TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2025/DS-ST Ngày: 03/11/2025 V/v “ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Sơ.
- Bà Trần Thị An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 23/7/2025 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số B, ấp R, phường T, tỉnh An Giang. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số B, ấp R, phường T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Đ trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh H kết hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (nay là Phường T, tỉnh An Giang) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 11, ngày 22/02/2021. Quá trình chung sống lúc đầu có hạnh phúc, sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông H ham mê chơi game, bỏ bê việc làm không phụ giúp gia đình, nhiều lần bà khuyên nhủ thì ông H bạo hành đối với bà, ông bà không còn chung sống đã hơn 06 tháng, hiện mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không giải quyết được. Nay bà xét thấy không thể hàn gắn để đoàn tụ về chung sống với nhau và nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
Về con chung: Bà Đ trình bày trong thời gian chung sống với ông H không có con chung.
Tài sản chung và nợ chung: Bà Đ trình bày ông bà không có tài sản chung và không có nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - An Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án của thẩm phán, hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - An Giang: Về quan hệ hôn nhân, áp dụng Điều 19, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận cho bà Đ ly hôn với ông H. Về con chung bà Đ trình bày không có. Về tài sản chung và nợ chung do bà Đ trình bày không có nên không yêu cầu xem xét. Buộc bà Đ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Nguyễn Thanh H cư trú tại ấp R, phường T, tỉnh An Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - An Giang.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Thanh H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng ông H vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Thanh Đ và ông Nguyễn Thanh H kết hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (nay là phường T, tỉnh An Giang) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 11, ngày 22/02/2021. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình thụ lý giải quyết bà Đ vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện là ly hôn với ông H. Bị đơn ông Nguyễn Thanh H đã được Tòa án thông báo thụ lý, triệu tập hòa giải nhiều lần, đã được tống đạt đầy đủ, hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông H không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt các phiên hòa giải, do đó Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Theo bà Đ mâu thuẫn chủ yếu do ông H ham mê chơi game, bỏ bê việc làm không phụ giúp gia đình, nhiều lần bà khuyên nhủ thì ông H bạo hành đối với bà, ông bà không còn chung sống đã hơn 06 tháng. Qua xác minh của Tòa án tại ấp R, phường T, tỉnh An Giang cho thấy bà Đ, ông H có đăng ký thường trú tại địa phương, ông bà kết hôn vào năm 2021 có sinh sống tại địa phương một thời gian, hiện nay bà Đ không còn sinh sống tại địa phương, ông H vẫn còn sinh sống tại địa phương nhưng đi làm ăn xa, lâu lâu mới trở về địa phương. Qua trình bày của nguyên đơn và kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương cho thấy bà Đ, ông H không còn chung sống một thời gian và hiện nay không có biện pháp khắc phục để chung sống mang lại hạnh phúc lâu dài. Vợ chồng không còn yêu thương chăm sóc nhau, không ai quan tâm ai, mỗi người có cuộc sống riêng là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng. Hôn nhân của bà Đ, ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Đ được ly hôn với ông H là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Bà Đ trình bày trong thời gian chung sống với ông H không có con chung nên không yêu cầu giải quyết về con chung.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ trình bày không có tài sản chung và nợ chung, ông H không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà Đ khởi kiện nên phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thanh Đ được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
- Về con chung: Bà Đ trình bày không có nên không phải giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ trình bày không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh Đ phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí số 0018313 ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án Dân sự thành tỉnh An Giang, nay bà Đ không phải nộp thêm.
Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Phương |
Bản án số 132/2025/DS-ST ngày 03/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 132/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Đào - Hùng
