Nguyễn Thị Hồng L2, sinh năm 1980, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bảo D, sinh năm 1956 và bà Đỗ Thị Đ2 (chết); Chồng: Đinh Phú T5, sinh năm 1978; Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-
Nguyễn Văn C1, sinh năm 1975, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L3 (đã chết) và bà Võ Thị C2 (đã chết); Vợ: Lê Thị Thúy B; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-
Nguyễn Thị Út N2, sinh năm 1966, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C3 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị C4 (Đã chết); Chồng: Đoàn Văn N3 (đã chết); Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1994.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo Trần Đức Q, Diệp Hồng Â, Diệp Bảo L1, Hàng Trung Q1, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị Út N2, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Hồng L2: Ông Nguyễn Hồng G - Luật sư Văn phòng L6 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị H có nhà tại thôn B, xã C, thành phố C; Khoảng đầu tháng 4/2020, H và Nguyễn Thanh B1 (con trai H) thoả thuận: H chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc cho những người khác đến đánh bạc với hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền tại nhà của H để thu tiền xâu. Băng thu tiền xâu khi H không có mặt.
Cách thức đánh bạc với hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền như sau: H chuẩn bị sẵn các dụng cụ đánh bạc trong nhà mình. Những người đến chơi phải nộp tiền xâu từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Khi chơi thì sẽ có 01 người đứng ra cầm chén đĩa xóc (người này gọi là cái). Tỷ lệ 01 ăn 01, mỗi ván đủ 100.000 đồng trở lên, quy ước bên tay phải của người cái là chẵn, bên trái là lẻ, bỏ 04 quân vị hình tròn vào trong chiếc đĩa rồi úp chén lại, cầm chén đĩa lên xóc sau đó đặt xuống mền. Những người tham gia đánh bạc sẽ đặt cược tiền của mình vào bên chẵn hoặc lẻ. Khi những người chơi đặt tiền xong nếu cái sẽ mở chén. Nếu mở chén có 04 quân vị ra 04 mặt xanh hoặc 04 mặt trắng hoặc 02 mặt xanh và 02 mặt trắng gọi là chẵn, người chơi đặt bên chẵn thắng, cái sẽ lấy toàn bộ số tiền bên lẻ trả cho bên chẵn bằng với số tiền đặt cược, nếu trả còn thừa thì cái sẽ lấy, nếu thiếu thì cái sẽ tự bỏ tiền ra trả cho đủ. Ngược lại sau khi mở chén ra, 04 quân vị ra 03 mặt xanh và 01 mặt trắng hoặc 03 mặt trắng và 01 mặt xanh thì gọi là lẻ, người chơi đặt bên lẻ thắng, cái sẽ lấy hết số tiền bên lẻ trả cho bên chẵn bằng số tiền đặt cược. Hoặc trước khi mở đĩa cái hô chẵn thừa hoặc lẻ thừa mà có người nhận thì ván đó thắng thua sẽ do người nhận chẵn thừa hoặc lẻ thừa thay cái trả tiền cho người chơi, còn không ai nhận thì cái sẽ mở đĩa.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/5/2020, H chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc tại nhà mình để Tống Thị Thị H7, Võ Văn T6, Võ Thị L4, Trần Thị T3, Trần Thị H5, Trần Đức Q, Tống Thị L5, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị Út N2, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị Hồng L2, Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Thị C5, Nguyễn Hoàng T7, Lê Nhật Q2, Hàng Trung Q1, Đoàn Thị Tuyết H6, Đỗ Thị Hồng D1, Diệp Bảo L1, Diệp Hồng  và một số người khác không rõ lai lịch chơi xóc đĩa thắng thua bằng tiền. H nói B1 thu tiền xâu còn H vào phòng ngủ.
Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/5/2020 thì bị phát hiện, bắt quả tang. Cụ thể như sau:
- Tống Thị Thi H7 cầm theo khoảng 10.000.000 đồng, sử dụng khoảng 4.000.000 đồng để đánh bạc, còn 6.000.000 đồng là của Bùi Thị Kim K đưa nhờ H7 mua tôm hùm. H7 nộp tiền xâu 50.000 đồng. H7 chơi thua khoảng 1.900.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của H7 8.050.000 đồng, 01 ví da.
- Võ Văn T6 cầm theo 1.100.000 đồng để đánh bạc. T6 nộp tiền xâu 50.000 đồng. T6 chơi thua số tiền 750.000 đồng. Khi bị phát hiện, T6 bỏ chạy vứt 300.000 đồng. Thu giữ của T6 01 điện thoại di động.
- Võ Thị L4 cầm theo 1.050.000 đồng để đánh bạc. Lên nộp tiền xâu 50.000 đồng. Lên chơi thắng số tiền 200.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của Lên 1.200.000 đồng; 01 điện thoại di động, 01 sợi dây chuyền màu vàng.
- Trần Thị T3 cầm theo khoảng 3.300.000 đồng để đánh bạc. T3 nộp tiền xâu 50.000 đồng. T3 chơi thua khoảng 2.150.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của T3 1.100.000 đồng.
- Trần Thị H5 cầm theo khoảng 2.000.000 đồng để đánh bạc. H5 nộp tiền xâu 50.000 đồng. H5 chơi thua khoảng 550.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của H5 1.400.000 đồng.
- Trần Đức Q cầm theo khoảng 13.150.000 đồng, sử dụng khoảng 3.150.000 đồng để đánh bạc, còn 10.000.000 đồng là tiền của bố là ông Trần Đức T1 đưa Q để mua đồ sửa ghe. Q nộp tiền xâu 100.000 đồng. Q chơi thắng khoảng 4.000.000 đồng, Q cho B1 số tiền 150.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của Q 16.900.000 đồng, 02 điện thoại di động, 01 ví da.
- Tống Thị L5 cầm theo khoảng 2.100.000 đồng để đánh bạc. Lọt nộp tiền xâu 50.000 đồng. Lọt chơi thắng khoảng 600.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của Lọt 2.650.000 đồng.
- Nguyễn Văn C1 cầm theo khoảng 2.200.000 đồng để đánh bạc. Chim nộp tiền xâu 50.000 đồng. Chim chơi thua khoảng 1.100.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của Chim 1.050.000 đồng.
- Nguyễn Thị Út N2 cầm theo khoảng 2.200.000 đồng để đánh bạc. Nhỏ nộp tiền xâu 50.000 đồng. Nhỏ chơi thắng nhưng không nhớ chính xác số tiền, N2 khai nhận thắng khoảng hơn 1.000.000 đồng. Khi bị phát hiện thì bỏ chạy vứt toàn bộ tiền, thu giữ của N2 01 ví da.
- Nguyễn Thị N1 cầm theo khoảng 3.450.000 đồng để đánh bạc. N1 nộp tiền xâu 50.000 đồng. N1 chơi thắng khoảng 2.900.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của N1 6.300.000 đồng.
- Nguyễn Thị Hồng L2 cầm theo khoảng 3.080.000 đồng để đánh bạc. L2 nộp tiền xâu 50.000 đồng. L2 chơi thắng khoảng 900.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của L2 3.930.000 đồng.
- Nguyễn Hoàng T7 cầm theo khoảng 2.000.000 đồng để đánh bạc. T7 nộp tiền xâu 50.000 đồng. T7 chơi thắng khoảng 400.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của T7 2.350.000 đồng.
- Hàng Trung Q1 cầm theo khoảng 4.100.000 đồng để đánh bạc. Q1 nộp tiền xâu 50.000 đồng. Q1 chơi thắng khoảng 2.100.000 đồng. Khi bị phát hiện, Q1 bỏ chạy vứt khoảng 4.100.000 đồng. Thu giữ trên người Q1 2.050.000 đồng, 01 điện thoại di động.
- Đoàn Thị Tuyết H6 cầm theo khoảng 1.700.000 đồng để đánh bạc. H6 nộp tiền xâu 50.000 đồng. H6 chơi thắng khoảng 500.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của H6 2.150.000 đồng.
- Đỗ Thị Hồng Đ2 cầm theo khoảng hơn 1.000.000 đồng để đánh bạc. Đ2 nộp tiền xâu 50.000 đồng. Đ2 chơi thua số tiền khoảng 600.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của Đ2 400.000 đồng.
- Diệp Bảo L1 cầm theo khoảng 7.400.000 đồng để đánh bạc. L1 nộp tiền xâu 50.000 đồng. L1 chơi thua khoảng 6.200.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của L1 1.150.000 đồng, 01 điện thoại di động.
- Diệp Hồng  cầm theo khoảng 10.000.000 đồng để đánh bạc. Ân nộp tiền xâu 200.000 đồng. Ân chơi thua khoảng 7.400.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của Ân 2.400.000 đồng.
- Nguyễn Thị C5 cầm theo 700.000 đồng để đánh bạc. Chụp chơi thua số tiền 300.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của Chụp 400.000 đồng.
- Lê Nhật Q2 cầm theo 600.000 đồng để đánh bạc. Quyền chơi lúc thắng, lúc thua. Khi bị phát hiện, thu giữ của Quyền 600.000 đồng.
- Nguyễn Thanh B1 cầm theo 3.000.000 đồng để đánh bạc. Băng chơi thua số tiền 1.800.000 đồng. Khi bị phát hiện, thu giữ của Băng 1.200.000 đồng, 01 điện thoại di động.
Trong quá trình chơi xóc đĩa thắng thua bằng tiền, B1 thu tổng số tiền xâu là 1.200.000 đồng đưa cho H. Khi bị phát hiện, thu giữ của H 1.200.000 đồng, 01 điện thoại di động.
Khi bị bắt quả tang, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C thu giữ số tiền rơi vãi xung quanh chiếu bạc là 6.900.000 đồng.
Tổng số tiền thu giữ là 63.380.000 đồng, trong đó số tiền dùng để đánh bạc là 40.480.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Thị H khai nhận từ đầu tháng 4/2020 đến ngày bị bắt quả tang, H nhiều lần tổ chức đánh bạc với hình thức như trên cho nhiều người nhưng không xác định được người đánh bạc, số tiền đánh bạc.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 110/2024/HS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Khánh Hòa) đã quyết định:
- Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Đức Q, Diệp Bảo L1, Diệp Hồng Â, Hàng Trung Q1, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3, Nguyễn Thị Hồng L2, Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Thị Út N2;
- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị T3;
Xử phạt các bị cáo về tội “Đánh bạc”, cụ thể: Trần Đức Q 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, D1 Bảo Lộc 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, Diệp Hồng  01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, Hàng Trung Q1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, Nguyễn Thị Út N2 10 (mười) tháng tù, Nguyễn Thị N1 01 (một) năm tù, Trần Thị T3 01 (một) năm tù, Nguyễn Thị Hồng L2 11 (mười một) tháng tù, Nguyễn Văn C1 10 (mười) tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Tống Thị Thi H7, Nguyễn Hoàng T7, Tống Thị L5, Trần Thị H5, Đoàn Thị Tuyết H6, Đỗ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Thị C5 và Lê Nhật Q2. Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
* Phần kháng cáo:
Ngày 23/11/2024, các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Đức Q, Diệp B, Diệp Hồng Â, Hàng Trung Q1, Nguyễn Thị Út N2, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3, Nguyễn Thị Hồng L2 và Nguyễn Văn C1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Tất cả các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và bổ sung thêm nội dung xin được hưởng án treo.
- Luật sư bào chữa cho các bị cáo phát biểu ý kiến: Luật sư đồng ý với tội danh mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo, tuy nhiên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là quá nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo. Cụ thể như sau:
- + Bị cáo H nhận tiền xâu từ Băng nhưng B1 đã chết nên cần phải xem xét mức độ phạm tội của H. Ngoài ra, H đã nộp đủ án phí hình sự sơ thẩm, đã tự thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự thú cho bị cáo H.
- + Các bị cáo còn lại gồm Q, L1, Â, Q1, N2, N1, T3, L2 và C1 đều đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, từ khi xảy ra vụ án đến nay các bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội nào khác, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đã thật sự ăn năn, hối cải. Riêng bị cáo Q có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, con bị cáo dưới 36 tháng tuổi. Bị cáo C1 có con nhỏ và mẹ già. Các bị cáo đều hiểu biết pháp luật rất hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo đề nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của tất cả các bị cáo trong thời hạn nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Tổ chức đánh bạc”; Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Trần Đức Q, Diệp Bảo L1, Diệp Hồng Â, Hàng Trung Q1, Nguyễn Thị Út N2, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3 (thêm khoản 2 Điều 51), Nguyễn Thị Hồng L2 và Nguyễn Văn C1 về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, tất cả các bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo;
- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên không chấp nhận kháng cáo của tất cả các bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của tất cả các bị cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
-
[2] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi của các bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/5/2020, tại nhà của Nguyễn Thị H ở thôn B, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nguyễn Thị H có hành vi cung cấp các dụng cụ đánh bạc để cho Trần Đức Q, Diệp B, Diệp Hồng Â, Hàng Trung Q1, Tống Thị Thi H7, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3, Nguyễn Thị Hồng L2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Hoàng T7, Nguyễn Thị Út N2, Tống Thị L5, Trần Thị H5, Đoàn Thị Tuyết H6, Đỗ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Thị C5, Lê Nhật Q2 đánh bạc với hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền với tổng số tiền 47.380.000 đồng tại nhà của H, Nguyễn Thanh B1 đồng thời là người giúp sức tổ chức đánh bạc bằng việc thu tiền xâu và cảnh giới cho bị cáo H. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/5/2020, thì bị Công an thành phố C phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” với tình tiết định khung hình phạt “Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo Trần Đức Q, Diệp Bảo L1, Diệp Hồng Â, Hàng Trung Q1, Tống Thị Thi H7, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3, Nguyễn Thị Hồng L2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Hoàng T7, Nguyễn Thị Út N2, Tống Thị L5, Trần Thị H5, Đoàn Thị Tuyết H6, Đỗ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Thị C5, Lê Nhật Q2 đã đủ các yếu tố cầu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
-
[3] Xét đơn kháng cáo của các bị cáo:
-
[3.1] Đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Đức Q, Diệp Bảo L1, Diệp Hồng Â:
Bị cáo H có vai trò chính và là chủ mưu chuẩn bị các công cụ tại nhà của bị cáo để cho các con bạc thực hiện hành vi đánh bạc nhằm mục đích thu tiền xâu. Các bị cáo Q, L1,  có vai trò tích cực trong việc thực hiện hành vi đánh bạc, cụ thể: Bị cáo Q sau đó lần lượt là L1 và  là người cầm cái xóc đĩa để cho các con bạc khác thực hiện hành vi đặt cược tiền. Điều này cho thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò tích cực hơn các bị cáo còn lại, riêng các bị cáo L1 và  sử dụng số tiền đánh bạc nhiều hơn bị cáo Q nên có mức án ngang nhau và cao hơn bị cáo Q đồng thời cao hơn các bị cáo khác trong nhóm các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo H với mức án 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo Q 01 năm 05 tháng tù, bị cáo L1 01 năm 06 tháng tù và bị cáo  01 năm 06 tháng tù cùng về tội “Đánh bạc”, là có cơ sở và phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo H, Q, L1,  có nộp các biên lai thu tiền án phí sơ thẩm và đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn. Các tài liệu này không phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
-
[3.2] Đối với kháng cáo của các bị cáo Hàng Trung Q1, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3, Nguyễn Thị Hồng L2:
Các bị cáo Q1, N1, T3, L2 trực tiếp tham gia đánh bạc với vai trò là đồng phạm giản đơn. Q1 đánh bạc với số tiền 4.100.000 đồng, N1 đánh bạc với số tiền 3.450.000 đồng, T3 đánh bạc với số tiền 3.300.000 đồng và L2 đánh bạc với số tiền 3.080.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vị cáo Q1 01 năm 03 tháng tù, bị cáo N1 01 năm tù, bị cáo T3 01 năm tù và bị cáo L2 11 tháng tù là hoàn toàn phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân và số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ nào mới phát sinh nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Q1, N1, T3, L2.
-
[3.3] Đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Thị Út N2:
Các bị cáo C1 và N2 đều là những con bạc tham gia đánh bạc với số tiền ít hơn những bị cáo ở trên, cụ thể mỗi bị cáo đánh bạc với số tiền tương đối nhỏ là 2.200.000 đồng. Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Văn bản hợp nhất Nghị quyết số 03/2025/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục mà chỉ cần giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú giáo dục các bị cáo cũng có thể trở thành công dân tốt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo C1 và N2.
- [4] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Đức Q, Diệp B, Diệp Hồng Â, Hàng Trung Q1, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3, Nguyễn Thị Hồng L2 không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Thị Út N2 được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- [5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
[3.1] Đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Đức Q, Diệp Bảo L1, Diệp Hồng Â:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
[I] Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Đức Q, Diệp Bảo L1, Diệp Hồng Â, Hàng Trung Q1, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3 và Nguyễn Thị Hồng L2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Thị Út N2, sửa bản án sơ thẩm.
* Áp dụng:
- - Điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H;
- - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Đức Q, Diệp Bảo L1, Diệp Hồng Â, Hàng Trung Q1, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị Hồng L2;
- - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị T3;
- - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, Văn bản hợp nhất Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với các bị cáo Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Thị Út N2;
* Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
- Bị cáo Trần Đức Q 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
- Bị cáo Diệp Bảo L1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
- Bị cáo Diệp Hồng  01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
- Bị cáo Hàng Trung Q1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
- Bị cáo Nguyễn Thị N1 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
- Bị cáo Trần Thị T3 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
- Bị cáo Nguyễn Thị Hồng L2 11 (mười một) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian từ ngày 07/5/2020 đến ngày 10/5/2020.
- Bị cáo Nguyễn Văn C1 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Thị Út N2 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 20 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Thị Út N2 cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Khánh Hòa nơi các bị cáo đang cu trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điêu 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
[II] Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Đức Q, Diệp B, Diệp Hồng Â, Hàng Trung Q1, Nguyễn Thị N1, Trần Thị T3 và Nguyễn Thị Hồng L2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Thị Út N2 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- [III] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [IV] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Bích Liễu |
Bản án số 139/2025/HS-PT ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự
- Số bản án: 139/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hòa và đồng phạm phạm tội "đánh bạc" và "Tổ chức đánh bạc"
