Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số:139/2025/HS-PT

Ngày: 22-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thanh Hải

Các Thẩm phán: ÔngĐinh Trường SơnBà Hoàng Ngọc Liễu

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Huyền – Thư ký Tòa án tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Bùi Thị Thảo Hiền– Kiểm sát viên.

Ngày 22/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ - Cơ sở 3, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩmthụ lý số: 119/2025/TLPT-HS ngày 29/10/2025. Do có kháng cáo của bị cáo Trương Văn N, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 04/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 14– Phú Thọ. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 298/2025/HSPT-QĐ ngày 02/12/2025.

Bị cáo kháng cáo: Trương Văn N; tên gọi khác: Không. Sinh ngày 07/6/2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh;nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum (nay là Thôn N, xã B, tỉnh Quảng Ngãi);nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12;dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Hoàng N1, sinh năm 1973 và bà Vũ Thị N2, sinh năm 1985. Vợ con: chưa có.Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2025 đến ngày 09/8/2025 được ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo:Ông Nguyễn Trọng T – Luật sư Công ty L, Vắng mặt.

Bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị:Anh Xa Đức T1, sinh năm 1998; Trú tại: tiểu khu B, xã Đ, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị: Chị Vũ Thị N2, sinh năm 1985; trú tại: thôn N, xã B, tỉnh Quảng Ngãi (không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 23/05/2025, Trương Văn N cùng Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thành A, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Thu H cùng đi ăn đêm tại quán T3 thuộc tiểu khu M, thị trấn Đ, huyện Đ (nay là xã Đ, tỉnh Phú Thọ). Đến khoảng 23 giờ 45 phút Đ và H về trước còn N, Q, A tiếp tục uống bia tại quán. Đến 00 giờ 10 phút ngày 24/05/2025, có 02 nhóm thanh niên xô xát đánh nhau tại quán nên cả ba cùng đi về, khi về gần đến nhà thì Q nhớ ra để quên 01 xe mô tô tại quán nên cả ba người quay lại. Đến nơi thì Trương Văn N lấy xe ngoài sân trước cửa quán, còn Q và A đi vào bên trong quán. Tại đây Q xảy ra to tiếng cự cãi với anh Xa Đức T1 là cán bộ công an thị trấn Đ, huyện Đ đang làm nhiệm vụ giải quyết vụ việc xô xát tại quán (anh T1 mặc thường phục), anh T1 có rút điện thoại để gọi điện báo cáo chỉ huy và Q cũng rút điện thoại ra để quay video, lúc này Trương Văn N cũng đi vào trong quán và thấy giữa Q và anh T1 có xảy ra cự cãi liền tiến lại gần anh Xa Đức T1, dùng chiếc điện thoại Iphone 15 Promax đang cầm ở tay phải đập theo hướng từ phải qua trái, hướng từ dưới lên trúng vào vùng lông mày phải của anh Xa Đức T1 gây thương tích, thấy vậy anh Nguyễn Bá T2 (chủ quán) cùng mọi người can ngăn và đẩy Trương Văn N ra, sự việc dừng lại.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 83/KLTTCT-TTPY ngày 27/05/2025 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh H (nay là tỉnh Phú Thọ) kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Xa Đức T1 là 03% (Ba phần trăm)".

Ngày 24/5/2025 anh Xa Đức T1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi của Trương Văn N.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số01/2025/HS - ST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ các điểm a, i khoản 1 Điều 134, các điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHSxử phạt bị cáo Trương Văn N 06 (sáu) tháng tùvề tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam 24/5/2025 đến ngày 09/8/2025.Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự,án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.Ngày 05/9/2025,bị cáo Trương Văn N có đơn kháng cáo xin hưởng mức án cải tạo không giam giữ.

Ngày 22/12/2025, bị hại Xa Đức T1 rút yêu cầu khởi tố,

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại rút yêu cầu khởi tố, xét thấy việc rút đơn khởi tố của bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, căn cứ Khoản 2 Điều 155, Điều 359 BLTT HS, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Về trách nhiệm dân sự các bên tự thỏa thuận nên ghi nhận. Về tang vật và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Văn N trong thời hạn luật định, nên được Hội đồng xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trương Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:Khoảng 00h30 ngày 24/05/2025 Trương Văn N đã dùng điện thoại Iphone 15 Promax đập trúng vùng lông mày của anh Xa Đức T1 gây thương tích cho anh T1 là 03% và anh T1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Tòa án nhân dân khu vực 14 – P phạt bị cáo Trương Văn N 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3].Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo N kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giam giữ, tại phiên tòa bị hại Xa Đức T1 có đơn đề nghị rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Trương Văn N. Xét thấy việc rút yêu cầu khởi tố là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 2 điều 155, điều 359 BLTTHS cần hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Việc hủy bản án sơ thẩm là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

[4].Về trách nhiệm dân sự và tang vật:

- Bị hại và bị cáo đã thỏa thuận về bồi thường, cụ thể: Bị cáo N bồi thường cho bị hại T1 khoảntiền 70.000.000đ, các bên đã giao và nhận đủ số tiền này, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền nào khác và không đề nghị giải quyết về trách nhiệm dân sự. HĐXX thấy thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác nên cần trả lại số tiền 20.000.000₫ mà gia đình bị cáo đã nộp, hiện đang lưu giữ tại phòng giao dịch số A, Kho bạc nhà nước khu vực VIII.

- Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, số máy MU7A3VN/A số seri L7L4047YJL, số IMEL 354449440661115,bên trong có 01 sim vietel0335778293 là tài sản của bị cáo cần trả cho bị cáo.

[5].Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị hại phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 điều 155, điều 359 Bộ Luật tố tụng hình sự. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14– Phú Thọ và đình chỉ vụ án.

- Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Trương Văn N và bị hại Xa Đức T1 số tiền 70.000.000đ. Xác nhận bị cáo Trương Văn N đã bồi thường xong số tiền 70.000.000đ cho anh Xa Đức T1 theo giấy biên nhận giao tiền ngày 22/12/2025.

- Trả lại cho bị cáo Trương Văn N: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 15 Promax, số máy Mu7A3VN/A số seri L7L4047YJL, số IMEL: 354449440661115, bên trong có 01 sim vietel0335778293. Điện thoại đã qua sử dụng (theo biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 29/8/2025 giữa Công an tỉnh P và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 14, tỉnh Phú Thọ).

- Trả lại cho bà Vũ Thị N2 số tiền 20.000.000đ đã nộp, hiện đang lưu giữ tại Phòng G- Kho bạc nhà nước khu vực VIII theo biên bản giao nhận tài sản số 04/2025/BBBQ- PGD 11 ngày 16/7/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P với Phòng G- Kho bạc nhà nước khu vực VIII.

- Về án phí: Bị cáo Trương Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị hại Xa Đức T1 phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/12/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm TANDTC
  • - Viện phúc thẩm TANDTC
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ
  • - TAND khu vực 14, tỉnh Phú Thọ
  • - CQ Thi hành án hình sự;
  • - Phòng THADS khu vực 14, Phú Thọ;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 139/2025/HS-PT ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 139/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger