TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2026/HSST Ngày: 09/01/2026 | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI |
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Đức Cần
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Luyết
- Bà Lương Thị Phương
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Cảnh Hưng- Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 1 – Hà Nội.
- - Đại diện VKSND khu vực 1 – Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trương Thùy L - Kiểm sát viên.
Ngày 09/01/2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 – Hà Nội, xét xử công khai theo trình tự sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 283/2025/HSST ngày 12/12/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 567/2025/QĐ- ST ngày 29 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Đức T. Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nam Sinh năm: 2006. Nơi ĐKHKTT: Tổ 28 khu C, phường N, tỉnh Phú Thọ. Nơi ở: Số F hẻm A B, phường K, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Sinh viên Học viện C1. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên bố: Nguyễn Bằng L1, sinh năm: 1978. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1980. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất. Danh bản chỉ bản số: 014 lập ngày 20/10/2025 tại Công an phường G, Thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Tạm giữ: 15/10/2025. Hủy bỏ tạm giữ: 20/10/2025
Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Nông Quỳnh A, sinh năm 2001; HKTT: Thôn B, xã Y, tỉnh Tuyên Quang(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Đức T bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 21 giờ 00 phút ngày 14/10/2025, Tổ công tác của Công an phường G, thành phố Hà Nội kiểm tra Khách sạn I tại địa chỉ F P, phường G, thành phố Hà Nội, phát hiện tại phòng 801 có Nông Quỳnh A (Sinh năm: 2001; Nơi cư trú: Bản T, xã Y, tỉnh Tuyên Quang) và Lê Tuấn A1 (Sinh năm: 1996; Nơi cư trú: 25 tổ 34 Hoàng Cầu, phường Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội) đang có hành vi mua bán dâm. Tại chỗ, gái bán dâm Quỳnh A khai nhận được người sử dụng tài khoản zalo “Đức Thắng cf8” (là tài khoản zalo của Nguyễn Đức T) môi giới bán dâm cho Tuấn A1 với số tiền 8.000.000 đồng. Đối với khách mua dâm Lê Tuấn A1 khai để mua dâm đã được tài khoản Zalo tên “Đức Thắng” (là tài khoản zalo của Nguyễn Đức T) bố trí đưa gái bán dâm đến khách sạn I địa chỉ F P, phường G, thành phố Hà Nội để mua dâm, với số tiền là 10.000.000 đồng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, tạm giữ các tang vật liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.
Thu giữ từ Nguyễn Đức T:
- - 01 (một) điện thoại Iphone 11 Promax màu đen, IMEI: 352850110959899 và IMEI 2: 352850110887512, số SIM: 0879.657.428 (đã qua sử dụng). Qua kiểm tra phát hiện đang đăng nhập tài khoản Zalo “Đức Thắng” và nội dung tin nhắn liên quan đến hoạt động môi giới mại dâm.
Thu giữ từ Nông Quỳnh A:
- - 01 chiếc điện thoại Iphone 14 promax, màu tím có số IMEI: 353751254185524, gắn số sim 0389470265 (Đã qua sử dụng). Qua kiểm tra phát hiện đang đăng nhập tài khoản Zalo “Búp Bê Q” và nội dung tin nhắn liên quan đến hoạt động bán dâm.
- - 01 (Một) vỏ bao cao su (Đã qua sử dụng).
Thu giữ từ Lê Tuấn A1:
- - 01 điện thoại Iphone 7 plus màu vàng, Số Imei: 35860407274548, lắp sim: 0584367273 (Máy đã qua sử dụng)
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Đức T làm dịch vụ nhận đặt bàn cho khách hàng tại các quán bar T3 Hà Nội từ tháng 10/2024. Vào tháng 04/2025, T quen Nông Quỳnh A là dancer tại 01 quán bar trên đường N Quỳnh A bảo với T nếu có khách cần dancer nhảy tại bàn hoặc ngồi mời rượu thì gọi cho Quỳnh A. Đến khoảng 19 giờ 11 phút ngày 14/10/2025, Lê Tuấn A1 gọi điện thoại cho T để đặt bàn ở quán bar và bảo T giới thiệu 01 người nữ ngồi cùng và có bán dâm. Sau đó, T gọi điện cho Quỳnh A qua tài khoản Zalo “Búp bê Quế A2” và Quỳnh A đồng ý về việc bán dâm. T và Quỳnh A thống nhất báo giá bán dâm cho khách là 9.500.000 đồng, bán dâm xong T đưa cho Quỳnh A 8.000.000 đồng, còn 1.500.000 đồng là tiền công môi giới của T. Đến 19 giờ 45 phút cùng ngày, T gửi ảnh của Quỳnh A vào tài khoản Zalo tên “Minh D” là tài khoản của Lê Tuấn A1. T báo giá và Tuấn A1 đồng ý với mức giá đó. Tuấn A1 chuyển tiền vào tài khoản 236111126 mang tên Nguyễn Đức T tại ngân hàng M số tiền là 10.000.000 đồng và bảo 500.000 đồng là tiền công trả thêm. Sau khi gửi tiền xong, Tuấn A1 hẹn đến địa chỉ phòng 801 tầng 8 khách sạn I, phường G, TP . để thực hiện mua dâm. Nhận được tiền, T chuyển vào tài khoản số [...] tại ngân hàng M của Quỳnh A số tiền 500.000 đồng là tiền cọc. Khi Quỳnh A đến nơi, Lê Tuấn A1 ưng ý T chuyển nốt số tiền 7.500.000 đồng còn lại vào tài khoản cho Quỳnh A để thực hiện việc bán dâm.
Lê Tuấn Al khai: Do có nhu cầu mua dâm nên Tuấn Al có quen biết với Nguyễn Đức T để đặt bàn quán bar và nhắn tin qua ứng dụng Zalo với tài khoản “Đức Thắng” là tài khoản zalo của T. Vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 14/10/2025, sau khi trao đổi và thống nhất về việc mua dâm, Tuấn A1 đã đặt phòng 801 tầng 8 tại Khách sạn I địa chỉ F P, G, thành phố Hà Nội. Tuấn A1 sử dụng tài khoản zalo tên “Minh D” nhắn tin cho Nguyễn Đức T địa chỉ khách sạn để T bố trí gái bán dâm đến. Sau khi ưng ý về gái bán dâm, Tuấn A1 đã chuyển tiền từ tài khoản số 0819868585 mang tên Lê Tuấn A1 tại ngân hàng V đến tài khoản 236111126 mang tên Nguyễn Đức T tại ngân hàng M, số tiền 10.000.000 đồng. Trong đó: 9.500.000 là tiền cho một lần mua dâm, còn 500.000 đồng là tiền công môi giới của T. Đến 20 giờ 37 phút cùng ngày, thì gái bán dâm đến phòng của Tuấn Al thuê để thực hiện hành vi bán dâm và bị Công an phường G kiểm tra, bắt quả tang và đưa về trụ sở làm việc.
Nông Quỳnh A khai: Quỳnh A quen biết với T trong quá trình làm ở quán bar N1 có dặn T nếu có khách cần gái nhảy tại bàn và tiếp rượu thì gọi Quỳnh A. Vào khoảng 19 giờ ngày 14/10/2025, T sử dụng tài khoản Zalo “Đức Thắng cf8” trao đổi với Quỳnh A qua tài khoản zalo “Búp bê Quế A2” về việc đi bán dâm với giá 8.000.000 đồng tại phòng 801 Khách sạn I địa chỉ F P, G, TP .. Quỳnh A đồng ý với giá bán dâm và bắt taxi đến địa điểm trên. T chuyển tiền cho Quỳnh A 02 lần: lần một là 500.000 đồng là tiền cọc xác nhận bán dâm cho khách và lần hai là 7.500.000 đồng là tiền sau khi đã bán dâm xong đến số tài khoản 568888969999 của Nông Quỳnh A tại ngân hàng M. Sau khi đến phòng 801, Quỳnh A gặp Lê Tuấn Al và thực hiện hành vi bán dâm. Sau khi thực hiện hành vi bán dâm thì Quỳnh A và Tuấn A1 bị lực lượng công an vào kiểm tra bắt quả tang như trên.
Đối với điện thoại Iphone 14 promax, màu tím có số IMEI: 353751254185524, gắn số sim 0389470265 của Nông Quỳnh A và điện thoại Iphone 7 plus màu vàng, Số Imei: 35860407274548, lắp sim: 0584367273 của Lê Tuấn A1, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại cho Nông Quỳnh A và Lê Tuấn A1.
Đối với hành vi mua, bán dâm của Lê Tuấn A1 và Nông Quỳnh A đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị Định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội nên Cơ quan công an đã ra Quyết định xử phạm vi phạm hành chính và yêu cầu cam kết không tái phạm.
Đối với Công ty TNHH T4 (là chủ sở hữu cơ sở kinh doanh Khách sạn I), quá trình điều tra xác định chủ cơ sở kinh doanh mang tên Ngô Thanh T2 (Sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Số B ngõ B phố T, phường Đ, thành phố Hà Nội) theo giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh, mã số doanh nghiệp: 0106493926 do Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố H cấp. Tại Cơ quan công an, anh Ngô Thanh T2, anh Bùi Ngọc N và chị Nguyễn Thị U (là nhân viên Khách sạn I) cùng khai: ngày 14/10/2025, không biết có đôi nam nữ đến thuê phòng để thực hiện hành vi bán dâm đến khi cơ quan công an đến kiểm tra mới biết đôi nam nữ này đến thuê phòng để thực hiện hành vi bán dâm. Do vậy, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H không đề cập xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 12/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Môi giới mại dâm”, theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ Luật hình sự; Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, xác định có tội như cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố. Căn cứ tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 điều 328; Điều 65; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
- -Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 06 - 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách từ 12 - 16 tháng.
Vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 11 promax màu đen đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung công số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo và 8.000.000 đồng của Nông Quỳnh A.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, rất hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố H; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai và các chứng cứ tài liệu khác, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 14/10/2025, Nguyễn Đức T đã có hành vi dẫn dắt để Nông Quỳnh A bán dâm cho Lê Tuấn A1 tại phòng 801 Khách sạn I địa chỉ F P, phường G, thành phố Hà Nội với mục đích hưởng lợi 2.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đủ dấu hiệu cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo điều 328 của Bộ luật hình sự;
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, đồng thời còn xâm phạm đến đạo đức truyền thống, nếp sống văn minh và thuần phong mỹ tục, vì vậy cần phải xử nghiêm nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.
Khi lượng hình hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo T đang là sinh viên Học viện C1, có ông tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và là nạn nhân chất độc màu da cam, bố bị bệnh hiểm nghèo ung thư phổi đang điều trị. Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để bị cáo được hưởng án treo, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội, cho bị cáo được chấp hành án có điều kiện, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền sở tại cũng đủ cải tạo thành công dân tốt, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Gia đình có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 BLHS.
Vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 11 promax màu đen đã qua sử dụng.
- Buộc bị cáo T nộp sung công số tiền 2.000.000 đồng và Nông Quỳnh A nộp sung công 8.000.000 đồng tiền thu lời bất chính.
Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên, hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Môi giới mại dâm”;
- - Áp dụng khoản 1 điều 328; Điều 65; Điểm i, s khoản 1, 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 06(Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106,136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 11 promax màu đen đã qua sử dụng(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/01/2026 giữa cơ quan CSĐT công an thành phố H với phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Thành phố Hà Nội)
Buộc bị cáo T nộp sung công số tiền 2.000.000 đồng và Nông Quỳnh A nộp sung công 8.000.000 đồng tiền thu lời bất chính.
Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày toà tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đào Đức C |
Bản án số 13/2026/HSST ngày 09/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (môi giới mại dâm)
- Số bản án: 13/2026/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T môi giới mại dâm
