|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI Bản án số: 136/2025/HSST Ngày 20 tháng 10 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Hùng - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuỵ.
Bà Đỗ Thị Sỹ Long.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Cảnh Hưng - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà nội tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 10 năm 2025, tại Phòng xét xử - Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 121/2025/TLST-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo H và tên:
Nguyễn Đình Q - sinh năm 1996; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Nơi đăng ký thường trú: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP H, phường N, tỉnh Bắc Ninh); Chỗ ở: P2810 tòa A Chung cư M, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (Nay là P2810 tòa A Chung cư M, phường T, thành phố Hà Nội); Con ông: Nguyễn Đình T1- sinh năm: 1962; Con bà: Trần Thị Ý – sinh năm: 1965; Theo danh chỉ bản số 001 lập ngày 07 tháng 1 năm 2025 do Công an Quận T thì Tiền án tiền sự: không; Bắt khẩn cấp ngày 01 tháng 01 năm 2025; Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Thị H1 ( có mặt); Luật sư Lương Văn N ( xin vắng mặt) – Công ty L, Đoàn luật sư thành phố H.
* Bị hại: Công ty TNHH M.
Địa chỉ: P tầng 5, T, số E đường T, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Tetsuyama N1 – Tổng giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Hải Y ( có mặt).
Chỗ ở: Nhà A ngõ B D, phường T, Hà Nội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Ý( có mặt)– sinh năm: 1965, Nơi đăng ký thường trú: TDP H, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH M (sau đây viết tắt là công ty M) có cửa hàng Muji L1 (sau đây viết tắt là cửa hàng L1) tại Trung tâm thương mại L2, B V, phường P, quận T, thành phố Hà Nội (Nay là B V, phường P, thành phố Hà Nội). Ngày 03/7/2023, công ty M ký hợp đồng lao động số LC/MJ21000217/03 với Nguyễn Đình Q, vị trí việc làm: nhân viên kinh doanh, nơi làm việc: trung tâm thương mại A1. Ngày 14/9/2023, ông ty Muji ban hành Quyết định về việc thay đổi địa điểm làm việc đối với Nguyễn Đình Q chuyển đến cửa hàng L1 làm trợ lý giám sát cửa hàng, đồng thời cấp cho Q tài khoản nhân viên có mã ID: mj21000217. Theo quy định của công ty M thì quy trình bán hàng, quy trình trả hàng, đổi hàng/ hoàn tiền tại cửa hàng L1 được quy định như sau:
Quy trình bán hàng:
Khách hàng đến mua hàng khi chọn được sản phẩm sẽ mang đến quầy thanh toán tại tầng 1 hoặc tầng 2 cửa hàng.
- Bước 1: Nhân viên tiếp nhận sản phẩm khách hàng yêu cầu thanh toán.
- Bước 2: Đăng nhập vào tài khoản nhân viên trên máy tính.
- Bước 3: Thực hiện thao tác bán hàng, thanh toán trên máy tính.
- Bước 4: Đóng gói sản phẩm, kèm tiền thừa, hóa đơn thanh toán đưa cho khách hàng.
Quy trình trả hàng, đổi hàng/ hoàn tiền:
- Bước 1: Xác minh yêu cầu của khách hàng.
- Bước 2: Chuyển thông tin yêu cầu của khách hàng đến người phụ trách:
- + Đối với trường hợp trả hàng, đổi hàng: Người phụ trách là quản lý cửa hàng/ Giám sát cửa hàng/ Trợ lý giám sát cửa hàng.
- + Đối với trường hợp trả hàng hoàn tiền: Người phụ trách là quản lý cửa hàng. Nếu quản lý cửa hàng vắng mặt, người phụ trách là Giám sát cửa hàng/ Trợ lý giám sát cửa hàng và phải báo cáo ngay, chính xác cho quản lý cửa hàng hoặc quản lý khu vực.
- Bước 3: Người phụ trách tiếp nhận và xử lý yêu cầu của khách hàng: Tiếp nhận sản phẩm; Hỏi kỹ nguyên nhân, vấn đề của sản phẩm; Đề xuất phương án giải quyết đổi hàng thay thế; Hỏi khách hàng còn giữ hóa đơn không.
- Bước 4: Người phụ trách sử dụng phần mềm trong máy tính để tạo hóa đơn đổi hàng/hoàn tiền: Đăng nhập bằng tài khoản của người phụ trách; tạo hóa đơn trả hàng.
- Bước 5: Điền đầy đủ thông tin vào phiếu đổi/trả hàng trong sổ đổi/trả hàng theo mẫu và đưa khách hàng ký, ghi rõ họ tên.
- Bước 6: Nếu đổi hàng thì đóng gói sản phẩm kèm hóa đơn mới đưa cho khách, sản phẩm cũ thì trả lại vào cửa hàng. Nếu hoàn tiền thì hoàn tiền cho khách cùng hóa đơn, cất sản phẩm khách trả vào cửa hàng.
- Bước 7: Nếu quản lý cửa hàng vắng mặt, người phụ trách phải báo cáo ngay, chính xác cho quản lý cửa hàng hoặc quản lý khu vực biết về việc trả hàng, hoàn tiền.
Việc kiểm tra, đối chiếu hàng hóa, sản phẩm bán ra, trả lại, hàng tồn, chốt số liệu thu chi tại cửa hàng được tiến hành 6 tháng/1 lần.
Khoảng tháng 5/2024, do nợ tiền thẻ tín dụng ngân hàng, nhận thấy quy trình trả lại hàng và hoàn tiền của cửa hàng thiếu giám sát chặt chẽ, Nguyễn Đình Q nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của cửa hàng L1 để lấy tiền trả nợ. Lợi dụng vị trí làm việc là Trợ lý giám sát, được cấp tài khoản mã ID: mj21000217 có thể thực hiện thao tác trả hàng, hoàn tiền, khi có khách mua hàng hoặc khi vắng người, Q đã thực hiện các lệnh trả lại hàng, hoàn tiền đối với các hóa đơn mua hàng bất kỳ đã được thanh toán trong vòng 15 ngày, có giá trị khoảng từ 2.000.000đồng đến 5.000.000đồng nhưng trên thực tế không có việc khách hàng trả hàng, hoàn tiền. Sau đó, Q lấy số tiền mặt bằng đúng giá trị của hóa đơn trả hàng, hoàn tiền từ két thu ngân ngay dưới máy tính tiền. Do cửa hàng L1 có hệ thống camera giám sát các máy tính tiền, Q không cho ngay số tiền định chiếm đoạt vào túi của mình, mà lấy thêm một số tiền mặt trong két, giả hành động lấy tiền trong két để đi đổi tiền lẻ, rồi đi đến các góc không có hệ thống camera giám sát để chiếm đoạt, cụ thể:
- Nếu lấy tiền trong két các máy tính tiền tại tầng 1, Q đi bằng thang cuốn để lên tầng 2 cửa hàng. Tại khu vực thang cuốn không có camera giám sát, Q cho số tiền chiếm đoạt vào túi của mình, mang số tiền còn lại đến đổi tại một túi màu đen đựng tiền lẻ ở quầy thanh toán tầng 2 cửa hàng, cầm số tiền vừa đổi quay lại cho vào két máy tính tiền tại tầng 1 cửa hàng.
- Nếu lấy tiền trong két các máy tính tiền tại tầng 2 cửa hàng, Q đi đến vị trí túi màu đen đựng tiền lẻ ở quầy thanh toán tầng 2 cửa hàng. Q giả việc kiểm tra trong túi màu đen thấy không có đủ tiền lẻ để đổi, sau đó cầm túi màu đen đi vào khu vực phòng chứa két phía sau quầy thanh toán tại tầng 2 cửa hàng. Tại khu vực này không có camera giám sát, Q cho số tiền chiếm đoạt vào túi của mình, quay lại để túi màu đen và số tiền đổi vào vị trí cũ.
Từ tháng 5/2024 đến tháng 8/2024, bằng phương thức trên, Q đã 15 lần chiếm đoạt tiền của cửa hàng L1, tổng số tiền chiếm đoạt là 45.442.000đồng. Ban đầu, Q sử dụng tài khoản trợ lý giám sát cửa hàng có mã ID: mj21000217 của mình để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Sau đó, Q lấy lý do tài khoản cá nhân của mình bị lỗi và mượn tài khoản mã ID: ltm–191 của chị Lê Nghiêm Minh C (SN: 1995, HKTT: 150 T, phường Đ, thành phố Hà Nội, là giám sát cửa hàng) để thực hiện hành vi của mình, cụ thể như sau:
- Lần 1: Hồi 20h40 ngày 20/5/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 348.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản mj21000217 của mình thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 20h41 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 127657, tổng trị giá là 2.520.000đồng, máy tính thanh toán số 902.
- Lần 2: Hồi 21h11 ngày 30/5/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 429.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản mj21000217 của mình thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 21h11 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 132137, tổng trị giá là 3.925.000đồng, máy tính thanh toán số 903.
- Lần 3: Hồi 11h25 ngày 08/6/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 5.016.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản mj21000217 của mình thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 11h25 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 136593, tổng trị giá là 2.941.000đồng, máy tính thanh toán số 902.
- Lần 4: Hồi 18h29 ngày 16/6/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 649.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản mj21000217 của mình thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 18h28 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 142373, tổng trị giá là 3.924.000đồng, máy tính thanh toán số 902.
- Lần 5: Hồi 21h27 ngày 18/6/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 425.600đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản mj21000217 của mình thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 21h17 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 143337, tổng trị giá là 3.055.000đồng, máy tính thanh toán số 902.
- Lần 6: Hồi 20h42 ngày 23/6/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 28.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản của mình thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 20h37 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 146559, tổng trị giá là 2.746.000đồng, máy tính thanh toán số 902.
- Lần 7: Hồi 13h04 ngày 29/6/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 1.087.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản mj21000217 của mình thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 12h59 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 149034, tổng trị giá là 2.795.000đồng, máy tính thanh toán số 903.
- Lần 8: Hồi 21h41 ngày 03/7/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 1.891.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản mj21000217 của mình thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 21h40 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 152431, tổng trị giá là 1.648.000đồng, máy tính thanh toán số 902.
- Lần 9: Hồi 17h34 ngày 11/7/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 448.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản ltm–191 của chị Lê Nghiêm Minh C thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 17h24 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 156779, tổng trị giá là 3.067.000đồng, máy tính thanh toán số 903.
- Lần 10: Hồi 20h19 ngày 12/7/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 2.352.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản ltm–191 của chị Lê Nghiêm Minh C thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 20h19 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 157332, tổng trị giá là 2.548.000đồng, máy tính thanh toán số 902.
- Lần 11: Hồi 18h41 ngày 19/7/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 87.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản ltm–191 của chị Lê Nghiêm Minh C thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 18h41 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 161361, tổng trị giá là 3.922.000đồng, máy tính thanh toán số 904.
- Lần 12: Q đăng nhập tài khoản ltm–191 của chị Lê Nghiêm Minh C thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 18h56 ngày 21/7/2024. Hóa đơn trả hàng số 163246, tổng trị giá là 5.467.000đồng, máy tính thanh toán số 905.
- Lần 13: Hồi 21h10 ngày 01/8/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 1.001.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản ltm–191 của chị Nghiêm Minh C thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 21h10 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 169481, tổng trị giá là 2.066.000đồng, máy tính thanh toán số 903.
- Lần 14: Hồi 19h52 ngày 02/8/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 196.000đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản ltm–191 của chị Lê Nghiêm Minh C thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 19h52 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 169900, tổng trị giá là 1.765.000đồng, máy tính thanh toán số 901.
- Lần 15: Hồi 20h59 ngày 16/8/2024, Q thực hiện thanh toán cho khách hóa đơn mua hàng tổng trị giá 983.000 đồng. Đồng thời Q đăng nhập tài khoản ltm–191 của chị Lê Nghiêm Minh C thực hiện lệnh trả hàng, hoàn tiền vào lúc 20h59 cùng ngày. Hóa đơn trả hàng số 179063, tổng trị giá là 3.053.000đồng, máy tính thanh toán số 902.
Ngày 14/8/2024, công ty M nhận được email tố giác nặc danh nội dung về việc một cá nhân giữ chức vụ quản lý của cửa hàng L1 đã lợi dụng quyền hạn của mình để thực hiện các hành vi gian lận, bao gồm việc gian dối trong thanh toán tại quầy và lấy trộm hàng hóa của cửa hàng để tư lợi cá nhân. Người này đã lợi dụng sự kiểm soát của mình để thực hiện việc chỉnh sửa giao dịch, nhằm che giấu việc rút tiền từ quầy thanh toán. Đồng thời người này còn sử dụng sự tiếp cận của mình để lấy đồ từ cửa hàng và đưa ra ngoài mà không qua bất kỳ quy trình kiểm tra nào. Sau khi nhận được email trên, công ty M đã yêu cầu chị Nguyễn Hương T2 (SN: 1995, HKTT: Căn 1002 nhà CT6 ĐN2, phường P, thành phố Hà Nội, là cửa hàng trưởng cửa hàng L1) tiến hành kiểm tra hệ thống hóa đơn và camera giám sát. Quá trình kiểm tra, chị T2 phát hiện số lượng hóa đơn hoàn tiền cho khách nhiều bất thường, không được ghi trong sổ đổi/trả hàng của cửa hàng bao gồm 8 hóa đơn được lập bằng tài khoản của Nguyễn Đình Q, 7 hóa đơn được lập bằng tài khoản của chị Lê Nghiêm Minh C. Qua kiểm tra hình ảnh camera, chị T2 phát hiện việc Q chiếm đoạt tài sản của công ty Muji bằng cách khi có khách mua hàng, Q sẽ lập hóa đơn thanh toán cho khách, đồng thời mở thêm trang lập hóa đơn hoàn tiền và không ghi vào sổ đổi/ trả hàng theo quy định. Công ty M đã tiến hành làm việc với Nguyễn Đình Q nhưng Q không thừa nhận hành vi của mình. Ngày 20/8/2024, Nguyễn Đình Q có đơn xin nghỉ việc tại công ty M, sau đó không đến công ty làm việc nữa. Ngày 15/11/2024, công ty M đã gửi đơn tố giác Nguyễn Đình Q đến công an quận T. Ngày 01/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận T đã bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đình Q.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Nguyễn Đình Q: 01 điện thoại Iphone 15 pro màu xám, đã qua sử dụng.
- Công ty M đã cung cấp cho cơ quan điều tra:
- – 02 Giấy ủy quyền ngày 15/11/2024 và ngày 22/01/2025 của công ty M, người được ủy quyền: Bà Nguyễn Hải Y.
- – Quy trình thanh toán, trả hàng – đổi hàng/hoàn tiền và tài liệu kèm theo.
- – Danh sách tài khoản đăng nhập thực hiện hoàn, đổi trả hàng.
- – Các hóa đơn liên quan việc hoàn, đổi trả hàng.
- – Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH M.
- – Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh Công ty TNHH M.
- – Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh Công ty TNHH M.
- – Nội quy lao động của Công ty TNHH M.
- – Hướng dẫn sử dụng hệ thống thanh toán.
- – Hợp đồng mua bán số [...]–NAT ngày 20/7/2023.
- – Hợp đồng lao động của công ty M với Nguyễn Đình Q.
- – Hợp đồng lao động của công ty M với Lê Nghiêm Minh C.
- – Đơn xin nghỉ việc của Nguyễn Đình Q.
- – Báo cáo giải trình của Lê Nghiêm Minh C.
- – Dữ liệu chấm công của Nguyễn Đình Q và Lê Nghiêm Minh C.
- – Bản in Email tố cáo gửi công ty M.
- – 01 Ổ cứng di động có các clip từ hệ thống Camera số D17 và D18 tại cửa hàng L1.
- – 02 USB có các clip liên quan vụ việc.
- – Ảnh CCCD của Nguyễn Đình Q.
- – Bản ảnh trích từ hệ thống camera của công ty M liên quan đến Nguyễn Đình Q.
- – Bảng kê chi tiết hóa đơn trả hàng, hoàn tiền 6 tháng đầu năm, cả năm 2024.
- – Báo cáo kiểm kê năm 2024.
- – Báo cáo tài chính năm 2024.
- – Quy trình quản lý tiền mặt tại cửa hàng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đình Q khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Q khẳng định hóa đơn đã lưu trên hệ thống thanh toán của công ty M không thay đổi được thông tin, thừa nhận một mình thực hiện 15 lần chiếm đoạt tài sản như công ty M tố giác, tổng số tiền chiếm đoạt là 45.442.000đồng. Số tiền này Q đã sử dụng để trả nợ thẻ tín dụng và tiêu xài cá nhân hết.
Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường P, quận T và đại diện công ty Muji tiến hành trích xuất camera tại cửa hàng L1. Kết quả:
- Đối với 08 vụ việc từ ngày 20/5/2024 đến ngày 03/7/2024: Hệ thống không còn lưu giữ hình ảnh camera.
- Đối với 04 vụ việc từ ngày 11/7/2024 đến ngày 21/7/2024: Hệ thống không còn lưu giữ hình ảnh camera. Công ty cung cấp hình ảnh được sao lưu bằng điện thoại thể hiện có hình ảnh Nguyễn Đình Q tại thời điểm xuất hóa đơn; Có hình ảnh Nguyễn Đình Q lấy vật giống tiền mặt vào thời điểm 18h49'09” đến 18h49'17” ngày 19/7/2024.
- Đối với 03 vụ việc từ ngày 01/8/2024 đến ngày 17/8/2024: Hệ thống còn lưu giữ hình ảnh camera. Trích xuất camera có hình ảnh Nguyễn Đình Q tại thời điểm xuất hóa đơn; Có hình ảnh Nguyễn Đình Q lấy vật giống tiền mặt vào thời điểm 20h03'50” đến 20h04'00" ngày 02/8/2024.
Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định đối với các file dữ liệu hình ảnh do Công ty TNHH M giao nộp và Cơ quan điều tra trích xuất thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số 889/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của V, Bộ C1 kết luận:
- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 102 tệp video lưu trong ổ cứng di động Orico và 01 tệp video lưu trong USB nhãn hiệu Sandisk cần giám định.
- Tệp video: "D17_20240802194559.mp4" có thời lượng 39 phút 54 giây lưu trong ổ cứng di động Orico tại thời điểm từ 20 giờ 03 phút 50 giây đên 20 giờ 04 phút 00 giây ngày 02/8/2024 thể hiện trong video có hình ảnh 01 nam thanh niên mặc áo đen, quần đen, đang đứng tại vị trí máy tính thực hiện việc lấy một số vật có hình dạng giống tiền, không xác định được mệnh giá, loại tiền trong ngăn kéo phía dưới máy tính sau đó đi khỏi khu vực quầy thanh toán.
- Không xác định được 09 tệp video lưu trong USB nhãn hiệu Kingston có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh hay không do 09 tệp video được quay lại màn hình từ một thiết bị khác.
- Các tệp video: “19.07(2) – refund.mp4” và “19.07(4) – Bring cash to no cctv area.mp4” không xác định có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh hay không do đó không tiến hành giám định các nội dung khác
Đối với chị Lê Nghiêm Minh C, quá trình điều tra xác định chị C không biết, không tham gia việc Nguyễn Đình Q chiếm đoạt tài sản của công ty M, do đó cơ quan điều tra không xử lý đối với chị C là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tiến hành trích xuất dữ liệu điện thoại của Nguyễn Đình Q xác định từ ngày 24/6/2024 đến ngày 31/12/2024, Q sử dụng số điện thoại 0703.015.xxx nhắn tin với Lê Văn Anh P (sử dụng số điện thoại 0935.786.xxx, lưu tên trong danh bạ là “ep bo go”). Nội dung tin nhắn có nhiều hình ảnh các hóa đơn, hàng hóa tại các gian hàng, trao đổi về tài sản, hàng hóa tại cửa hàng. Khi quan sát nội dung các tin nhắn này, Q không thừa nhận việc Lê Văn Anh P có liên quan đến hành vi phạm tội, khẳng định thực hiện việc chiếm đoạt tài sản một mình, không có ai biết, không có đồng phạm.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh số điện thoại 0935.786.xxx, kết quả chủ thuê bao là Lê Văn Anh P (sinh năm: 1997, HKTT: Tổ 32 khu phố B, phường Q, tỉnh Gia Lai). Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Lê Văn A P, P khai nhận: Trước đây, P sinh sống tại thành phố Hà Nội và là nhân viên bán hàng cùng làm việc với Nguyễn Đình Q tại cửa hàng H4, trung tâm thương mại khu đô thị T, quận H, thành phố Hà Nội. Từ khoảng năm 2019 đến khoảng giữa năm 2020, Q chuyển công việc khác, P tiếp tục làm việc tại đây đến ngày 03/6/2024 thì nghỉ việc. Khoảng cuối tháng 7/2024, P chuyển về sinh sống tại thành phố Q, tỉnh Bình Định. Khi không còn làm việc chung, P ít khi gặp Q nhưng vẫn giữ liên lạc, chủ yếu bằng hình thức nhắn tin, không nhớ cụ thể dùng ứng dụng nào. Khoảng cuối tháng 12/2024 đến nay thì P không liên lạc với Q nữa. Lần gần nhất P gặp Q vào khoảng cuối tháng 7/2024, trước khi P chuyển về thành phố Q, tỉnh Bình Định sinh sống, không nhớ cụ thể gặp Q ở đâu, gặp để làm gì, không nhớ có gặp Q tại cửa hàng L1 không. Số điện thoại 0935.786.xxx do P đăng ký thông tin chính chủ và sử dụng từ khoảng hơn 10 năm nay. Do đã làm rơi điện thoại có gắn sim số này nên P không xuất trình được cho cơ quan điều tra. Trong quá trình sử dụng, P không nhớ có cho ai mượn, sử dụng điện thoại di động có gắn số thuê bao này hay không. Khi quan sát nội dung các tin nhắn, P khai nhận do hàng ngày nhắn tin, trao đổi với Q rất nhiều nội dung về công việc, cuộc sống, thời gian nhắn tin đã lâu, đến nay không nhớ được cụ thể nội dung các tin nhắn này là về việc gì, không giải thích được nội dung các tin nhắn. P không thừa nhận có việc bàn bạc, không thừa nhận có liên quan đến việc Q chiếm đoạt tài sản của cửa hàng L1. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với P.
Đối với số tiền 45.442.000đồng Q chiếm đoạt của công ty M, bà Trần Thị Ý (SN: 1965, HKTT: TDP H, phường N, tỉnh Bắc Ninh, là mẹ đẻ của Q) đã thay mặt Q giao nộp cho cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả. Cơ quan điều tra đã trao trả số tiền 45.442.000đồng cho công ty M. Công ty M đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì về bồi thường dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Đình Q.
Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 18/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội truy tố Nguyễn Đình Q phạm tội “ Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ Luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND khu vực 1- Hà Nội giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 điều 54; Điều 38 Bộ Luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 36 tháng tù đến 40 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không còn yêu cầu bồi thường gì khác và đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên toà: Người bào chữa cho bị cáo và bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng, thừa nhận hành vi phạm tội “ Tham ô tài sản” của bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội.
Đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu hoàn trả 01 ổ cứng di động nhãn hiệu Orico màu đen đã qua sử dụng, 01 Usb nhãn hiệu Sandisk đã qua sử dụng, 01 Usb nhãn hiệu Kingston đã qua sử dụng. Bị hại không xin lại nên đề nghị lưu kho phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền mà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã bồi thường cho bị hại.
Bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về hành vi của bị cáo: Từ ngày 20/5/2024 đến ngày 16/8/2024, tại cửa hàng L1, B V, phường P, quận T, thành phố Hà Nội (nay là phường P, thành phố Hà Nội), lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, Nguyễn Đình Q đã sử dụng tài khoản mã số mj21000217 của mình và tài khoản mã số ltm-191 mượn của chị Lê Nghiêm Minh C (Giám sát cửa hàng) để đăng nhập vào hệ thống quản lý tại cửa hàng L1, thực hiện thao tác trả hàng, hoàn tiền nhưng thực tế không có hàng hóa trả lại, nhằm rút tiền mặt từ két các máy tính tiền tại tầng 1 và tầng 2 của cửa hàng để chiếm đoạt. Bằng phương thức trên, Nguyễn Đình Q đã chiếm đoạt tiền của 15 hóa đơn, trong đó có 13 lần chiếm đoạt số tiền từ 2.000.000đồng trở lên, 02 lần chiếm đoạt số tiền dưới 2.000.000đồng, tổng số tiền chiếm đoạt là 45.442.000đồng. Như vậy, đủ cơ sở khẳng định bị cáo phạm tội tham ô tài sản, tội danh và hình phạt được qui định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần phải có biện pháp xử lý nghiêm khắc để giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đảm bảo tính phòng ngừa chung.
[3] Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên là tình tiết định tội được qui định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã tích cực tác động đến mẹ bị cáo để bồi thường cho bị hại và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm b,s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo lần đầu bị đưa ra xét xử, các lần phạm tội của bị cáo đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo – đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 điều 51 bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 điều 54 xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt bị truy tố.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị khác về dân sự nên không xét.
Người có quyền lợi có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu xám; Imei : 354133891219595, Imei2 : 354133891119126 điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong cần tịch thu sung công quĩ nhà nước.
Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại seri số : 8401180150678141 OТ.
+ Đối với 01 phong bì niêm phong tại các mép dán có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Trung H2, Giám định viên Tạ Quang H3, hình dấu của V, bộ C1 bên trong có 01 ổ cứng di động nhãn hiệu Orico màu đen đã qua sử dụng, 01 Usb nhãn hiệu Sandisk đã qua sử dụng, 01 Usb nhãn hiệu Kingston đã qua sử dụng. Bị hại không xin lại, đây là chứng cứ của vụ án nên lưu kho phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Hà Nội.
[7] Bị cáo phải nộp án phí theo qui định của pháp luật
[8] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội “ Tham ô tài sản”
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự. Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 điều 54 Bộ Luật hình sự
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đình Q 34 ( ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xét.
Người có quyền lợi có nghĩa vụ liên quan : Không xét.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu sung công quĩ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu xám; Imei : 354133891219595, Imei2 : 354133891119126 điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại seri số : 8401180150678141 OT.
- + Đối với 01 phong bì niêm phong tại các mép dán có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Trung H2, Giám định viên Tạ Quang H3, hình dấu của V, bộ C1 bên trong có 01 ổ cứng di động nhãn hiệu Orico màu đen đã qua sử dụng, 01 Usb nhãn hiệu Sandisk đã qua sử dụng, 01 Usb nhãn hiệu Kingston đã qua sử dụng lưu kho phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Hà Nội.
Số tang vật nêu trên hiện đang lưu trữ tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1 - Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đình Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 65; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại (có mặt) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (có mặt) có quyền kháng cáo đối với phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Việt Hùng |
12
Bản án số 136/2025/HSST ngày 20/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI về tham ô tài sản
- Số bản án: 136/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Q phạm tội tham ô tài sản
