|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 131/2025/HS-PT Ngày 15 - 12 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ sở 2 tại phường V), xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Tiến T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Phú Thọ.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tiến T, sinh năm 1984 tại tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký thường trú: Xã H, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường V, tỉnh Phú Thọ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Thành T1 và bà Nguyễn Thị N; có vợ là chị Hồ Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh P, (có mặt).
Người bào chữa của bị cáo T: Bà Trần Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T4 tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 26/11/2024, sau khi uống bia tại phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường V, tỉnh Phú Thọ), Nguyễn Tiến T đang ở tại tổ dân phố H, phường V, tỉnh Phú Thọ rủ Nguyễn Văn L và Vũ Minh T2 đến quán Bar C, địa chỉ tại đường T, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường V, tỉnh Phú Thọ) để chơi. Tại đây, T có hỏi và mua được của một nam thanh niên ở trong quán 02 viên ma túy kẹo và 01 chỉ ma túy Ketamine (ma túy ke) với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Do trên bar đông người không sử dụng được ma túy ke nên T trao đổi với nam thanh niên bán ma túy sẽ gửi vị trí cho người này để mang ma túy ke đến cho T sau. Người nam giới này tự xưng là S và cho T số điện thoại, bảo có gì liên lạc vào số điện thoại nêu trên nên T lưu số này trong điện thoại của mình là “E Sỹ”. T đặt 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền mặt trên bàn để trả tiền mua ma túy thì nam thanh niên trên hiểu ý và cầm tiền đi, khoảng 05 phút sau, nam thanh niên này quay lại đặt trên bàn nơi T đang ngồi 02 viên ma túy kẹo. T lấy 01 viên sử dụng trước, viên còn lại T cất vào túi áo sau để rủ cả nhóm tiếp tục đi nơi khác sử dụng, thì được cả nhóm đồng ý. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T2 đi vệ sinh thì gặp 01 nữ giới (T2 không biết tên, tuổi và địa chỉ ở đâu) đang đứng một mình gần cửa nhà vệ sinh của quán BaC, thấy người này xinh, trẻ nên T2 rủ nữ giới này đi chơi cùng với T2 với giá 200.000 đồng/01tiếng (ý T2 là rủ đi sử dụng ma túy) thì nữ giới này đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, nhóm của T rời khỏi quán bar thì T nhớ ra bạn của mình là Bùi Thị H1, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ) có phòng trọ kín đáo tại số nhà F, đường P, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường V, tỉnh Phú Thọ) do H1 thuê của anh Phùng Đức H2, sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố H, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường V, tỉnh Phú Thọ).
Vì không có số điện thoại của H1, nên T mượn điện thoại của L (T, L và H1 đều là bạn bè quen biết ngoài xã hội với nhau) để gọi cho H1 hỏi mượn phòng trọ của H1, mục đích mời cả nhóm đến đây sử dụng ma túy nhưng H1 không nghe máy. T, T2, L và nữ giới nêu trên lên xe taxi cùng đi về phòng trọ của H1. Khi thấy cuộc gọi nhỡ từ tài khoản Zalo của L, H1 gọi lại cho L, lúc này T cầm điện thoại của L nghe máy và hỏi mượn phòng trọ của H1 để chơi (ý là mượn phòng trọ để sử dụng ma túy) thì H1 đồng ý. Khi đến cổng, nhóm T tự mở cửa đi vào và lên tầng 2 của ngôi nhà thì H1 ra đón. Khi lên tầng 2, L cùng H1 vào phòng đầu tiên bên tay phải nằm nghỉ, đây là phòng ngủ của anh Phùng Đức H2, nhưng H2 đã về quê nên H1 sang nằm ngủ. T, T2 và nữ giới kia đi cùng sang phòng trọ của H1 ở bên trong cùng (sát cạnh phòng của H2). Khi vào phòng, T lấy 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa cứng của ngân hàng V mang tên Bùi Thị H1 và cuốn tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ thành tẩu hút để sử dụng ma túy Ketamine. Lúc này, do thấy L và T2 đều có bạn ngồi cùng, nên T bảo T2 gọi Đào Thị Vân N2, sinh năm 22/01/2008 (đến ngày 27/11/2024, N2 16 tuổi 10 tháng 05 ngày), hộ khẩu thường trú: Thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Đ, tỉnh Phú Thọ) đến sử dụng ma túy cùng T cho vui. T2 sử dụng tài khoản Messerger của mình mang tên “Đồng Nát”, gọi vào tài khoản Messerger của Vân N2 mang tên “Vân Nhi” để bảo N2 đến sử dụng ma túy cùng nhóm T2 thì N2 đồng ý. Khoảng 10 phút sau, N2 đi taxi đến nhà trọ của H1 thì T bảo H1 xuống đón N2 lên. H1 xuống cổng đưa N2 lên phòng trọ của mình nơi T, T2, L và nữ giới đang ngồi chơi, N2 sau đó đến ngồi cạnh T. T lấy viên ma túy kẹo còn lại bẻ làm đôi đưa cho N2 và H1 mỗi người một nửa và nói “chơi đi” (ý của T mời H1 và N2 sử dụng ma túy kẹo), thì N2 và H1 cầm ma túy kẹo T đưa bỏ vào miệng và uống cùng nước lọc. Lúc này, T dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax của mình và gọi vào số điện thoại 0392.925.xxx (Tài lưu trên máy là “E Sỹ”) để gọi mang ma túy Ketamine đến phòng trọ của H1 để sử dụng. Khoảng 10 phút sau, T nhận được điện thoại từ số thuê bao 0967292310 gọi cho T bảo T xuống cổng nhận ma túy, T bảo H1 xuống lấy ma túy cho T thì H1 đồng ý.
Khi H1 xuống cổng thì gặp một nam giới (H1 không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này), nam giới này đưa cho H1 một chiếc phong bì được dán kín, bên trong có ma túy ke rồi điều khiển xe ô tô (H1 không nhìn được biển kiểm soát) đi đâu không rõ. H1 cầm phong bì đi lên phòng và đưa cho T. T xé phong bì lấy gói ma túy ke ra rồi vứt phong bì tại góc phòng sau đó dùng bật lửa gas hơ nóng đĩa sứ rồi đổ ma túy ke ra đĩa, dùng thẻ nhựa dầm nhỏ ma túy ke ra, kẻ thành các đường nhỏ, T dùng tẩu hút (tờ tiền polime cuốn thành cuộn nhỏ) và sử dụng ma túy ke đầu tiên, sau đó lần lượt từng người gồm H1, L, T2, Vân N2 và nữ giới còn lại đều sử dụng ma túy ke và nghe nhạc bằng chiếc điện thoại di động của T. Sau khi sử dụng hết ma túy ke trên đĩa, L và H1 về phòng của H2 ngủ, còn T, Vân N2, T2 và nữ giới nằm ngủ tại phòng của H1. Đến khoảng 03 giờ ngày 27/11/2024, Vân N2 gọi T dậy đòi tiền công phục vụ sử dụng ma túy, thì T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax đăng ký số tài khoản 0361000333202 tại Ngân hàng TMCP N5 mang tên Nguyễn Tiến T chuyển đến số tài khoản 0355093711 mở tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Q - Chi nhánh V1 của Đào Thị Vân N2 số tiền 2.000.000 đồng, rồi T tiếp tục nằm ngủ còn Vân N2 đi về. T2 sau đó gọi xe taxi đi cùng nữ giới T2 rủ trên quán bar cùng nhau đi về, khi đi đến cổng trường V2, T2 trả cho nữ giới này số tiền mặt 500.000 đồng tiền công phục vụ T2 sử dụng ma túy, rồi T2 về nhà tại phường T, thành phố V (nay là phường V, tỉnh Phú Thọ) để nghỉ ngơi, còn nữ giới trên đi đâu không rõ.
Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy của Công an thành phố V tiến hành kiểm tra hành chính ngôi nhà số F P, phường K, thành phố V. Tại thời điểm kiểm tra, phát hiện tầng 2 của ngôi nhà có 03 phòng có người ở gồm: Phòng đầu tiên từ cầu thang lên bên tay trái có 02 người gồm Ngô Văn N3, sinh năm 2001, hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (nay là xã Đ, thành phố Hà Nội) và Lê Quang M, sinh năm 2006, hộ khẩu thường trú: xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã T, tỉnh Tuyên Quang); tại phòng đầu tiên từ cầu thang lên bên tay phải có 02 người gồm Nguyễn Văn L, Bùi Thị H1; tại phòng trong cùng bên tay phải từ cầu thang đi lên (sát ngay cạnh phòng H1 và L nằm) có Nguyễn Tiến T.
Quá trình kiểm tra, phát hiện thu giữ tại phòng T đang ở các đồ vật, tài sản sau: Tại góc sàn nhà phía đầu đệm giường ngủ có 01 đĩa sứ màu trắng, trên bề mặt đĩa sứ có bám dính tinh thể màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng của ngân hàng V mang tên Bùi Thị H1, 01 ống hút cuốn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng và 01 túi nilon nhỏ. Toàn bộ vật chứng được niêm phong vào hộp giấy ký hiệu A1 theo đúng quy định của pháp luật. Tạm giữ 01 bật lửa gas đã cũ, đã qua sử dụng; 02 mảnh phong bì. Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 của Bùi Thị H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax của Nguyễn Tiến T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen của Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu xám của Vũ Minh T2. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại di động của các T, H1, L xác định nội dung cuộc gọi như diễn biến nội dung vụ việc như đã nêu trên, đối với T2 do lo sợ cơ quan điều tra phát hiện nên đã xóa bỏ hết các dữ liệu trong ứng dụng Messenger.
Ngày 27/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thu mẫu nước tiểu của các đối tượng Nguyễn Tiến T, Bùi Thị H1, Nguyễn Văn L để phục vụ giám định.
Ngày 27/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu giám định số: 3093 trưng cầu tại Phòng K - Công an tỉnh V giám định chất ma túy có trong mẫu ký hiệu A1. Ngày 01/12/2024, Phòng K - Công an tỉnh V có Kết luận giám định chất ma túy số 3383/KL- KTHS, kết luận: “Chất màu trắng bám dính trên các mẫu vật có trong hộp giấy catton ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất ma túy Ketamine do khối lượng quá nhỏ và tồn tại ở dạng vết. Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/202022 của Chính phủ”.
Ngày 29/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc ra quyết định trưng cầu giám định số: 3101; 3102; 3103 trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định chất ma túy có trong nước tiểu của Bùi Thị H1, Nguyễn Tiến T và Nguyễn Văn L. Tại bản Kết luận giám định số 3419; 3434; 3436 của Phòng K, kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong nước tiểu của Bùi Thị H1, Nguyễn Văn L và Nguyễn Tiến T.
Quá trình điều tra, gia đình bị can Nguyễn Tiến T giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 Giấy chứng nhận T bị khuyết tật nặng về thể chất và trí tuệ nên ngày 01/04/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V ra Quyết định trưng cầu giám định số 1901/QD-CSMT trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc giám định tâm thần Nguyễn Tiến T. Ngày 29/04/2025, trung tâm P tâm thần khu vực miền núi phía Bắc ra Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 41/KLGĐ kết luận: “Nguyễn Tiến T, SN: 1984, trú tại: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định không bị tâm thần. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Nguyễn Tiến T không bị bệnh tâm thần. Nguyễn Tiến T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Nguyễn Tiến T không bị bệnh tâm thần. Nguyễn Tiến T đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi”.
Ngày 28/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu số 305/QĐ-ĐCSMT trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, mật khẩu 000000 tạm giữ của Nguyễn Tiến T. Ngày 06/03/2025, Phòng K - Công an tỉnh V có bản Kết luận giám định số 629/KLGĐ-KTHS, kèm theo 01 đĩa DVD lưu trữ 785 KB dữ liệu bên trong có chứa 05 file gồm danh bạ điện thoại, danh bạ sim, cuộc gọi điện thoại, tin nhắn SMS, tin nhắn Zalo; trong đó tại mục nhật ký cuộc gọi có hồi 00 giờ 50 phút và 01 giờ 00 phút ngày 27/11/2024 có cuộc gọi đến từ số thuê bao 0967292310 theo T khai nhận đây là số điện thoại của người đã giao ma túy đến số nhà F P cho T. Hồi 00 giờ 42 phút ngày 27/11/2024 có cuộc gọi đi đến số thuê bao 0392925601 được T lưu tên trong danh bạ là “E sỹ” thời lượng liên lạc 20 giây theo T khai nhận đây là người đã bán ma túy cho T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc có Công văn số 2978 gửi Tập đoàn C1 đề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao 0967292310 và 0392925601 và thông tin chi tiết cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn đi, tin nhắn đến của hai số thuê bao trên trong thời gian từ 21h00 ngày 26/11/2024 đến 05h00 ngày 27/11/2024. Kết quả xác định số thuê bao 0967292310 đăng ký tên chủ thuê bao là chị Trần Thị Hồng N4, sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường V, tỉnh Phú Thọ); Số điện thoại 0392.925.xxx đăng ký tên chủ thuê bao của bà Vũ Thị H3, sinh năm 1958, hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ) chủ đăng ký thuê bao. Tiến hành lấy lời khai của chị Trần Thị Hồng N4 và bà Vũ Thị H3 xác định, chị N4 và bà H3 không sử dụng hai số điện thoại nêu trên, không cho ai mượn thông tin cá nhân để đăng ký thuê bao điện thoại, không biết Nguyễn Tiến T là ai và không liên quan gì đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy xảy ra đêm ngày 26/11/2024 rạng sáng ngày 27/11/2024.
Ngày 28/02/2025, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu số 304/QĐ- ĐCSMT trưng cầu phòng K- Công an tỉnh V giám định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 tạm giữ của Bùi Thị H1. Tại bản Kết luận giám định số 628 KLGĐ -KTHS ngày 06/03/2025, kèm phụ lục giám định của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: Tìm thấy 07 địa chỉ danh bạ. Không tìm thấy dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn SMS, tin nhắn zalo, M1 trong khoảng thời gian yêu cầu giám định. Không tìm thấy dữ liệu trên thẻ sim kèm theo.
Ngày 28/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu số 3043/QĐ- ĐCSMT trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 tạm giữ của Nguyễn Văn L. Tại bản kết luận giám định số 729 KLGĐ-KTHS ngày 25/03/2025 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Không khôi phục, trích xuất được dữ liệu từ điện thoại gửi giám định do điện thoại cài mật khẩu khóa màn hình, không kết nối được với thiết bị sao trích dữ liệu. Khôi phục, trích xuất dữ liệu từ thẻ sim gửi giám định, qua kiểm tra phân tích không phát hiện có dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định”.
Ngày 30/12/2024, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc có văn bản số 2976, 2977 đề nghị Ngân hàng thương mại cổ phần N5 - Chi nhánh V1 cung cấp thông tin về chủ tài khoản, sao kê giao dịch của tài khoản 0361000333202 của Nguyễn Tiến T; Ngân hàng thương mại Cổ phần Q - Chi nhánh V1 cung cấp thông tin về chủ tài khoản, sao kê giao dịch của tài khoản 0355093711 của Đào Thị Vân N2. Kết quả sao kê thể hiện: Ngày 27/11/2024 phát sinh 02 giao dịch từ tài khoản 0361000333202 của Nguyễn Tiến T đến tài khoản 0355093711 của Đào Thị Vân N2 với tổng số tiền 2.000.000 đồng, phù hợp với lời khai của Nguyễn Tiến T và Đào Thị Vân N2 là tiền Tài trả công cho Vân N2 khi sử dụng ma túy cùng với T.
Về nguồn gốc số ma túy Ketamine và ma túy kẹo: Quá trình điều tra, T khai nhận số ma túy này T mua được từ một người tên nam giới tên là S (T chỉ biết tên và lưu trong điện thoại như vậy nhưng không biết họ tên đầy đủ, tuổi và địa chỉ của người này) tại quán bar C tại địa chỉ phường Đ, thành phố V vào đêm ngày 26/11/2024, rạng sáng ngày 27/11/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V tiến hành xác minh số điện thoại mà T lưu là số của S kết quả đây là số điện thoại của bà Vũ Thị H3, sinh năm 1958, hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Đối với người giao ma túy đến cho T có số điện thoại 0967.292.xxx kết quả xác định chủ thuê bao này là chị Trần Thị Hồng N4, sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú: Phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Bà H3 và chị N4 trình bày không biết ai tên là S và T, không liên quan gì đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy xảy ra đêm ngày 26/11/2024 và rạng sáng ngày 27/11/2024 tại thành phố V. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh tại quán Bar C nhưng chưa làm rõ được ai là người bán ma túy cho T.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Phú Thọ, đã căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Tiến T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Ngoài ra bản án sơ thẩm có xử phạt bị cáo Bùi Thị H1 và bị cáo Vũ Minh T2 mỗi bị cáo 07 năm 03 tháng tù đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đồng thời bản án còn xử lý về vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 24/9/2025, bị cáo T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, đã phát biểu và có quan điểm: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giảm hình phạt cho bị cáo.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Phú Thọ. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 và 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 04 năm 09 tháng đến 05 năm tù.
Bị cáo T không có ý kiến gì, không bào chữa gì khác và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định và hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về nội dung vụ án: Đêm ngày 26/11/2024 và rạng sáng ngày 27/11/2024, Bùi Thị H1 đã cho Nguyễn Tiến T sử dụng phòng trọ mà mình thuê tại số nhà F, P, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường V, tỉnh Phú Thọ) do H1 quản lý, để Nguyễn Tiến T có hành vi tổ chức cho Vũ Minh T2, Bùi Thị H1, Nguyễn Văn L, Đào Thị Vân N2 và nữ giới chưa xác định nhân thân lai lịch sử dụng trái phép chất ma túy (Đào Thị Vân N2 và nữ giới chưa xác định nhân thân, lai lịch là do T2 rủ đến để cùng nhau sử dụng ma túy). Nguồn gốc số ma túy Ketamine (ma túy ke) mà cả nhóm sử dụng là do Nguyễn Tiến T mua được của một đối tượng không xác định tên tuổi địa chỉ với giá 1.000.000đ. Sau khi các đối tượng sử dụng hết ma túy, đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 27/11/2024, thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V, phối hợp với Công an phường K kiểm tra hành chính phát hiện và bắt giữ, thu giữ các vật chứng liên quan.
[4]. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5]. Xét kháng cáo của bị cáo T xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo là người khuyết tật nặng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo còn có bố mẹ vợ và bố đẻ là người có công, được Nhà nước tặng thưởng Huân huy chương kháng chiến, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5.1]. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm chị Hồ Thị H (vợ bị cáo) xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, chị H nghề nghiệp là công nhân, đang một mình nuôi 02 con nhỏ (sinh 2012, sinh 2019) và phải chăm lo cho bố chồng ông Nguyễn Thành T1 tuổi đã cao, bị bệnh nặng thường xuyên phải đi điều trị tại Bệnh viện Huyết học truyền máu Trung ương hoàn cảnh rất khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm cần áp dụng cho bị cáo.
[6]. Hiện nay tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, việc tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng ma túy đang gây những hệ lụy rất lớn cho toàn xã hội. Do đó, về nguyên tắc đối với các đối tượng phạm tội liên quan đến ma túy cần xử lý thật nghiêm. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo T chỉ vì ham chơi đua đòi, dẫn đến việc phạm tội (bị cáo không phải là đối tượng nghiện), bản thân bị cáo là người khuyết tật; bị cáo bị liệt - Teo cơ tay trái bẩm sinh, lép lồng ngực trái, theo quyết định của Hội đồng Giám định y khoa tỉnh Nam Định ngày 14/02/2006, bị cáo T được xác định mất sức lao động do bệnh tật là 57% (theo tiêu chuẩn phân hạng mất sức lao động ban hành kèm theo Thông tư liên bộ số 12/TT-LB ngày 26/7/1995). Theo Giấy xác nhận khuyết tật số 350 ngày 04/10/2013 của Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Nam Định bị cáo thuộc dạng khuyết tật vận động trí tuệ; mức độ khuyết tật nặng.
[6.1]. Bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và trên cơ sở chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam, các chính sách của Nhà nước về ưu tiên hỗ trợ, trợ giúp, giúp đỡ chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khuyết tật, tạo điều kiện mọi mặt cho người khuyết tật được tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng theo Luật người khuyết tật năm 2010. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7]. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, sửa bản án sơ thẩm giảm một phần hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận và bị cáo là người khuyết tật nặng nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
[9]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến T, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2025/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Phú Thọ.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 và 54 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Tiến T 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/11/2024.
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Tiến T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - TAND khu vực 9, tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 9, tỉnh Phú Thọ; - CQCSĐT CA tỉnh Phú Thọ; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Trại tạm giam Số 2, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo, người bào chữa; - Lưu HS, văn phòng, Tòa Hình sự. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Trọng |
***
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T3. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2023/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T3.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T3 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T3 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Tam Đảo; - Phòng HS - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Tam Đảo; - TAND huyện Tam Đảo; - THADS huyện Tam Đảo; - Bị cáo; - Lưu HS, VP, Tòa hình sự. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Ngọc Huân |
Bản án số 131/2025/HS-PT ngày 15/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 131/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
