Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2025/HS-ST

Ngày: 14-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Danh Hoàng Duyên

Bà Nguyễn Hồng Xứng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Minh Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa ánh nhân dân tỉnh A xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2025/TLST-HS ngày 17/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Võ Văn C (tên gọi khác: C1), sinh ngày 01/01/1984 tại An Giang. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 2, ấp V, xã B, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ văn hóa: 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Kim Q, sinh năm 1957 và bà Huỳnh Thị P (đã chết); Vợ là Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1988; Có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2023;

- Tiền án, tiền sự: Không

- Bị cáo Võ Văn C bỏ trốn, ngày 14/10/2025 Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A ban hành Quyết định truy nã số 388/QĐTN-ANĐT-Đ2 đối với bị can. Ngày 29/10/2025 bị cáo Võ Văn C ra đầu thú và bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh A.

2. Bùi Chí H, sinh ngày 01/01/1982 tại An Giang. Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ H, ấp V, xã B, tỉnh An Giang; ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn Q1 (đã chết) và bà Võ Thị D, sinh năm 1953; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1984; Có 01 con sinh năm 2014.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo Bùi Chí H bỏ trốn, ngày 14/10/2025 Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A ban hành Quyết định truy nã số 388/QĐTN-ANĐT-Đ2 đối với bị can. Ngày 29/10/2025 bị cáo Bùi Chí H ra đầu thú và bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh A.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Luật sư bào chữa theo yêu cầu cho các bị cáo Võ Văn C và Bùi Chí H: Luật sư Trương Hồng S – Cty luật T6 - Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Hoàng M, sinh năm 1979. (có mặt)

Địa chỉ: Lô C, đường số B, khu dân cư A, phường R, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng:

  1. Ông Hồ Văn Đ, sinh năm 1989
    Địa chỉ: Số B T, phường R, tỉnh An Giang.
  2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1997
    Địa chỉ: ấp H, xã K, tỉnh An Giang.
  3. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1995
    Địa chỉ: Tổ H, ấp V, xã B, tỉnh An Giang.
  4. Ông Chung Quốc T1, sinh năm 1986
    Địa chỉ: ấp V, xã B, tỉnh An Giang.
  5. Ông Trương Thành L1, sinh năm 1995
    Địa chỉ: ấp V, xã B, tỉnh An Giang.
  6. Ông Trần Cường V, sinh năm 1987
    Địa chỉ: ấp V, xã B, tỉnh An Giang.
  7. Ông Trần Ly T2, sinh năm 1978
    Địa chỉ: ấp S, xã A, tỉnh An Giang.
  8. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1993
    Địa chỉ: Hẻm G, Đ, phường R, tỉnh An Giang.
  9. Ông Trần Hậu P1, sinh năm 1988
    Địa chỉ: Tổ D, ấp V, xã B, tỉnh An Giang.
  10. Ông Nguyễn Đức T4, sinh năm 1990
    Địa chỉ: A N, phường R, tỉnh An Giang.
  11. Ông Võ Văn M1, sinh năm 1991
    Địa chỉ: ấp V, xã B, tỉnh An Giang.
  12. Ông Trần Thanh Vũ L2, sinh năm 1992
    Địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh An Giang.
  13. Ông Bùi Huỳnh K, sinh năm 1993
    Địa chỉ: ấp V, xã B, tỉnh An Giang.
  14. Ông Trần Hùng N1, sinh năm 1987
    Địa chỉ: ấp S, xã H, tỉnh An Giang.
  15. Ông Bùi Văn S1, sinh năm 2003
    Địa chỉ: A N, phường R, tỉnh An Giang.
  16. Ông Nguyễn Thiện T5, sinh năm 1994
    Địa chỉ: Tổ A, ấp X, xã T, tỉnh An Giang.
  17. Nguyễn Thị Cẩm D1, sinh năm 1991 (có mặt)
    Địa chỉ: Tổ A, ấp X, xã T, tỉnh An Giang.

(Bà Cẩm D1 có mặt, còn lại những người làm chứng khác vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02/2024, Trần Hoàng M là chủ tàu cá KG-90341-TS và KG-90359-TS đã thuê Võ Văn C và Bùi Chí H làm thuyền trưởng để khai thác hải sản. Theo thỏa thuận, C và H chịu trách nhiệm thuê thuyền viên và điều hành mọi hoạt động khai thác trên biển; Mảnh có trách nhiệm lo hậu cần cho C ứng tiền cho các thuyền viên. Ngày 28/02/2024, C điều khiển tàu KG-90341-TS (tàu cái) cùng 14 thuyền viên, còn Hồng điều khiển tàu KG-90359-TS (tàu đực) cùng 04 thuyền viên xuất bến tại Đồn Biên phòng T, tỉnh An Giang.

Sau khi xuất bến, C và Hồng điều khiển 02 tàu KG-90341-TS và KG-90359-TS đến vùng biển giáp ranh giữa Việt Nam và I để khai thác hải sản. Thấy việc khai thác thủy sản tại vùng biển chồng lấn sản lượng không cao, không đủ chi phí, C khai đã điện thoại đề nghị Mảnh cho 02 tàu chạy sang vùng biển Indonesia khai thác, thì M đồng ý và chỉ đạo Cang thay đổi số hiệu tàu từ KG-90341-TS thành số hiệu BV-4417-TS và từ KG-90359-TS thành số hiệu BV-1182-TS (nhưng qua điều tra Trần Hoàng M cho rằng, C và H tự ý cho tàu sang vùng biển nước ngoài để khai thác thủy sản, M hoàn toàn không biết và cũng không được thông báo việc đưa tàu ra nước ngoài khai thác hải sản), nên C lấy tấm xốp màu trắng (loại tấm cách nhiệt đậy nắm hầm cá) dùng kéo cắt bằng kích thước số hiệu tàu, dùng nước sơn màu đen sơn làm nền, dùng nước sơn màu trắng vẽ số hiệu BV 4417TS, rồi dùng đinh cố định lên số hiệu cũ KG-90341-TS, theo hướng dẫn của C, H thay đổi số hiệu tàu từ KG-90359-TS thành số hiệu BV 1182 TS. Từ ngày 25/4/2024 đến ngày 03/5/2024, C và H tắt thiết bị giám sát hành trình, tổ chức cho 18 thuyền viên (14 thuyền viên (tàu cái): Bùi Huỳnh K, Trần Thanh Vũ L2, Nguyễn Văn H1, Võ Văn M1, Nguyễn Đức T4, Trần Hậu P1, Nguyễn Văn T3, Trần Ly T2, Trần Cường V, Trương Thành L1, Chung Quốc T1, Phạm Văn T, Hồ Văn Đ, Cao Văn Ú và 04 thuyền viên (tàu đực): Nguyễn Thiện T5, Trần Hùng N1, Bùi Văn S1, Trần Hùng N2) xuất cảnh trái phép sang vùng biển Indonesia khai thác hải sản. Ngày 04/5/2024, khi tàu KG-90341-TS (BV-4417-TS) đang khai thác tại tọa độ 05°18.681' vĩ độ bắc - 105°41.627' kinh độ đông, tàu KG-90359-TS (BV-1182-TS) khai thác tại tọa độ 05°019.527' vĩ độ bắc - 105°41.987' kinh độ đông thì bị lực lượng chức năng Indonesia bắt và đưa về đảo B, I giam giữ.

Ngày 11/7/2024,Toà án Khu vực Tanjung Pinang tại Indonesia xét xử, tuyên phạt: Võ Văn C số tiền là 250.000.000 Rp; Bùi Chí H số tiền 200.000.000 Rp; Tịch thu tàu số hiệu BV-4417-TS (do C làm thuyền trưởng) và tàu số hiệu BV-1182-TS(do H làm thuyền trưởng) cùng 10 tấn cá các loại và các thiết bị điện tử, ngư lưới cụ, sổ đăng kiểm tàu cá... Do không có tiền nộp phạt, nên Võ Văn C, Bùi Chí H cùng 18 thuyền viên nêu trên chấp hành án phạt tù tại Indonesia.

Ngày 13/8/2024, Sở Ngoại vụ tỉnh K (nay là tỉnh An Giang) có Công văn số 852/SNgV-LS-NVNONN về việc xác minh nhân thân 20 thuyền viên và chủ tàu cá BV-4417-TS và BV-1182-TS bị lực lượng chức năng Indonesia bắt giữ. Ngày 17/9/2024 và ngày 03/12/2024, Phòng An ninh đối ngoại Công an tỉnh A tiếp nhận 18 công dân do lực lượng chức năng Indonesia trao trả.

Ngày 21/8/2025 Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A, Quyết định khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Võ Văn C, Bùi Chí H. Nhưng chưa bắt được bị can, hiện nay không biết bị can đang ở đâu Cơ quan An ninh điều tra đã ra Lệnh truy nã nhưng chưa bắt được bị can.

Trước khi bị khởi tố điều tra, H, C thừa nhận hành vi phạm tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép.

* Tài liệu, đồ vật thu giữ:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG, màu xanh đen, nhãn hiệu GALAXY A04, số kiểu máy SM-A045F/DS, IMEI1: 351890415550739, IMEI2: 353869185550739 đã qua sử dụng, kèm thèm 01 (một) thẻ nhớ “MICROHCLASS" dung lượng 32GB, đã qua sử dụng do ông Võ Văn C tự nguyện giao nộp.

* Tại bản kết luận giám định số: 245/KL-KTHS ngày 03/3/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh K, kết luận:

- Không xác định được số thuê bao (sim) trong điện thoại gửi đến giám định.

- Phục hồi và trích xuất 5.84GB dữ liệu (bao gồm: lịch sử cuộc gọi, hình ảnh, ghi âm, video và tin nhắn,...) trong điện thoại di động gửi đến giám định, chi tiết dữ liệu được chép trong 1 USB kèm theo.

- Ngày 07/7/2025, Ủy ban B thuộc Bộ N3 có Công văn số: 225/UBBG-PÐ, xác định: Toạ độ 05°18.681′ vĩ độ bắc - 105°41.627′ kinh độ đông và tọa độ 05°19.527’ vĩ độ bắc - 105°41.987' kinh độ đông nằm trong vùng biển I-đô-nê-xi-a, phía Nam đường phân định thềm lục địa Việt Nam - I-đô-nê-xi-a năm 2003 khoảng 47-48 hải lý.

- Ngày 04/7/2025, Bộ có Công văn số 2916/BTL-PL và số 2920/BTL-PL, xác định: Điểm có toạ độ 05°18.681′N, 105°41.627’E và 05°19.527′N, 105°41.987’E thuộc Vùng biển Indonesia.

* Xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Ngày 14/10/2025, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh A trả lại 01 điện thoại di động SAMSUNG, màu xanh đen, nhãn hiệu GALAXY A04, kèm thèm 01 thẻ nhớ “MICROHCLASS” màu đen dung lượng 32GB nêu trên, cho bà Nguyễn Thị Cẩm N, là vợ của bị can Võ Văn C.

Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSAG-P1, ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Võ Văn C và Bùi Chí H về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 348 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận:

Các bị cáo Võ Văn C, Bùi Chí H quá trình đưa tàu đi đánh bắt đã có hành vi tổ chức cho 18 ngư dân xuất cảnh trái phép ra vùng biển Indonesia để đánh bắt hải sản và bị bắt giữ, xét xử ở Indonesia vào tháng 5 năm 2024.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ khách quan trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Viện Kiểm sát có đủ cơ sở giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị tuyên bố các bị cáo Võ Văn C, Bùi Chí H phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 348 Bộ luật hình sự và áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:

- Bị cáo Võ Văn C mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;

- Bị cáo Bùi Chí H mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho các bị cáo:

Thống nhất về tội danh các bị cáo. Cần xem xét các bị cáo đều rất thành khẩn, ăn năn về hành vi của mình. Hoàn cảnh gia đình các bị cáo rất khó khăn, là lao động chính nuôi vợ, con. Đã phải chấp hành hình phạt ở nước ngoài trước khi được trả về nước. Trình độ nhận thức pháp luật các bị cáo còn hạn chế. Từ đó có thể xử các bị cáo mức án dưới khung hình phạt cũng đủ răn đe.

Ý kiến của người có liên quan:

Ông Trần Hoàng M là người giao 02 tàu cá cho Võ Văn C đi đánh bắt, C trả tiền thuê cho ông. Ông có dặn C chỉ đánh bắt ở vùng biển Việt Nam vì sợ mất tàu. Cang là người thuê thuyền viên, tài công đi đánh bắt. Việc C đưa tàu ra biển nước ngoài ông không biết gì, cho đến khi tàu bị bắt và bị tịch thu ở nước ngoài Cang mới gọi điện cho ông hay. Hoàn cảnh của C rất khó khăn nên ông phải gửi tiền qua chuộc C và các thuyền viên về. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và trình bày lời nói sau cùng:

Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, mong được giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo cho gia đình, con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Võ Văn C, Bùi Chí H khai nhận, để tăng sản lượng hải sản, các bị cáo đã tự ý thay đổi số hiệu gắn trên tàu, đưa các thuyền viên qua vùng biển Indonesia đánh bắt và bị bắt giữ. Ngày 11/7/2024, các bị cáo bị xét xử và chấp hành án ở Indonesia đến tháng 9/2024 thì được trả về nước.

[3] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo là phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và phần tranh tụng công khai tại phiên tòa. Công văn của Ủy ban B và Cảnh sát biển xác định tọa độ 05°18,681 vĩ bắc-105°41,127᾽ kinh độ đông và tọa độ 05°19,527᾽ vĩ độ bắc- 105°41,987᾽ kinh độ đông nằm trong vùng biển Inđônêxia. Với hành vi tổ chức cho 18 thuyền viên xuất cảnh để đưa tàu cá, ngư dân qua vùng biển nước ngoài khai thác thủy sản trái phép như trên của các bị cáo Võ Văn C, Bùi Chí H là đã phạm vào tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 348 Bộ luật hình sự nước C2 năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh theo pháp luật Việt Nam nói chung và trật tự, an toàn ranh giới, lãnh hải vùng biển nói riêng. Các bị cáo vì mục đích thu lợi, cố ý thực hiện hành vi trái pháp luật dẫn đến hậu quả bị bắt giữ và xét xử ở nước ngoài, làm ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh đất nước. Xét bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên việc truy tố và xét xử đối với các bị cáo là đúng quy định. Nhằm góp phần lập lại trật tự của hoạt động đánh bắt trên vùng biển, để tháo gỡ thẻ vàng cảnh báo về tình trạng khai thác hải sản trái phép của Ủy ban C đối với Việt Nam, thì cần thiết phải xử lý nghiêm hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án. Tuy nhiên cũng cần xem xét, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, từ đó quyết định cho các bị cáo một mức án tương xứng, có thời gian cách ly bị cáo để cải tạo, giáo dục cũng như nâng cao tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.

[7] Về quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát: Về tội danh; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về quan điểm của luật sư bào chữa cho các bị cáo: Đề nghị áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ là phù hợp. Về đề nghị xử phạt mức án dưới khung là không đủ điều kiện nên không được chấp nhận.

[9] Những vấn đề khác của vụ án: Ông Trần Hoàng M do chứng minh được là không biết các bị cáo tổ chức đưa ngư dân qua đánh bắt trái phép ở vùng biển nước ngoài, nên không bị truy cứu trách nhiệm là phù hợp. Các tàu cá và các thiết bị điện tử trên tàu đã bị I tịch thu, cơ quan điều tra không trích xuất được dữ liệu, không giám định được nên không đề nghị xử lý các hành vi khác có liên quan trong vụ án là phù hợp. Đối với 18 thuyền viên trên tàu đều là ngư dân được Võ Văn C, Bùi Chí H thuê đi đánh bắt và được tổ chức đưa ra nước ngoài trái phép. Quá trình điều tra đã xác định, những người này đều không được bàn bạc, không biết là tàu đang đánh bắt ở vị trí nào. Các như dân chỉ thực hiện công việc đánh bắt, không tiếp xúc với thiết bị định vị, nên cũng không thể biết được tàu đã rời khỏi vùng biển trong nước. Từ đó, các ngư dân đều không bị xử lý và không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan trong vụ án là phù hợp.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 348; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố các bị cáo Võ Văn C, Bùi Chí H phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”;

Xử phạt bị cáo Võ Văn C 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 29 tháng 10 năm 2025;

Xử phạt bị cáo Bùi Chí H 07 (bảy) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 29 tháng 10 năm 2025.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Võ Văn C, Bùi Chí H mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/11/2025).

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - Viện CT&KSPT tại tp. HCM (1);
  • - TAND tối cao tại tp . HCM (1);
  • - VKSND tỉnh AG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh AG (1);
  • - THA tỉnh AG (1)
  • - Cơ quan điều tra tỉnh AG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh AG (1);
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh AG;
  • - Bị cáo (1);
  • - Người liên quan (1);
  • - Tô hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Diệu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm (tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép)

  • Số bản án: 135/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn C - tổ chức cho người khác xuất cảnh TP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger