Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 136/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25 - 11 - 2025

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Đổi
  2. Ông Nguyễn Chí Lin

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 271/2025/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 2000 (vắng mặt)

CCCD: [...]. Địa chỉ: B Ô Khu A, xã H, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1999 (vắng mặt)

CCCD: [...]. Địa chỉ: Ấp H, xã H, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2025 và những lời trình bày tiếp theo tại Tòa án do nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé H trình bày như sau:

Về tình trạng hôn nhân: bà và ông T trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau thời gian khoảng 01 năm và tiến đến hôn nhân vào năm 2021. Cả hai người có đăng ký kết hôn theo quy định Luật hôn nhân gia đình tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 24/12/2021. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu về sau thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vã. Từ tháng 01/2025 thì hai người đã ly thân đến nay cả hai không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nay bà kiên quyết xin được ly hôn với ông T.

Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Trần Ngọc Quỳnh T1, sinh ngày 31/10/2022 hiện do bà nuôi. Khi ly hôn, bà xin tiếp tục nuôi, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có. Ngoài ra bà H không còn yêu cầu gì khác. Đồng thời bà xin xử vắng mặt.

Bị đơn ông Trần Văn T trình bày: về tình trạng hôn nhân ông thống nhất như bà H trình bày, ông đồng ý ly hôn vì không còn khả năng hàn gắn.

Về con chung: có 01 con chung tên Trần Ngọc Quỳnh T1, sinh ngày 31/10/2022 hiện bà đang nuôi. Khi ly hôn bà đồng ý nuôi con và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có. Ngoài ra ông xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé H nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: “Ly hôn” là những tranh chấp theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bị đơn ông Trần Văn T có sinh sống tại địa chỉ: ấp H, xã H, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[1.2] Về tư cách tố tụng, phạm vi giải quyết.

Bà Nguyễn Thị Bé H khởi kiện được xác định là nguyên đơn, ông Trần Văn T được xác định là bị đơn. Tòa án chỉ xét xử trong phạm vi đơn khởi kiện của nguyên đơn.

[1.3]. Xét xử vắng mặt: bà Nguyễn Thị Bé H và ông Trần Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.

[1.4] Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng.

Quá trình tố tụng: Nguyễn Thị Bé H xác định có đăng ký kết hôn với ông Trần Văn T và có 01 con chung. Chứng cứ là giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh.

Pháp luật được áp dụng: Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Xét hôn nhân giữa bà Ngô Thị Bé H1 và ông Trần Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu nhau được 01 năm, hai người có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà phù hợp Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cuộc sống chung vợ chồng không hợp nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống do cả hai không quan tâm chăm sóc nhau, không có tiếng nói chung và ly thân từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay, ông T cũng không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc với bà H1. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H1 và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần tuyên bà H1 được ly hôn với ông T.

[2.2] Đối với con chung: bà H1 và ông T có 01 con chung tên Trần Ngọc Quỳnh T1, sinh ngày 31/10/2022 hiện nay do bà H1 đang nuôi. Khi ly hôn bà H1 xin tiếp tục nuôi con, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng/tháng. Ông T đồng ý để con cho bà H1 nuôi nhưng ông không cấp dưỡng vì cho rằng không có việc làm và đang bị bệnh. Hội đồng xét xử thấy rằng giữa ông T và bà H1 đã thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con nên ghi nhận. Về mức cấp dưỡng: ông T không đồng ý cấp dưỡng. Tuy nhiên theo quy định sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nên cần buộc ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng mức tối thiểu là 1.200.000 đồng. Vì vậy cần buộc ông T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.200.000 đồng đến khi con tròn 18 tuổi.

[2.3] Về tài sản: bà H1 và ông T khai không có không yêu cầu Tòa án nên không đề cập xem xét.

[2.4] Về nợ chung: bà H1 và ông T khai không có nên không đề cập xem xét.

[3] Về án phí, theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án, bà H1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và ông T chịu tiền án phí cấp dưỡng nuôi con sung vào Ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Bé H được ly hôn với ông Trần Văn T.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bé H tiếp tục nuôi con chung tên Trần Ngọc Quỳnh T1, sinh ngày 31/10/2022. Ông T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng). Thời gian tính từ ngày 01/12/2025 đến khi con tròn 18 tuổi. Vì quyền lợi của trẻ, ông T được quyền đến thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung, bà H và các thành viên gia đình bà H không có quyền cản trở khi cần thiết bà H có quyền yêu cầu ông T tăng mức cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con.
  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, ông T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng sung vào Ngân sách nhà nước. Số tiền bà H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng do bà H đã nộp theo biên lai số 0004875 ngày 22 tháng 9 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Như vậy bà H đã nộp xong.
  4. Án xét xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm vụ án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mộng T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 136/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH TÂY NINH về ly hôn

  • Số bản án: 136/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Bé H "ly hôn" ông Trần Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger