Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 131/2025/DS-ST

Ngày: 30/9/2025

V/v “Tranh chấp chia di sản thừa kế

và yêu cầu hủy giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm;

Bà Dương Thị Kim Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nam Phương - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà:

Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 và 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 140/2023/DS-ST ngày 22/12/2023, về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2025/QĐXXST-DS ngày 29/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 126/2025/QÐST-DS ngày 14/9/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Cụ Đặng Thị C, sinh năm 1937; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng). Có mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của cụ C: Anh Nguyễn Sỹ A, sinh năm 1993; chị Vương Thị Lan A1, sinh năm 1992; anh Tạ Ngọc Anh T, sinh năm 2001, chị Đào Thị Thanh T1, sinh năm 1998 và anh Nguyễn Văn D, sinh 1983; đều có địa chỉ: Số E T, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là số E T, phường H, thành phố Hải Phòng). Anh Sỹ A, anh D có mặt.

  3. Bị đơn:
    1. Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1988, (chết ngày 09/8/2024); Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng).
    2. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của anh Nguyễn Hữu V:

      - Bà Bùi Thị L, sinh năm 1964; nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng); nơi ở hiện nay: Số A, tổ A, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh). Vắng mặt.

      - Cháu Nguyễn Hữu Duy A2, sinh ngày 26/8/2015; địa chỉ: Thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng. Người đại diện hợp pháp của cháu Duy A2: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

    3. Anh Nguyễn Hữu V1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng). Vắng mặt.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng). Có mặt.
    2. Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Anh Nguyễn Sỹ A, sinh năm 1993; chị Vương Thị Lan A1, sinh năm 1992; anh Tạ Ngọc Anh T, sinh năm 2001, chị Đào Thị Thanh T1, sinh năm 1998 và anh Cao Trung K, sinh năm 1990; đều có địa chỉ: Số E T, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là số E T, phường H, thành phố Hải Phòng). Anh Sỹ A, anh K có mặt.

    3. Anh Nguyễn Hữu V2, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là thôn P, xã A, thành phố Hải Phòng). Có mặt.
    4. Chị Nguyễn Thị V3, sinh năm 2000; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng); địa chỉ hiện nay: Nhật Bản. Vắng mặt.
    5. Anh Phạm Huy H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng). Vắng mặt.
    6. Bà Bùi Thị L, sinh năm 1964; nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng); nơi ở hiện nay: Số A, tổ A, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh). Vắng mặt.
    7. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương.
    8. Địa chỉ trụ sở: Thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương.

      Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện N là Chủ tịch UBND xã A, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Xã A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

    9. Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Hải Phòng.
    10. Địa chỉ trụ sở: Xã A, thành phố Hải Phòng.

      Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND xã A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

  5. 4. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà cụ Đặng Thị C, người đại diện theo ủy quyền của cụ C thống nhất trình bày:

Cụ kết hôn với cụ Nguyễn Hữu T2 vào năm 1960, hai cụ có 03 người con chung là bà Nguyễn Thị N; ông Nguyễn Hữu N1; bà Nguyễn Thị N2. Cụ Thể chết ngày 12/3/1993, ông N1 chết ngày 20/3/2004, ông N1 có vợ là bà Bùi Thị L và có 02 người con là anh Nguyễn Hữu V (đã chết ngày 09/8/2024, có vợ là chị Nguyễn Thị M nhưng đã ly hôn và có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Duy A2) và anh Nguyễn Hữu V1. Ông N1 còn chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị C1 và có 02 người con chung là anh Nguyễn Hữu V2 và chị Nguyễn Thị V3; Bà N2 chết ngày 08/11/2021, có chồng là ông Phạm Hồng H1 nhưng đã ly hôn vào năm 1991 và có 01 người con là anh Phạm Huy H. Ngoài ra, cụ C và cụ Thể không có con riêng, con nuôi nào khác, bố mẹ các cụ đều chết trước các cụ, cụ Thể chết không để lại di chúc.

Trong thời kỳ hôn nhân, cụ C và cụ Thể đã tạo lập được khối tài sản chung thể hiện theo hồ sơ địa chính 299 là thửa đất số 898, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.113m², loại đất T và thửa đất số 899, tờ bản đồ số 10, diện tích 354m², loại đất A tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng). Ngoài ra, cụ C có tiêu chuẩn ruộng 03 ở ngoài đồng là 354m², cụ Thể đi bộ đội sau đó làm công nhân nên không được tiêu chuẩn ruộng 03. Do diện tích đất vườn rộng nên khi chia ruộng nhà nước trừ đất 03 ngoài đồng vào vườn, cụ C xác định bị trừ vào thửa 899. Quá trình sử dụng đất, năm 1981 vợ chồng cụ đã xây dựng 01 ngôi nhà mái ngói 04 gian và các công trình phụ gồm bếp, nhà tắm... Hiện nay, tài sản gắn liền với đất của các cụ chỉ còn lại ngôi nhà mái ngói 04 gian, toàn bộ công trình phụ các cụ xây dựng mẹ con bà L đã phá dỡ để xây nhà mái bằng một tầng và tường bao.

Theo hồ sơ địa chính năm 1993, thửa đất của vợ chồng cụ được thể hiện là thửa đất số 794, tờ bản đồ 05, loại đất T, diện tích 1.000m² và thửa đất 793, tờ bản đồ số 05, diện tích 485m², đều ghi tên chủ sử dụng là “Ng Thị C2” (tức là cụ Đặng Thị C).

Năm 1998, theo bản đồ dã ngoại tại địa phương thể hiện cụ Đặng Thị C là chủ sử dụng của 02 thửa đất nêu trên.

Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là GCNQSDĐ) vào năm 2002 thì thửa đất của hai cụ được tách thành các thửa đất gồm: Thửa đất số 794, tờ bản đồ số 5, diện tích 400m² (trong đó 300m² đất ở; 100m² đất cây lâu năm) và thửa đất số 793, tờ bản đồ số 5, diện tích 485m² (đất mặt nước nông nghiệp), cùng ghi tên chủ sử dụng là Nguyễn Thị N2; thửa đất số 911, tờ bản đồ 05, diện tích 300m², loại đất ở, ghi tên chủ sử dụng là Nguyễn Hữu V1; thửa đất số 912, tờ bản đồ 05, diện tích 300m², loại đất ở, ghi tên chủ sử dụng là Nguyễn Hữu N1.

Nay cụ C xác định tài sản chung của cụ và cụ Thể là 1000m² đất ở tại các thửa 793, 911, 912 và 04 gian nhà mái ngói cấp 4. Còn diện tích 485m² đất ao tại thửa 793 là tài sản riêng của cụ (do bị trừ tiêu chuẩn ruộng 03 ở ngoài đồng). Quá trình sử dụng đất, cụ và cụ Thể không làm thủ tục tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N2, ông N1, anh V1; sau khi cụ Thể chết, cụ C và các con cũng chưa bao giờ họp bàn để phân chia di sản thừa kế của cụ Thể để lại. Khi Nhà nước lập danh sách cấp GCNQSDĐ thì các con cháu cụ tự đứng ra kê khai đề nghị và đã được cấp GCNQSDĐ như trên. Do quyền và lợi ích pháp của cụ C bị xâm phạm nên cụ đề nghị Tòa án giải quyết: Hủy 02 GCNQSDĐ do UBND huyện N cấp mang tên anh Nguyễn Hữu V1 đối với thửa đất số 911 và cấp mang tên ông Nguyễn Hữu N1 đối với thửa đất số 912; Công nhận cụ Chủ được quyền sử dụng riêng đối với thửa đất số 793, tờ bản đồ số 5; xác định ½ quyền sử dụng thửa đất 794, 911, 912, cùng tờ bản đồ số 5 và ½ giá trị ngôi nhà cấp 4 trên đất là của cụ C; chia di sản thừa kế cụ của Thể là ½ quyền sử dụng thửa đất 794, 911, 912 đều tờ bản đồ số 5 cùng ½ giá trị ngôi nhà cấp 4 trên đất theo quy định của pháp luật. Cụ xin nhận bằng hiện vật và đề nghị chia cho cụ phần diện tích đất tại vị trí mà UBND huyện N đã cấp GCNQSDĐ cho anh V1. Đối với GCNQSDĐ mang tên bà N2, cụ không yêu cầu hủy vì phần tài sản này sau này bà sẽ cho bà N2 và anh H.

* Bị đơn anh Nguyễn Hữu V trình bày: Anh là con trai của ông Nguyễn Hữu N1 và bà Bùi Thị L. Về thời điểm cụ Thể, ông N1, bà N2 chết và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể, ông N1, bà N2 như cụ C trình bày là đúng, các cụ của anh đều chết trước ông nội anh. Nguồn gốc toàn bộ thửa đất đang tranh chấp là của ông cha để lại cho cụ C, cụ Thể. Khi còn sống, cụ C và cụ Thể có xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 hiện nay vẫn còn trên đất, ngoài ra không còn tài sản nào khác. Sau khi cụ Thể chết vào năm 1993, cụ C, bà N2, ông N1 đứng ra kê khai cấp GCNQSDĐ. Thửa đất ở 1000m² được tách thành 03 thửa gồm 02 thửa đất ở diện tích tích mỗi thửa 300m² đứng tên lần lượt ông Nguyễn Hữu N1 (bố anh) và anh Nguyễn Hữu V1 (em trai anh); còn thửa đất ở diện tích 400m² và thửa đất ao diện tích 485m² đứng tên bà Nguyễn Thị N2 (cô ruột anh).

Sau khi bà N2 chết, anh Phạm Huy H (là con đẻ của bà N2) quản lý, sử dụng các thửa đất đứng tên bà N2 cho đến nay, gia đình bà N2 đã xây dựng nhà ở để mẹ con bà N2 sinh sống. Đối với thửa đất đứng tên bố anh, sau khi bố anh chết được một thời gian, anh về xây nhà vào năm 2023 và ở trên thửa đất đó. Đối với thửa đất đứng tên anh Nguyễn Hữu V1, từ trước đến nay cụ C là quản lý, sử dụng, trên đất vẫn còn ngôi nhà cấp 4 do các cụ xây dựng.

Anh V không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của cụ C, trường hợp có căn cứ xác định để chia di sản thừa kế của cụ Thể thì anh đề nghị anh là hàng thừa kế thứ nhất của ông N1, anh đề nghị hưởng được 01 suất thừa kế trong suất thừa kế của ông N1 từ di sản thừa kế của cụ Thể, anh đề nghị được hưởng bằng hiện vật và được chia phần đất mà anh đã xây nhà. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 09/8/2024 anh V chết, không để lại di chúc.

* Bị đơn anh Nguyễn Hữu V1 trình bày:

Anh là con trai của ông Nguyễn Hữu N1 và bà Bùi Thị L, ông N1 là con của cụ Đặng Thị C và cụ Nguyễn Hữu T2. Ông N1 đã chết năm 2004, trong thời gian chung sống bố mẹ anh sinh được 02 người con là anh và anh Nguyễn Hữu V (đã chết vào ngày 09/8/2024). Nguồn gốc đất đang tranh chấp là của cha ông để lại cho cụ Thể và cụ C. Sau này, diện tích đất này đã được chia thành nhiều thửa đất cho các con cháu của hai cụ. Thời gian anh V còn sống, mẹ anh là bà L đã xây dựng ngôi nhà một tầng mái thái trên phần diện tích đứng tên ông Nguyễn Hữu N1, nguồn tiền để xây dựng ngôi nhà thì anh không nắm được, anh xác định không đóng góp công sức vào việc xây dựng ngôi nhà này. Phần diện tích đất ở đang đứng tên anh trên GCNQSDĐ, cụ C đang là người quản lý, sử dụng, trên phần diện tích đất này có ngôi nhà cấp 4 do cụ C và cụ Thể xây dựng. Phần diện tích đất còn lại bao gồm một phần diện tích đất ở và phần diện tích đất ao do anh Phạm Huy H (là con của bà N2) đang quản lý, sử dụng. Anh không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của cụ C.

* Chị Nguyễn Thị M là người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hữu Duy A2 - Người kế thừa quyền nghĩa vụ của anh Nguyễn Hữu V1 trình bày:

Chị là mẹ đẻ của cháu Nguyễn Hữu Duy A2, chị và anh Nguyễn Hữu V1 từng là vợ chồng, nay đã ly hôn. Anh V1 và chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Duy A2. Chị xác định trong thời kỳ hôn nhân chị và anh Nguyễn Hữu V1 không tạo lập được bất kỳ tài sản chung nào. Ngôi nhà mái bằng một tầng xây dựng vào năm 2023 nằm trên thửa đất số 912, tờ bản đồ số 5 đứng tên ông Nguyễn Hữu N1 chị không có đóng góp công sức, tiền của để xây dựng ngôi nhà đó. Hiện nay anh Nguyễn Hữu V đã chết vào năm 2024, trường hợp có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ C về chia di sản thừa kế của cụ Thể, đối với suất thừa kế anh V được hưởng từ ông N1, cháu Duy A2 xin nhận bằng hiện vật. Nếu diện tích đất được chia không đủ điều kiện để cấp GCNQSĐ thì cháu Duy A2 đề nghị được nhận bằng tiền.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Thị L (đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của anh Nguyễn Hữu V) trình bày: Về thời điểm cụ Thể, ông N1, bà N2 chết và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể, ông N1, bà N2 như cụ C và anh V trình bày là đúng. Bà là vợ hợp pháp của ông N1, ông N1 và bà có 02 con chung là anh Nguyễn Hữu V và Nguyễn Hữu V1, ngoài ra ông N1 có 02 người con riêng với bà Nguyễn Thị C1 là anh Nguyễn Hữu V2 và chị Nguyễn Thị V3. Ông N1 và bà C1 chưa đăng ký kết hôn mà chỉ chung sống với nhau như vợ chồng. Cụ C và cụ Thể khi còn sống có khối tài sản chung là toàn bộ diện tích đất ở và đất ao hiện nay đã tách cho ông Nguyễn Hữu N1, bà Nguyễn Thị N2, anh Nguyễn Hữu V1 và 01 ngôi nhà mái ngói cấp 4, ngoài ra hiện tại không còn tài sản nào khác. Nguồn gốc đất là do cha ông để lại cho cụ C và cụ Thể.

Năm 1990, hộ gia đình bà có 03 tiêu chuẩn được chia ruộng gồm cụ C và vợ chồng bà, mỗi người được chia 72m². Do đất vườn rộng nên 03 khẩu được chia ruộng này được chuyển vào trong vườn gần nhà. Năm 1993, cụ Thể chết không để lại di chúc, cụ Thể có nói miệng là cho bà N2 200m² đất ở, diện tích đất còn lại sẽ cho vợ chồng bà. Sau khi cụ Thể chết, bà N đi lấy chồng, bà N2 ly hôn chồng đã về ở cùng với cụ C và gia đình bà. Năm 2002, cụ C tự đứng ra tách đất cho ông N1 300m² đất ở, bà N2 400m² đất ở và 485m² đất ao, anh V1 300m² đất ở. Sau đó, bà N2, ông N1 và anh V1 đều đã được cấp GCNQSDĐ và thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước hàng năm từ đó cho đến nay. Việc cụ C tách đất không bàn bạc, thống nhất trong gia đình mà tự ra kê khai với chính quyền địa phương. Sau khi tách đất, bà N2 và con trai bà N2 đã quản lý sử dụng phần đất được tách, phần đất đứng tên ông N1 thì anh Nguyễn Hữu V đứng ra xây dựng, quản lý để làm nhà thờ cúng các cụ và ông N1, còn diện tích đất đứng tên anh V1 thì cụ C vẫn tiếp tục là người quản lý, sử dụng, trên đất vẫn còn ngôi nhà cấp 4 cũ các cụ xây dựng. Do bà và ông N1 có mâu thuẫn trong quá trình chung sống nên một thời gian bà chuyển đi nơi khác sống, năm 2004 sau khi ông N1 chết bà vẫn thường xuyên đi lại về nhà để lo chuyện gia đình. Năm 2023, anh V xây nhà trên phần đất đứng tên ông N1, bà có hỗ trợ anh V một phần tiền để hoàn thiện ngôi nhà, bà xác định việc xây dựng ngôi nhà là hoàn toàn từ công sức của anh V, bà không có quyền lợi gì từ ngôi nhà đó. Ngày 09/8/2024, anh V chết, bà và anh V1 là người quản lý sử dụng ngôi nhà do anh V xây dựng.

Quan điểm của bà không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện vì bà cho rằng cụ C tự ý đi kê khai tách đất cho các con và cháu. Trong gia đình chưa bao giờ lập văn bản thỏa thuận gì về việc phân chia di sản thừa kế. Trường hợp có căn cứ chấp nhận yêu cầu của cụ C về chia di sản thừa kế của cụ Thể, phần di sản mà bà được hưởng từ ông N1 và anh V, bà tự nguyện tặng cho anh V1.

2. Bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của cụ Đặng Thị C về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hữu T2 để lại theo pháp luật và hủy 02 GCNQSDĐ đã cấp cho ông Nguyễn Hữu N1 và anh Nguyễn Hữu V1, kỷ phần thừa kế được hưởng, bà xin nhận bằng hiện vật và tự nguyện tặng cho lại cụ C.

3. Anh Phạm Huy H trình bày: Về thời điểm cụ Thể, ông N1, bà N2 chết và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể, ông N1, bà N2 như cụ C và anh V trình bày là đúng, khi còn sống, cụ C, cụ Thể đều sinh sống trên thửa đất đang tranh chấp. Nguồn gốc diện tích đất này là của các cụ để lại, diện tích đất có 1.000m² đất thổ cư, ngoài ra có 485m² đất ao, anh được nghe cụ C bảo rằng được đổi từ đất ruộng ngoài đồng vào. Năm 1993 khi cụ Thể chết không để lại di chúc đến năm 2002 cụ C đã tách đất cho các con và cháu cụ thể cho ông N1 300m² đất ở, bà N2 400m² đất ở và 485m² đất ao, anh V1 300m² đất ở. Sau khi được cấp GCNQSDĐ, đến năm 2013 mẹ anh là bà N2 đã xây dựng căn nhà cấp 4 một tầng mái bằng như hiện trạng, anh nhất trí với yêu cầu khởi kiện của cụ C. Đối với phần tài sản mà cụ C đã tách cho mẹ anh, cụ C xác định đây là tài sản của cụ C, anh không có ý kiến gì. Trường hợp có căn cứ chấp nhận yêu cầu của cụ C đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Thể, kỷ phần thừa kế được hưởng cụ C có quan điểm tặng cho anh và mẹ anh, anh đồng ý nhận. Đối với suất thừa kế bà N2 được hưởng từ cụ Thể, anh xin nhận bằng hiện vật.

4. Anh Nguyễn Hữu V2 trình bày: Anh là cháu nội của cụ Đặng Thị C; là con của ông Nguyễn Hữu N1 và bà Nguyễn Thị C1. Anh Nguyễn Hữu V và anh Nguyễn Hữu V1 là các anh cùng cha khác mẹ với anh. Ông N1 và mẹ anh (bà Nguyễn Thị C1) không thực hiện việc đăng ký kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng và có 02 người con là anh và chị Nguyễn Thị V3, sinh năm 2000, hiện nay đang ở Nhật Bản. Ngoài ra bố mẹ anh không còn con chung, con riêng nào khác. Về thời điểm cụ Thể, ông N1, bà N2 chết và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể, ông N1, bà N2 như cụ C và anh V trình bày là đúng. Cụ Thể chết năm 1993, anh không nghe thấy ai nói là cụ Thể có để lại di chúc. Bà C1 có nói chuyện với anh về việc sau khi cụ Thể chết, cụ C và các con đứng ra kê khai và được cấp GCNQSDĐ chứ không có việc phân chia di sản và không lập văn bản phân chia di sản thừa kế. Cụ Thể sau khi chia tách đất cho các con thì thửa đất đang tranh chấp được chia ông N1 300m² đất ở, bà N2 400m² đất ở và 485m² đất ao, anh V1 300m² đất ở và đều đã được cấp GCNQSDĐ. Sau khi tách đất, cụ C ở trên thửa đất có ngôi nhà mái ngói 04 gian cho đến thời điểm hiện nay. Bà N2 đã xây dựng nhà mái bằng trên phần diện tích đất bà N2 được cấp GCNQSDĐ và sinh sống cùng con trai trên đó, sau khi bà N2 chết, anh H (con trai bà N2) không xây dựng công trình gì thêm. Ngôi nhà mái ngói 04 gian mà cụ C ở thì đến năm 2023, anh V đã phá đi một gian và công trình phụ về phía đất mà ông N1 được cấp GCNQSDĐ, xây dựng ngôi nhà mái bằng 01 tầng kiên cố và anh V là người sử dụng phần diện tích đất đã cấp GCNQSDĐ cho ông N1 từ đó cho đến nay. Nay cụ C làm đơn chia di sản thừa kế đối với di sản của cụ Thể để lại quan điểm của anh là nhất trí. Bố anh là ông N1 được hưởng một suất trong phần di sản của cụ Thể để lại, hiện nay bố anh đã chết anh và em gái anh mỗi người được hưởng 01 phần từ suất thừa kế mà bố anh được hưởng từ di sản thừa kế mà cụ Thể lại. Anh đã thông báo cho em gái anh là chị V3 được biết về toàn bộ nội dung vụ án. Quan điểm của anh đề nghị được hưởng bằng hiện vật, trường hợp không đủ điều kiện được hưởng bằng hiện vật anh đề nghị được hưởng bằng tiền.

* Người làm chứng, bà Nguyễn Thị C1 trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hữu N1 chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, ông bà có 02 người con chung là anh Nguyễn Hữu V2 và chị Nguyễn Thị V3. Hiện nay anh V2 đang sinh sống cùng bà, còn chị V3 đang sinh sống làm việc tại Nhật Bản, địa chỉ thì gia đình không nắm được, tuy nhiên cháu V3 vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Bà và anh V2 đã thông báo cho chị V3 được biết về việc cụ C làm đơn đề nghị chia di sản thừa kế đối với phần di sản mà cụ Thể để lại. Quan điểm của chị V3 xác định chị là con gái ruột của ông Nguyễn Hữu N1, hiện nay ông N1 đã chết chị được 01 phần từ suất thừa kế mà bố chị được hưởng từ di sản thừa kế mà cụ Thể lại. Quan điểm của chị đề nghị được hưởng bằng hiện vật, trường hợp không đủ điều kiện được hưởng bằng hiện vật chị đề nghị được hưởng bằng tiền.

* UBND huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là UBND xã A, thành phố Hải Phòng) trình bày:

Về hồ sơ địa chính: Hồ sơ bản đồ lập theo Chỉ thị 299 của Chính phủ: Tại thửa đất số 898, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.113,0m², loại đất “T” và thửa đất số 899, tờ bản đồ số 10, diện tích 354,0m², loại đất “A”. UBND xã C không còn lưu trữ được số mục kê.

Hồ sơ bản đồ đo đạc năm 1993: Tại thửa đất số 794, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.000,0m², loại đất “T”; số mục kê thể hiện chủ sử dụng đất là “Ng Thị C2” và thửa đất số 793, tờ bản đồ số 05, diện tích 485,0m², loại đất "A"; số mục kê thể hiện chủ sử dụng đất là “Ng Thị C2”.

Bản đồ hiện trạng lập năm 2010: Tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 29, diện tích 4.010,0m², loại đất “ONT”; sổ mục kê thể hiện chủ sử dụng đất là “Hộ ông Viễn T3+Luân+Đ+Chủ”,

Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ: Tại Danh sách các hộ gia đình xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm theo Công văn số 24 ngày 25/5/2002 của UBND xã C, xác định:

Tại số thứ tự số 1240, bà Nguyễn Thị N2 xin cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 794, tờ bản đồ số 05, diện tích 400,0m², loại đất “đất ở 300m², đất vườn 100m²” và thửa đất số 793, tờ bản đồ số 05, diện tích 485,0m², loại đất "A".

Tại số thứ tự số 1288, anh Nguyễn Hữu V1 xin cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 911, tờ bản đồ số 05, diện tích 300,0m², loại đất “đất ở”.

Tại số thứ tự số 1289, ông Nguyễn Hữu N1 xin cấp GCN quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 912, tờ bản đồ số 05, diện tích 300,0m², loại đất “đất ở”.

Theo như hồ sơ đo đạc lập bản đồ năm 1993, tại tờ bản đồ số 05 được lập với tổng số 899 thửa đất. Như vậy, anh Nguyễn Hữu V1 được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 911, tờ bản đồ số 05, diện tích 300,0m² và ông Nguyễn Hữu N1 được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 912, tờ bản đồ số 05, diện tích 300,0m² được tách ra từ thửa đất số 794, diện tích 1.000,0m² (bà Nguyễn Thị N2 diện tích 400,0m², anh Nguyễn Hữu V1 diện tích 300,0m² và ông Nguyễn Hữu N1 diện tích 300m²).

Về nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Hữu T2 và bà Đặng Thị C, quá trình sử dụng đất ông T2, bà C đã cho con gái là bà Nguyễn Thị N2, con trai là Nguyễn Hữu N1 và cháu là Nguyễn Hữu V1. Đến nay, UBND xã không còn lưu trữ được Quyết định về việc cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân và hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ, như: Đơn xin cấp GCNQSDĐ; Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất; Thông báo về việc hộ gia đình tự kiểm tra thửa đất đang sử dụng để lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ và không có tài liệu, văn bản thân thể hiện ông T2, bà C đã tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai là ông Nguy Hữu N3, con gái là bà Nguyễn Thị N2 và cháu là anh Nguyễn Hữu V1. Đề nghị Tòa án căn cứ vào hồ sơ, tài liệu giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

* Kết quả xác minh tại UBND xã C (nay là UBND xã A):

Theo hồ sơ 299 đất của cụ Thể và cụ C thể hiện các tài liệu còn lưu trữ tại UBND xã chỉ còn tờ bản đồ 299 được đo vẽ và hoàn thiện năm 1984 thể hiện thửa đất số 898, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.113,0m² loại đất “T” và thửa đất số 899, tờ bản đồ số 10, diện tích 354,0m², loại đất “A”, thực tế thời gian này các thửa đất trên do cụ Thể và cụ C là người quản lý, sử dụng.

Theo hồ sơ đo vẽ năm 1993 thể hiện tài liệu ở UBND xã có tài liệu gồm sổ mục kê và tờ bản đồ số 05 được đo vẽ năm 1996 và được phê duyệt vào năm 2000 thể hiện tại thửa đất số 793, diện tích 485,0m², loại đất “Ao”, tại thửa đất số 794, diện tích 1.000,0m² loại đất “T”. Sổ mục kê thể hiện hai thửa đất trên đăng ký tên bà “Ng. Thị Chủ” tức bà Đặng Thị C.

Ngày 26/6/2002, các thửa đất nêu trên đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho:

Bà Nguyễn Thị N2 đối thửa đất số 793, tờ bản đồ số 5, diện tích 485,0m², loại đất “Ao” và thửa đất số 794, tờ bản đồ số 5, diện tích 400,0m², loại đất “T”, trong đó đất ở tại nông thôn là 300,0m², đất trồng cây lâu năm là 100,0m².

Anh Nguyễn Hữu V1 đối thửa đất số 911, tờ bản đồ số 5, diện tích 300,0m² là đất ở tại nông thôn (được tách ra từ một phần thửa đất số 794, tờ bản đồ 05).

Ông Nguyễn Hữu N1 Tại thửa đất số 912, tờ bản đồ số 5, diện tích 300,0m² là đất ở tại nông thôn (được tách ra từ một phần thửa đất số 794, tờ bản đồ 05).

Hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho các hộ trên không còn lưu trữ tại UBND xã mà được thể hiện tại Danh sách các hộ gia đình xin cấp GCNQSDĐ ở đợt 1. Diện tích đất các thời kỳ có sự biến động là do sai số, tính toán qua các thời kỳ sử dụng đất.

Hồ sơ đo vẽ năm 2012 thể hiện: Tại tờ bản đồ số 29, thửa đất số 17, chủ sử dụng: hộ ông V4 + T3 + L1 + Đình + Chủ, chủ sử dụng đất là GDC (chủ sử dụng đất hộ gia đình, cá nhân), diện tích 4.010,0m², loại đất ONT (đất ở nông thôn). Tờ bản đồ số 29 thể hiện tại thửa đất số 17, diện tích 4.010,0m² (trong đó có 354,0m² là đất ao).

Thời điểm này, do có việc tranh chấp giữa các hộ liền kề nên đơn vị đo đạc không xác định được ranh, mốc giới chính xác của các thửa đất nên có thể hiện chung tên chủ sử dụng đất và diện tích, việc đứng tên là do chủ sử dụng đất kê khai.

Ngoài ra, các ông bà trưởng thôn An Điền X từ năm 1996 cho đến nay cùng xác định thời điểm giao đất 03 cho các hộ gia đình tại địa phương vào năm 1993, các tài liệu sổ sách từ năm 1993 đến năm 2015 không còn lưu trữ. Đối với sổ sách dồn ô đổi thửa tại địa phương vào năm 2015-2016 không thể hiện gia đình nhà cụ Đặng Thị C, anh Nguyễn Hữu V, anh Nguyễn Hữu V1 bị trừ diện tích đất 03 ở ngoài đồng vào vườn. Qua thời kỳ trưởng thôn trước không nhận được bàn giao sổ sách nào khác của thôn. Các trưởng thôn khác hiện nay đã chết hoặc không còn tham gia công tác tại địa phương. Các tài liệu sổ sách từ năm 1993 đến năm 2015 về phương án chia đất 03 đối với các hộ gia đình tại địa phương không còn lưu trữ.

Diện tích hiện trạng thửa đất đang tranh chấp là 1456m² có giảm đi so với diện tích đất thể hiện trong hồ sơ địa chính năm 1993 được lưu trữ tại địa phương là 1485m². Việc sai số này là do đo đạc, địa phương đề nghị xác định diện tích đất theo diện tích hiện trạng hiện nay là 1456m². Ngoài ra, đối với diện tích đất dôi dư 101,2m² là đất ao thuộc quyền quản lý của UBND xã A, nằm liền kề với phần đất đang tranh chấp, khi nào địa phương có nhu cầu sử dụng đề nghị người dân tháo dỡ, di dời các công trình trên diện tích đất này trả lại cho chính quyền địa phương.

* Kết quả xác minh tại Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng): Trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến ngày 20/3/1994, không có hồ sơ thể hiện việc giải quyết ly hôn giữa ông Nguyễn Hữu N1 và bà Bùi Thị L. Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Hữu V đã giải quyết ly hôn bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn vào năm 2017.

* Kết quả xem xét thẩm định, định giá tài sản:

Thửa đất số 911, 912, 793 và 794, đều tờ bản đồ số 5 có diện tích hiện trạng là 1.557,2m², có giá đất ở là 1.500.000 đồng/m²; giá đất trồng cây lâu năm là: 80.000 đồng/m²; giá đất nuôi trồng thủy sản là 75.000 đồng/m²

- Phần tài sản do anh Nguyễn Hữu V (nay là anh Nguyễn Hữu V1, bà Bùi Thị L) sử dụng bao gồm:

  • 01 nhà mái bằng một tầng mái bê tông cốt thép tường xây 220, phía trên xây tường lợp mái ngói chống nóng, vì kèo sắt hộp xây năm 2023, diện tích xây dựng 107,6m² có giá trị là 567.700.000 đồng; mái ngói, xã gồ vì kèo thép có giá 61.058.000 đồng; đường điện chìm có giá 31.437.000 đồng; đường nước có giá 12.575.000 đồng. Tổng giá trị bằng: 672.770.000 đồng.
  • 01 mái broximăng phía sau nhà mái bằng diện tích 34,5m² có giá 5.885.000 đồng và 01 sân bê tông dưới lán mái broximăng có giá 1.303.000 đồng;
  • 01 sân phía trước nhà mái bằng diện tích 74m² có giá 2.920.000 đồng;
  • 02 trụ cổng có kích thước 0,45 x 0,45 x 2,5m có giá 1.645.000 đồng;
  • 01 đoạn tường xây 110 trước nhà mái bằng có chiều dài 13,3m x cao 1,7m có giá 10.420.000 đồng;
  • 01 cây chanh trước nhà giá 90.000 đồng;

- Phần tài sản do cụ Đặng Thị C đang quản lý, sử dụng bao gồm:

  • 01 đoạn tường ba banh giáp đường ngõ dài 7,6m x cao 1,5cm có giá 2.578.000 đồng;
  • 01 đoạn tường xây 110 gạch chỉ dài 11,2m x cao 55cm có giá trị 2.633.000 đồng;
  • 01 nhà cấp 4 hai gian lợp mái broximăng xây năm 1981 có giá 29.037.000 đồng, 01 đoạn tường xây cao hơn định mức có giá 1.465.000 đồng; trần nhựa khung sắt làm năm 2023 nền trạt xỉ, diện tích 49,8m² có giá 7.998.000 đồng; điện có giá 1.155.000 đồng. Tổng giá trí 39.655.000 đồng;
  • 01 nhà kho phía sau nhà cấp 4, xây năm 1981, diện tích 5,6m² có giá 2.475.000 đồng;
  • 01 sân trước nhà đổ bê tông cao 5cm làm năm 2013, diện tích 64m², có tường bao sân có giá trị 1.617.000 đồng;
  • 06 cây na có giá 1.050.000 đồng; 01 cây chanh có giá 90.000 đồng; 01 cây mít; 01 cây hồng xiêm có giá 50.000 đồng;

- Phần công trình tài sản do anh Phạm Huy H quản lý, sử dụng gồm:

  • 01 nhà mái bằng mái bê tông cốt thép xây năm 2013, tường xây 220, phần cầu thang lợp Proximăng diện tích 68,7m² có giá 231.362.000 đồng; đường điện chìm 11.568.000 đồng;
  • 01 công trình phụ đổ mái bằng xây năm 2013, diện tích 27,4m² có giá 92.275.000 đồng; điện chìm giá 4.613.000 đồng; đường nước có giá 1.845.000 đồng. Tổng giá trị: 98.733.000 đồng;
  • 01 bể phốt cạnh công trình phụ diện tích 3,8m², sâu 1m, xây năm 2013 có giá 4.589.000 đồng;
  • 01 sân bê tông dài 7cm trước cửa nhà mái bằng xây năm 2013, diện tích 46,7m² có giá 2.832.000 đồng;
  • Đường đi ra ngõ đổ bê tông dày 10cm làm năm 2021, diện tích 97,6m² có giá 11.978.000 đồng;
  • 01 tường bao ngăn cách sân và vườn, lan hoa con tiện ximăng, dài 11m x cao 80cm xây năm 2013 có giá 2.816.000 đồng;
  • 01 cây vải giá 770.000 đồng; 01 cây khế; 01 cây hồng xiêm có giá 50.000 đồng; 01 bụi tre có giá 623.000 đồng; 01 khóm chuối có giá 35.000 đồng;

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo uỷ quyền có mặt tại phiên toà cùng đề nghị không xác định giá trị các tài sản và cây trồng nhỏ trên đất, đề nghị ai được hưởng bao nhiêu đất thì hưởng luôn phần giá trị các tài sản và cây trồng nhỏ trên đất.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng cơ bản chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 609; Điều 611; Điều 613; Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều 651 Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Đặng Thị C về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hữu T2 là quyền sử dụng đất diện tích 733,5m² đất đất thuộc thửa 911,912 tờ bản đồ 5 địa chỉ thửa đất xã A, TP Hải Phòng. chia cho 4 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm cụ C, bà N, ông N1, bà N2 mỗi suất thừa kế được hưởng 183,3m². Ông N1 chết nên vợ con ông N1 là bà L, anh V, anh V1 được hưởng. Anh V chết nên con anh V là cháu Duy A2 và mẹ anh V là bà Bùi Thị L được hưởng. Bà N2 đã chết nên anh H là con bà N2 được hưởng

Chia bằng hiện vật cho cụ C, anh V, anh V1 trên cơ sở đảm bảo giá trị công trình sử dụng của gia đình anh V, anh V1 các bên trả chênh lệch tài sản cho nhau bằng tiền đảm bảo kỷ phần được hưởng.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí đối với phần tài sản được chia theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày và tranh luận của các đương sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp:

Nguyên đơn có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận cụ C được quyền sử dụng riêng đối với thửa đất số 793; xác định ½ quyền sử dụng thửa đất 794, 911, 912, cùng tờ bản đồ số 5 và ½ giá trị ngôi nhà cấp 4 trên đất là của cụ C; chia di sản thừa kế cụ của Thể là ½ quyền sử dụng thửa đất 794, 911, 912 đều tờ bản đồ số 5 cùng ½ giá trị ngôi nhà cấp 4 trên đất và hủy 02 GCNQSDĐ do UBND huyện N cấp mang tên anh Nguyễn Hữu V1 đối với thửa đất số 911 và cấp mang tên ông Nguyễn Hữu N1 đối với thửa đất số 912. Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng). Đồng thời xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng:

[1.2.1]

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác định UBND huyện N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên từ ngày 01/7/2025 UBND huyện N bị giải thể. Căn cứ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai và Công văn số 285/TANDTC-PC ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ, thẩm quyền của các Tòa án nhân dân, Hội đồng xét xử xác định Chủ tịch UBND xã A, thành phố Hải Phòng là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện N, tỉnh Hải Dương.

[1.2.2]

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 09/8/2024 bị đơn anh Nguyễn Hữu V chết, Tòa án xác định những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh V là bà Bùi Thị L (là mẹ của anh V) và cháu Nguyễn Hữu Duy A2 (con của anh V).

[1.3]. Về thời hiệu khởi kiện:

Cụ Nguyễn Hữu T2 chết ngày 12/3/1993. Ngày 02/11/2023, cụ Đặng Thị C có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế là bất động sản của cụ Thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì yêu cầu chia di sản của cụ Thể là đã hết thời hiệu. Tuy nhiên, không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế nên căn cứ khoản 2 Điều 149 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu chia di sản thừa kế trong vụ án này và xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[1.4]

Tại phiên tòa, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Theo quy định tại Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

[2.]. Về nội dung:

[2.1] Về di sản thừa kế đang tranh chấp:

- Theo bản đồ địa chính 299 thể hiện là: Thửa đất số 898, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.113,0m², loại đất “T” và thửa đất số 899, tờ bản đồ số 10, diện tích 354,0m², loại đất “A”.

- Theo hồ sơ địa chính năm 1993 thể hiện là: Thửa đất số 794, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.000,0m², loại đất “T”; số mục kê thể hiện chủ sử dụng đất là “Ng Thị C2” và thửa đất số 793, tờ bản đồ số 05, diện tích 485,0m², loại đất "A"; số mục kê thể hiện chủ sử dụng đất là “Ng Thị C2” (tức là cụ Đặng Thị C).

- Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ: Tại Danh sách các hộ gia đình xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm theo Công văn số 24 ngày 25/5/2002 của UBND xã C thể hiện: Tại số thứ tự số 1240, bà Nguyễn Thị N2 xin cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 794, tờ bản đồ số 05, diện tích 400,0m², loại đất “đất ở 300m², đất vườn 100m²” và thửa đất số 793, tờ bản đồ số 05, diện tích 485,0m², loại đất "A". Tại số thứ tự số 1288, anh Nguyễn Hữu V1 xin cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 911, tờ bản đồ số 05, diện tích 300,0m², loại đất “đất ở”. Tại số thứ tự số 1289, ông Nguyễn Hữu N1 xin cấp GCN quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 912, tờ bản đồ số 05, diện tích 300,0m², loại đất “đất ở”.

Các đương sự trong vụ án đều thống nhất xác định thửa số 794, tờ bản đồ 5, diện tích 1000m², loại đất T và thửa đất số 793, tờ bản đồ số 5, diện tích 485m², loại đất A có nguồn gốc của cụ C và cụ Thể, phù hợp sổ mục kê 1993 thể hiện các thửa đất nêu trên đều ghi tên chủ sử dụng cụ “Ng Thị C2” (tức cụ Đặng Thị C). Tài sản gắn liền với đất do các cụ xây dựng hiện nay còn 01 ngôi nhà mái ngói cấp 4 xây dựng năm 1981. Khi cụ Thể còn sống không có văn bản nào về việc định đoạt phần tài sản của cụ Thể trong khối tài sản chung với cụ C cho bà N2, ông N1, anh V1. Sau khi cụ Thể chết, cụ C và các con, cháu trong gia đình cũng không có văn bản nào thể hiện nội dung phân chia di sản của cụ Thể và tách cho bà N2, ông N1, anh V1. UBND huyện N và UBND xã C, tỉnh Hải Dương (nay là UBND xã A, thành phố Hải Phòng) đều không còn lưu trữ được Quyết định về việc cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân và hồ sơ cấp GCNQSDĐ như Đơn xin cấp GCNQSDĐ; Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất; Thông báo về việc hộ gia đình tự kiểm tra thửa đất đang sử dụng để lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ và không có tài liệu thể hiện cụ C, cụ Thể đã việc tặng cho hoặc chuyển quyền sử dụng đất cho ông N1, bà N2, anh V1. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định thửa đất số 794, tờ bản đồ số 5, diện tích 1000m², loại đất T và thửa đất số 793, tờ bản đồ số 5, diện tích 485m², loại đất A và ngôi nhà mái ngói cấp 4 xây năm 1981 là tài sản chung của cụ C và cụ Thể, mỗi cụ được hưởng ½ khối tài sản chung trên. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì tổng diện tích các thửa đất theo hiện trạng sử dụng là 1557,2m². Tuy nhiên, sau khi lồng ghép với bản đồ cấp GCNQSDĐ thì diện tích đất tăng thêm 72,2m², nguyên nhân là do gia đình đã sử dụng lấn chiếm ra phần ao của tập thể.

Cụ Chủ trình bày cụ được chia tiêu chuẩn đất ruộng 03 và bị trừ vào thửa số 793, cụ Thể không thuộc tiêu chuẩn được chia đất ruộng 03, do vậy cụ C xác định thửa số 793 là tài sản riêng của cụ. Bà L cũng xác định hộ gia đình bà bị trừ tiêu chuẩn đất 03 vào diện tích đất của cụ Thể và cụ C. Tuy nhiên, cụ C, bà L không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Kết quả xác minh tại UBND xã A, thành phố Hải Phòng và lời khai của các Trưởng thôn An Điền qua các thời kỳ xác định thể hiện đối với sổ sách giao đất ruộng từ năm 1993 đến năm 2015 không còn lưu trữ được; đối với sổ sách dồn ô đổi thửa tại địa phương năm 2015-2016 không thể hiện gia đình cụ C bị trừ đất 03 ở ngoài đồng vào diện tích đất vườn. Do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của cụ C đề nghị công nhận cụ C được quyền sử dụng riêng đối với thửa đất số 793.

[2.2]. Xét yêu cầu chia di sản thừa kế của nguyên đơn:

[2.2.1]. Về thời điểm mở thừa kế:

Các đương sự đều thống nhất xác định cụ Nguyễn Hữu T2 đã chết vào ngày 12/3/1993. Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự thời điểm mở thừa kế chia di sản thừa kế của cụ Thể là ngày 12/3/1993.

[2.2.2]. Về các hàng thừa kế:

Tài liệu có trong hồ sơ và lời khai thống nhất của các đương sự thì cụ Thể, cụ C sinh được 03 người con chung, không có con nuôi, con riêng, bố mẹ cụ C, cụ Thể đều chết trước các cụ. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm: Cụ Đặng Thị C, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Hữu N1 (chết ngày 20/3/2004), bà Nguyễn Thị N2 (chết ngày 08/11/2021) theo pháp luật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự.

Ông N1 chết sau cụ Thể, có vợ là bà Bùi Thị L và 04 người con là anh Nguyễn Hữu V (chết ngày 09/8/2024), anh Nguyễn Hữu V1, anh Nguyễn Hữu V2 và chị Nguyễn Thị V3. Do vậy, cụ C, bà L, anh V, anh V1, anh V2, chị V3 được hưởng kỷ phần thừa kế mà ông N1 được hưởng từ cụ Thể. Anh V chết sau ông N1, anh V có vợ là chị Nguyễn Thị M nhưng đã ly hôn từ năm 2017, có 01 con là cháu Nguyễn Hữu Duy A2. Do vậy bà L và cháu Duy A2 được hưởng kỷ phần thừa kế mà anh V được hưởng từ ông N1. Bà Nguyễn Thị C1 là mẹ đẻ của anh V2, chị L nhưng chưa kết hôn với ông N1 nên không được pháp luật công nhận về quyền thừa kế đối với kỷ phần thừa kế của ông N1.

Bà N2 chết sau cụ Thể, chồng là ông Phạm Hồng H1 nhưng đã ly hôn vào năm 1991 và có 01 người con là anh Phạm Huy H. Do vậy, cụ C và anh H được hưởng kỷ phần thừa kế mà bà N2 được hưởng từ cụ Thể.

[2.2.3]. Về di sản thừa kế:

Các đương sự đều xác định cụ Thể chết không để lại di chúc nên phần di sản thừa kế của cụ Thể được chia theo quy định của pháp luật là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự.

- Về quyền sử dụng đất: Như đã nhận định ở trên, cụ C và cụ Thể có tài sản chung là quyền sử dụng diện tích đất 1456m² (trong đó có 987,6m² đất ở và 468,4m² đất ao) thuộc thửa 794 và 793, tờ bản đồ số 5 tại thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng; chia đôi mỗi cụ được hưởng là 728m², trong đó có 493,8m² đất ở và 234,2m² đất ao.

- Về tài sản gắn liền với đất: 01 nhà 01 tầng, tường 220, gạch đặc, cao 3,3m, nền láng vữa xi măng, lợp mái proximang, xây năm 1981, có giá trị: 39.655.000 đồng, mỗi cụ được hưởng ½ là 19.827.500 đồng.

- Cụ C được hưởng ½ khối tài sản chung là 728m² gồm: 493,8m² đất ở và 234,2m² đất ao, có giá trị là: 758.265.000 đồng và ½ giá trị 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1981 có giá trị là 19.827.500 đồng. Tổng giá trị tài sản cụ C được hưởng là: 778.092.500 đồng.

- Cụ Thể được hưởng ½ khối tài sản chung là 728m² gồm: 493,8m² đất ở và 234,2m² đất ao, có giá trị là: 758.265.000 đồng và ½ giá trị 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1981 có giá trị là 19.827.500 đồng. Tổng giá trị tài sản cụ Thể được hưởng là: 778.092.500 đồng, đây là di sản thừa kế cụ Thể để lại.

- Các đương sự đều thống nhất thửa đất trên sau khi cụ Thể chết thì cụ C, gia đình ông N1 (gồm bà L, anh V, anh V1) và mẹ con bà N2, anh H trực tiếp sinh sống, xây dựng các công trình trên đất nên cần xem xét áng trích công sức duy trì, tôn tạo di sản thừa kế của cụ Thể cho cụ C, gia đình ông N1 (gồm bà L, anh V1, anh V) và mẹ con bà N2. Trong đó, anh V có công sức nhiều hơn nên áng trích công sức duy trì, tôn tạo di sản thừa kế cho anh V là 60,8m² đất ở; cụ C, bà N2, anh H, anh V1, bà L mỗi suất 30m² đất ở.

- Như vậy, di sản cụ Thể để lại để chia gồm: 283m² đất ở và 234,2m² đất ao, có giá trị là: 442.065.000 đồng và ½ giá trị 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1981 có giá trị là 19.827.500 đồng. Tổng di sản cụ Thể để lại là: 461.892.500 đồng.

* Chia theo giá trị:

- Di sản của cụ Thể được chia cho cụ C và 03 người con là bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Hữu N1, bà Nguyễn Thị N2. Mỗi suất thừa kế được hưởng là: 115.473.000 đồng (đã làm tròn).

Ông N1 chết nên cụ C, bà L, anh V, anh V1, anh V2, chị V3, mỗi người được hưởng di sản thừa kế ông N1 được hưởng từ cụ Thể là: 19.245.500 đồng.

Anh V chết nên bà L, cháu Duy A2, mỗi người được hưởng di sản thừa kế anh V được hưởng từ ông N1 và công sức quản lý, tôn tạo di sản của anh V là 55.223.000 đồng (đã làm tròn).

Bà N2 chết nên cụ C, anh H, mỗi người được hưởng di sản thừa kế bà N2 được hưởng từ cụ Thể và công sức quản lý, tôn tạo di sản của bà N2 là: 80.236.500 đồng.

Bà N tự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế được hưởng cho cụ C; cụ C tự nguyện tặng cho anh H 250m² đất ở và 200m² đất ao, có giá trị là 390.000.000 đồng nên cần chấp nhận sự tự nguyện của bà N, cụ C. Như vậy, cụ C được hưởng là 275.946.000 đồng (di sản thừa kế được hưởng từ cụ Thể và từ bà N tặng cho + công sức quản lý, tôn tạo di sản) + 19.245.500 đồng (di sản ông N1 được hưởng từ cụ Thể) + 80.236.500 đồng (di sản bà N2 được hưởng từ cụ Thể) + 778.092.500 đồng (½ giá trị tài sản chung) - 390.000.000 đồng (đã tặng cho anh H) = 763.520.500 đồng.

Anh H được hưởng tổng số là: 80.236.500 đồng (di sản thừa kế bà N2 được hưởng từ cụ Thể) + 390.000.000 đồng (cụ C tặng cho anh H) + 45.000.000 đồng (công sức quản lý, tôn tạo di sản) = 515.236.500 đồng.

Bà L tự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế được hưởng cho anh V1 nên cần chấp nhận sự tự nguyện của bà L. Anh V1 được hưởng tổng số là: 119.468.500 đồng (bà L được hưởng + công sức) + 64.245.500 đồng (anh V1 được hưởng + công sức) = 183.714.000 đồng.

Anh Văn, chị V3 mỗi người được hưởng là 19.245.500 đồng. Cháu Duy A2 được hưởng là 55.223.000 đồng.

* Chia theo hiện vật:

- A, anh H, cụ C đề nghị chia bằng hiện vật; anh V2, chị V3, cháu Duy A2 đề nghị nhận bằng hiện vật hoặc bằng tiền. Xét thấy, anh V1, cụ C, anh H sinh sống ổn định, xây dựng công trình kiên cố trên một phần đất tranh chấp nên cần chia cho anh V1, cụ C và anh H bằng hiện vật và các bên có trách nhiệm thanh toán cho những người được hưởng thừa kế còn lại.

Cụ thể như sau:

- Chia cho anh V1 diện tích đất ở là 264,6m² có giá trị là 396.900.000 đồng. Tài sản gắn liền với đất do anh V xây dựng có các công trình gồm 01 nhà mái bằng diện tích 107,6m² có giá trị 672.770.000 đồng; mái proximang diện tích 34,5m² có giá trị 5.885.000 đồng; sân bê tông dưới mái proximang có giá trị 1.303.000 đồng; 01 sân phía trước nhà mái bằng diện tích 74m² có giá trị 2.920.000 đồng; 02 trụ cổng có giá trị 1.645.000 đồng; 01 đoạn tường xây trước nhà dài 9,13m có giá trị 7.153.000 đồng. Tổng giá trị tài sản gắn liền với đất là 646.676.000 đồng. Anh V1 có trách nhiệm thanh toán trả cho những người thừa kế của anh V (gồm bà L, cháu Duy A2) giá trị tài sản gắn liền với đất tổng số tiền là 646.676.000 đồng.

- Chia cho cụ C diện tích đất ở là: 323,1m² có giá trị là 484.650.000 đồng và 01 ngôi nhà cấp 4 có giá trị là 39.655.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 524.305.000 đồng. Tài sản gắn liền với đất gồm nhà cấp 4 xây dựng năm 1981; nhà kho diện tích 5,6m²; sân diện tích 64,4m² (có sơ đồ kèm theo).

- Chia cho anh H diện tích đất là 833,7m² (trong đó có 365,3m² đất ở và 468,4m² đất ao) thuộc thửa số 794, 793 tờ bản đồ số 5 tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng), có giá trị là 583.080.000 đồng. Tài sản gắn liền với đất gồm nhà, công trình (có sơ đồ kèm theo).

- Do giữa 2 thửa đất chia cho cụ C và anh H chỉ có một ngõ đi duy nhất, vì vậy Hội đồng xét xử trích 34,6m² đất ở có giá trị là 51.900.000 đồng làm lối đi chung.

- Anh V1 có trách nhiệm trả tiền cho anh V2, chị V3, mỗi người số tiền 19.245.500 đồng; trả cho cháu Duy A2 số tiền 55.223.000 đồng; trả cho cụ C số tiền là 119.472.000 đồng.

- Anh H có trách nhiệm thanh toán trả cho cụ C số tiền là 93.793.500 đồng.

- Đối với các cây cối trên đất, các đương sự không đề nghị giải quyết và có quan điểm ai được chia phần đất nào trên có cây cối thì người đó được tiếp tục quản lý, sử dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự.

- Đối với diện tích đất dôi dư 101,2m² là đất ao thuộc quyền quản lý của UBND xã A, nằm liền kề với phần đất anh H được chia nên cần tạm giao cho anh H tiếp tục quản lý, sử dụng. Anh H có trách nhiệm làm thủ tục hợp thức hóa tại cơ quan có thẩm quyền đối với diện tích đất dôi dư.

[2.3]. Về yêu cầu hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông N1, anh V1:

Như đã phân tích ở trên, thửa đất số 793 và 794, tờ bản đồ số 5, tổng diện tích 1456m² (theo hồ sơ 1993) tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng) được xác định là tài sản chung của cụ C và cụ Thể; không có tài liệu nào thể hiện cụ Thể và cụ C tặng cho diện tích đất trên cho bà N2, ông N1 và anh V1. Sau khi cụ Thể chết, gia đình cũng chưa có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Do vậy việc UBND huyện N, tỉnh Hải Dương cấp GCNQSDĐ cho bà N2, ông N1 và anh V1 vào năm 2002 là không đúng đối tượng được cấp GCNQSDĐ, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế khác. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy 02 GCNQSDĐ mang tên ông N1 và anh V1 đối thửa đất số 911 và 912, tờ bản đồ số 5, mỗi thửa diện tích 300m² tại thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng.

[3].

Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không ai yêu cầu hủy GCNQSDĐ cấp mang tên bà N2 đối với thửa đất số 793, 793, tờ bản đồ số 5, tổng diện tích 845m². Tuy nhiên như đã nhận định ở trên thì việc cấp GCNQSDĐ này là không đúng đối tượng được cấp giấy nên Hội đồng xét xử thấy cần hủy cả GCNQSDĐ cấp mang tên bà N2.

[4]. Về chi phí tố tụng:

Cụ Đặng Thị C tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định và định giá tài sản đã nộp nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[5]. Về án phí:

Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 149, 609, 610, 611, 612, 613, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Luật Đất đai năm 1993; Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 34, Điều 147, Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; điểm h khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai và Công văn số 285/TANDTC-PC ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân Tối cao; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án Phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đặng Thị C về các nội dung:

[1.1] Xác định tài sản chung của cụ Đặng Thị C và cụ Nguyễn Hữu T2 để lại là quyền sử dụng diện tích đất 1456m² (trong đó có 987,6m² đất ở và 468,4m² đất ao) thuộc thửa 794 và 793, tờ bản đồ số 5 tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng). Tài sản gắn liền với đất có 01 ngôi nhà cấp 4, xây dựng năm 1981, diện tích 49,8m². Tổng giá trị tài sản là 1.556.185.000 đồng.

- Cụ C được hưởng ½ khối tài sản chung là quyền sử dụng 728m² gồm: 493,8m² đất ở và 234,2m² đất ao, có giá trị là: 758.265.000 đồng và ½ giá trị 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1981 có giá trị là 19.827.500 đồng. Tổng giá trị tài sản cụ C được hưởng là: 778.092.500 đồng.

- Cụ Thể được hưởng ½ khối tài sản chung là quyền sử dụng 728m² gồm: 493,8m² đất ở và 234,2m² đất ao, có giá trị là: 758.265.000 đồng và ½ giá trị 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1981 có giá trị là 19.827.500 đồng. Tổng giá trị tài sản cụ Thể được hưởng là: 778.092.500 đồng.

[1.2] Về chia di sản thừa kế:

- Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Hữu T2 để lại là: 283m² đất ở và 234,2m² đất ao, có giá trị là 442.065.000 đồng và ½ giá trị 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1981 có giá trị là 19.827.500 đồng. Tổng di sản cụ Thể để lại là 461.892.500 đồng.

- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm: Cụ Đặng Thị C, bà Nguyễn Thị N; ông Nguyễn Hữu N1 (chết ngày 20/3/2004); bà Nguyễn Thị N2 (chết ngày 08/11/2021). Do ông N1 chết sau cụ Thể nên mẹ đẻ, vợ, con ông N1 là cụ Đặng Thị C, bà Bùi Thị L, anh Nguyễn Hữu V (anh V chết sau ông N1 nên bà Bùi Thị L, cháu Nguyễn Hữu Duy A2 được hưởng thừa kế), anh Nguyễn Hữu V1, anh Nguyễn Hữu V2, chị Nguyễn Thị V3. Do bà N2 chết sau cụ Thể nên mẹ, con bà N2 là cụ C và anh Phạm Huy H được hưởng thừa kế.

- Áng trích công sức duy trì, tôn tạo phần di sản của cụ Thể cho cụ C, bà L, anh V1, anh H, bà N2 mỗi người 30m² đất ở, giá trị 45.000.000 đồng.

- Áng trích công sức duy trì, tôn tạo phần di sản của cụ Thể cho anh V là 60,8m² đất ở, giá trị 91.200.000 đồng.

- Di sản thừa kế của cụ Thể còn lại để chia là quyền sử dụng diện tích đất 517m² (trong đó có 283m² đất ở và 234,2m² đất ao) thuộc thửa số 793, 794, tờ bản đồ số 5 tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng), có giá trị là: 442.065.000 đồng và ½ giá trị 01 ngôi nhà cấp 4 xây dựng năm 1981 có giá trị là 19.827.500 đồng. Tổng di sản cụ Thể để lại là 461.892.500 đồng.

* Chia theo giá trị:

- Cụ Đặng Thị C được hưởng di sản thừa kế là 259.955.000 đồng; bà Nguyễn Thị N được hưởng di sản thừa kế là 115.473.000 đồng; anh H được hưởng di sản thừa kế là 125.236.500 đồng.

- Bà Bùi Thị L được hưởng di sản thừa kế là 119.468.500 đồng; anh Nguyễn Hữu V1, anh Nguyễn Hữu V2, chị Nguyễn Thị V3, mỗi người được hưởng là 19.245.500 đồng; cháu Nguyễn Hữu Duy A2 được hưởng 55.223.000 đồng.

- Chấp nhận sự tự nguyện của bà N tặng cho kỷ phần thừa kế được hưởng cho cụ C. Chấp nhận sự tự nguyện của cụ C tự nguyện tặng cho anh H 250m² đất ở và 200m² đất ao, trị giá là 390.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản cụ C được hưởng là 763.520.500 đồng. Tổng giá trị tài sản anh H được hưởng là 515.236.500 đồng.

- Chấp nhận sự tự nguyện của bà L tự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế được hưởng cho anh V1. Tổng giá trị tài sản anh V1 được hưởng là 183.714.000 đồng.

* Chia bằng hiện vật:

- Giao cho anh V1 được quyền sử dụng diện tích đất ở là 264,6m² thuộc thửa số 794, tờ bản đồ số 5 tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng), được giới hạn bởi các điểm B9, A16, A17, A18, A19, A20, A21, B8, C1, đến B9 và các tài sản gắn liền với đất.

- Giao cho cụ C diện tích đất ở là 323,1m² thuộc thửa số 794, tờ bản đồ số 5 tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng), được giới hạn bởi các điểm C4, B9, C1, C2 đến C4. Tài sản gắn liền với đất gồm nhà cấp 4, xây dựng năm 1981; nhà kho, sân.

- Chia cho anh H diện tích đất là 833,7m² (trong đó có 365,3m² đất ở và 468,4m² đất ao) thuộc thửa số 794, 793 tờ bản đồ số 5 tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng), được giới hạn bởi các điểm B1, A8, A9, A10, A11, A12, A13, A14, C4, C2, C3, B7, A23, A24, B3, B2 đến B1 và các tài sản gắn liền với đất.

- Trích 34,6m² đất ở thuộc thửa số 794, tờ bản đồ số 5 tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng), được giới hạn bởi các điểm C2, C1, B8, A22, C3 đến C2 làm lối đi chung giữa phần đất giao cho cụ C và phần đất giao cho anh H.

- Anh V1 có trách nhiệm trả tiền cho anh V2, chị V3, mỗi người số tiền 19.245.500 đồng; trả cho cháu Duy A2 số tiền 55.223.000 đồng; trả cho cụ C số tiền là 119.472.000 đồng.

- Anh H có trách nhiệm thanh toán trả cho cụ C số tiền là 93.793.500 đồng.

Tạm giao cho anh H sử dụng phần diện tích đất dôi dư 101,2m² thuộc quyền quản lý của UBND xã A, thành phố Hải Phòng, được giới hạn bởi các điểm A7, B1, B2, B3, A25, A1, A2, A3, A4, A5, A6 đến A7. Khi UBND xã A xử lý đất dôi dư do lấn chiếm thì anh H phải nghiêm chỉnh chấp hành.

(Hình thể, kích thước các cạnh thửa đất, tài sản gắn liền với đất có sơ đồ kèm theo).

- Anh V1 có trách nhiệm trả tiền cho anh V2, chị V3, mỗi người số tiền 19.245.500 đồng; trả cho cụ C số tiền là 119.472.000 đồng; trả cho cháu Duy A2 số tiền 55.223.000 đồng (giao cho người đại diện hợp pháp của cháu Duy A2 là chị Nguyễn Thị M nhận và quản lý thay cho đến khi cháu Duy A2 đủ 18 tuổi).

- Anh V1 có trách nhiệm thanh toán trả cho những người thừa kế của anh V (gồm bà L, cháu Duy A2) giá trị tài sản gắn liền với đất tổng số tiền là 646.676.000 đồng.

- Anh H có trách nhiệm thanh toán trả cho cụ C số tiền là 93.793.500 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Anh H, anh V1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

[1.3] Về Hủy GCNQSDĐ:

[1.3.1]

Hủy GCNQSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch UBND xã A) cấp ngày 26/6/2002 mang tên ông Nguyễn Hữu N1 đối với thửa đất số 912, tờ bản đồ số 5, diện tích 300m² tại xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng).

[1.3.2]

Hủy GCNQSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch UBND xã A) cấp ngày 26/6/2002 mang tên anh Nguyễn Hữu V1 đối với thửa đất số 911, tờ bản đồ số 5, diện tích 300m² tại xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng).

[1.3.3]

Hủy GCNQSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch UBND xã A) cấp ngày 26/6/2002 mang tên bà Nguyễn Thị N2 đối với thửa đất số 793, 794, tờ bản đồ số 5, tổng diện tích 885m² tại xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng).

(Ranh giới thửa đất, số đo, diện tích các thửa đất và tài sản trên đất có sơ đồ kèm theo. Các đương sự được chia đất liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

[2]. Về chi phí thẩm định và định giá:

Chấp nhận sự tự nguyện của cụ Đặng Thị C tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định và định giá tài sản.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Cụ Đặng Thị C, bà Nguyễn Thị N, bà Bùi Thị L là người cao tuổi, cháu Nguyễn Hữu Duy A2 là trẻ em nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Văn, chị V3 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 963.000 đồng.

Anh V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.186.000 đồng.

Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.262.000 đồng.

[4]. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Chị Nguyễn Thị V3 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- VKSND TP. Hải Phòng;

- THADS TP. Hải Phòng;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ; Lưu VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trường

23

24

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 131/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger