|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 137/2025/HS-ST Ngày 29 - 9 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Chinh; Ông Nguyễn Văn Khiển.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 141/2025/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Quang B (tên gọi khác: Phạm Văn B1); sinh ngày 12/6/1975 tại tỉnh Thái Bình; nơi ĐKNKTT: Thôn V, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn V, phường T, tỉnh Hưng Yên); nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Phạm Quang C (Phạm Văn C1) và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); vợ là Vũ Thị T, sinh năm 1979 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 47/HSPT ngày 20/7/1995, Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản của công dân và 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Bản án số 230/HSST ngày 18/11/1998, Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Bản án số 08/2009/HSST ngày 09/4/2009, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 07 năm 4 tháng tù về tội Cướp tài sản (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh S. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 50 ngày 24/10/2024, tổ công tác Công an huyện M, tỉnh Sơn La phối hợp với lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Tráng A C2, sinh năm 1992, trú tại bản Pú Nhan, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La, đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tráng A C2. Vật chứng thu giữ: 10 bánh hình chữ nhật bên trong chứa 300 túi nilon (trong đó 240 túi nilon màu xanh, 60 túi nilon màu hồng) trong các túi là 59.561 viên nén màu hồng, tổng khối lượng 5.956,12 gam (Kết luận giám định là Methamphetamine).
Liên quan đến vụ án, hồi 07 giờ 00 ngày 26/10/2024, tổ công tác Công an huyện M, tỉnh Sơn La trên cơ sở lời khai ban đầu của Tráng A C2 đã bắt quả tang Đặng Giang L1, sinh năm 1994, trú tại tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình có hành vi cất giữ trái phép 01 khẩu súng rulo và 04 viên đạn màu vàng. L1 khai nhận là vũ khí, mang theo phòng thân khi đi gặp Tráng A C2 để mua ma tuý (Kết luận giám định là vũ khí quân dụng, còn sử dụng được).
Quá trình điều tra, Đặng Gia L2 khai nhận đã nhiều lần giao ma túy cho Phạm Đức H, sinh năm 1997, trú tại Tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Ngày 14/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S khởi tố bị can đối với Phạm Đức H về tội Mua bán trái phép chất ma túy (hiện H đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh H). Quá trình điều tra, Đặng Giang L1, Phạm Đức H khai nhận từng bán ma túy cho Phạm Quang B.
Ngày 22/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Phạm Quang B, trú tại thôn V, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn V, phường T, tỉnh Hưng Yên). Vật chứng thu giữ gồm: 07 gói chất bột màu trắng (nghi là H1), 01 gói chất nhựa dẻo màu nâu đen (nghi là Thuốc phiện) và 01 cân điện tử.
Hồi 7 giờ 00 phút ngày 23/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định, kết quả: 07 gói chất bột màu trắng có khối lượng 1,61 gam; trích 0,63 gam làm mẫu trưng cầu giám định, đánh ký hiệu từ B1 đến B7; 01 gói chất nhựa dẻo màu nâu đen có khối lượng 0,31, gam lấy toàn bộ làm mẫu giám định, đánh ký hiệu B8.
Kết luận giám định số 417/KL-KTHS ngày 25/3/2025 của Phòng K, Công an tỉnh S kết luận:
“Mẫu ký hiệu từ B1, B2, B3, B4, B5, B6, B7 gửi giám định là ma túy; loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là B1 = 0,10 gam, B2 = 0,11 gam, B3 = 0,07 gam, B4 = 0,13 gam, B5 = 0,14 gam, B6 = 0,04 gam, B7 = 0,04 gam. Mẫu ký hiệu B8 gửi giám định không phải là ma túy, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,31 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,61 gam, loại Heroine”.
Quá trình điều tra, Phạm Quang B, Đặng Giang L1, Phạm Đức H khai nhận:
Phạm Quang B là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng giữa tháng 10/2024, B gọi điện thoại cho Đặng Giang L1 (L1 và B quen nhau khi đi chấp hành án tại Trại giam N, Ninh Bình) hỏi mua Heroine và ma túy đá, L1 đồng ý bán cho B 50 gam ma túy đá với giá tiền 21.000.000 đồng và 1 chỉ Heroine với giá tiền 3.200.000 đồng. Sau đó, L1 bảo H mang ma túy đến nhà giao cho B. Nhận được ma túy, B lấy 21.000.000 đồng giao cho H, còn nợ lại số tiền 3.200.000 đồng. Khoảng mấy ngày sau, B trả số tiền 3.200.000 đồng cho L1. Từ tháng 10/2024 đến 18/3/2025, số ma túy đá mua được của L1, B đã sử dụng hết. Còn số Heroine, đến giữa tháng 3/2025, sau khi đã sử dụng hết ma túy đá, B lấy ra chia thành các gói nhỏ để sử dụng dần. Đến ngày 22/3/2025 thì bị khám xét, phát hiện và thu giữ như đã nêu trên.
Về nguồn gốc 50 gam Methamphetamine (ma túy đá), 3,7 gam Heroine ma túy trong vụ án, Phạm Quàng B2 khai mua về sử dụng. Bị cáo đã sử dụng hết 50 gam Methamphetamine (ma túy đá), 2,09 gam Heroine còn lại 1,61 gam Heroine chưa sử dụng hết (bị thu giữ khi khám xét). Do vậy, bị cáo phải chịu trách hình sự về số ma túy này.
Do thời hạn điều tra đối với Phạm Quang B đã hết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tách hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của B để truy tố, xét xử trước.
Đối với Đặng Giang L1, Phạm Đức H và Tráng A C2 đã bị khởi tố. Hiện đang tiếp tục điều tra theo vụ án xảy ra ngày 24/10/2024.
Do có hành vi trên, tại bản Cáo trạng số: 99/CT-VKS-P1 ngày 08/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Phạm Quang B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Quang B thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Quang B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Quang B từ 02 đến 03 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí và vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng tháng 10/2024, Phạm Quang B đã có hành vi mua ma túy của Đặng Giang L1 và Phạm Đức H mang về sử dụng. Đến ngày 22/3/2025, Phạm Quang B bị Phòng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Quang B thu giữ 1,61 gam Heroine. B khai cất giữ để sử dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số 230/LGN-CSMT ngày 22/3/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S. Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Quang B số 224/LKX-CSMT ngày 22/3/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S. Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 10 giờ 30 phút ngày 22/3/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S kèm 09 ảnh chụp. Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định, niêm phong mẫu giám định và vật chứng lập hồi 07 giờ 00 phút ngày 23/3/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S.
Bản Kết luận giám định số 417/KL-KTHS ngày 25/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
“Mẫu ký hiệu B1, B2, B3, B4, B5, B6, B7 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2011 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 21/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là B1 = 0,10 gam; B2 = 0,11 gam; B3 = 0,07 gam; B4 = 0,13 gam; B5 = 0,14 gam; B6 = 0,04 gam; B7 = 0,04 gam.
Mẫu ký hiệu B8 gửi giám định không phải là ma túy; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,31 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,61 gam; loại heroine (heroin), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2011 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 21/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Lời khai nhận tội của Phạm Quang B tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc cơ quan chức năng lập biên bản sự việc đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Phạm Quang B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo là có căn cứ .
Xét thấy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian Bộ luật Hình sự năm 2015 đang có hiệu lực và xét xử vào thời điểm Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội (sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015) đã có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, do Luật số 86/2025/QH15 đã được sửa đổi theo hướng nâng mức hình phạt tù tại khoản 1 Điều 249 BLHS so với quy định tương ứng tại Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, trong trường hợp Bộ luật Hình sự cũ quy định có lợi hơn cho bị cáo, thì việc áp dụng pháp luật được thực hiện theo nguyên tắc áp dụng pháp luật Hình sự có lợi cho người phạm tội. Do đó, Tòa án áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét, xử lý đối bị cáo.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Quá trình điều tra xác định, bị cáo đã mua 50 gam Methamphetamine và 3,7 gam Heroine của Đặng Giang L1 và Phạm Đức H mang về sử dụng. Bị cáo đã sử dụng hết 50 gam Methamphetamine và 2,09 gam Heroine; còn lại 1,61 gam Heroine chưa sử dụng hết thì bị thu giữ khi khám xét. Do vậy, bị cáo phải chịu trách hình sự về số ma túy này. Hành vi của bị cáo đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có tình tiết định khung hình phạt “Heroin, C3, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Tại Bản án số 47/HSPT ngày 20/7/1995, bị cáo Phạm Quang B bị Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản của công dân và 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Bản án số 230/HSST ngày 18/11/1998, bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Bản án số 08/2009/HSST ngày 09/4/2009, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 07 năm 4 tháng tù về tội Cướp tài sản (đã được xóa án tích).
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quang B thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Bị cáo Phạm Quang B là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc Nhà nước nghiêm cấm các hành vi Mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, bị cáo Phạm Quang B còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 (Một) phong bì thư do Công an tỉnh S phát hành nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho khi khám xét khẩn cấp chỗ ở Phạm Quang B, sinh năm 1975, trú tại thôn V, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Gồm có: L1 = 0,20 gam; L2 = 0,17 gam; L3 = 0,23 gam; L4 = 0,14 gam; L5 = 0,17 gam; L6 = 0,05 gam; L7 = 0,02 gam nghi là Heroine + 02 hộp nhựa màu trắng + 01 túi Zip + 08 mảnh giấy + Các mảnh vụ giấy bạc + 02 phong bì niêm phong ban đầu”. Mặt sau phong bì, tại mép dán giáp lai được dán bằng giấy niêm phong của Công an tỉnh S có số seri: 0000008 cùng đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phân tham gia niêm phong cùng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S. (Theo kết luận giám định số 417/KL-KTHS ngày 25/3/2025 của Phòng KTHS - Công an tỉnh S thì mẫu gửi giám định ký hiệu từ B1 đến B7 là ma tủy loại Heroine; Mẫu ký hiệu B8 không phải là ma túy); 01 (Một) cân điện tử, vỏ bằng nhựa màu xám, trên nắp có dòng chữ "DIGTAL SCALE", qua sử dụng.
Xác định, ma tuý là chất Nhà nước cấm lưu hành và các đồ vật khác là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí:
Bị cáo Phạm Quang B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Quang B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Phạm Quang B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/3/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định; 02 hộp nhựa màu trắng; 01 túi Zip; 08 mảnh giấy; Các mảnh vụn giấy bạc; 02 phong bì niêm phong ban đầu (đã được niêm phong theo quy định của pháp luật); 01 cân điện tử, vỏ bằng nhựa màu xám, trên nắp có dòng chữ "DIGTAL SCALE", đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 8h20 ngày 28/8/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh S và Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phạm Quang B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Bị cáo Phạm Quang B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/9/2025)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Minh |
Bản án số 137/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 137/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Quang B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
