Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - HÀ NỘI

Bản án số: 129/2025/HSST

Ngày: 04/11/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Hà Nội

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bảo Long.

- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Long

2. Bà Trương Thị Thái

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 11 - Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tô Quốc Hải - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 11 năm 2025, Toà án nhân dân Khu vực 11 - Hà Nội xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn N; Tên gọi khác: Đặng Văn T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1994, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã M, huyện T (nay là xã P), thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Họ tên cha: Đặng Văn H (sinh năm: 1967); Họ tên mẹ: Trần Thị T1 (Sinh năm: 1972), Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Ngày 11/11/2014, Toà án Nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng
  • + Ngày 07/8/2019, Công an huyện P, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi " Đánh bạc”.
  • + Ngày 13/4/2021, Toà án Nhân dân huyện Thường Tín xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 25/02/2022 (đã được xóa án tích).
  • + Ngày 20/7/2025, bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã số 4366 ngày 11/04/2025 của cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H (Biên bản bắt người đang bị truy nã lập hồi 16 giờ 30 phút ngày 20/7/2025). Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên toà)

Bị hại:

Chị Trần Thị T2, sinh năm 1980, HKTT: Thôn N, xã V, huyện T (nay là xã H), thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).

Anh Trần Hoàng T3, sinh năm 1961 và vợ là chị Đỗ Thị D; Sinh năm: 1978; Cùng HKTT: D N, phường P, quận B, (nay là phường B), thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Với mục đích trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân, từ tháng 7/2024 đến tháng 12/2024, Đặng Văn N và Phạm Quang A đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T (cũ), cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 19/7/2024, Đặng Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, không biển kiểm soát đi đến nhà Phạm Quang A ở thôn T, xã M, huyện T, thành phố Hà Nội rủ Quang A đi trộm cắp tài sản thì Quang A đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô chở Quang A đi theo đường Q ra đường gom dân sinh ven đường C - Cầu G từ xã V đến xã V, huyện T để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến cánh đồng thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội thì N phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen không biển kiểm soát của chị Trần Thị T2 đang dựng ở nền đất ven đường, chìa khóa cắm ở ổ khóa, đồng thời quan sát thấy chị T2 đang làm ruộng tại cánh đồng đối diện nên Quang A đi đến và ngồi lên chiếc xe mô tô của chị T2, nổ máy và điều khiển chiếc xe bỏ chạy theo hướng đi xã C rồi đi theo đường gom cao tốc để về nhà tại thôn T, xã M.

Sau khi bị mất xe, chị T2 thông báo cho con trai là Nguyễn Tiến Đ biết sự việc. Đ đã rủ Nguyễn Văn Q đi theo tín hiệu định vị của chiếc điện thoại di động Iphone XS màu vàng 256GB mà chị T2 để trong cốp xe đến vị trí khu vực nhà của Quang A. Khi đi đến ngõ vào nhà Quang A thì Đ và Q thấy N đang tháo yếm xe nên đã hô to: "Bọn mày trộm tài sản à?" thì Quang A và N bỏ chạy thoát. Sau đó, Đ và Q đã mang chiếc xe mô tô trên về cho chị T2. Ngày 31/12/2024, chị Trần Thị T2 có đơn trình báo nội dung sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T.

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 04/12/2024, Đặng Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ không có biển kiểm soát chở Phạm Quang A đi đến nghĩa trang thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Tại đây, N và Quang A phát hiện thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen biển kiểm soát: 29BA-078.78 của anh Trần Hoàng T3 đang dựng ở trên đường, chìa khóa cắm ở ổ khóa. Quan sát thấy không có người trông giữ, Quang A đi đến ngồi lên chiếc xe mô tô, mở khóa, nổ máy và điều khiển xe đi đến đường dân sinh ven đường C - Cầu G. Khi đi đến địa phận xã T, huyện T thì Quang A dừng xe, tháo biển kiểm soát và gương chiếu hậu bên trái của xe rồi ném xuống ao nước gần đó.

Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, Quang A điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được và N điều khiển xe mô tô Honda màu đỏ của mình đi đến nhà Ngô Tiến T4 ở thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, Quang A dựng chiếc xe mô tô trộm cắp được ở ngoài ngõ đợi, còn N đi xe mô tô của mình vào trong sân nhà T4 để gặp T4 và nói muốn bán chiếc xe Honda Wave Alpha màu đen cho T4. Thụ hỏi N xe có giấy tờ không thì N nói xe không có giấy tờ gì nên T4 không đồng ý mua xe. Lúc này lực lượng công an xã T tuần tra trên địa bàn xã thấy N và Quang A có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính thì N bỏ chạy, còn Quang A bị giữ lại và đưa về trụ sở công an xã T cùng chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha màu đen để làm việc.

Tại Bản kết luận định giá số 65/KL-HĐĐG ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha Biển kiểm soát 29BA-078.78, số khung RLHJA3938RY651942, số máy JA70E0438728 mua mới đưa vào sử dụng tháng 10/2024, bị mất trộm ngày 04/12/2024, tại thời điểm định giá có giá: 17.000.000 đồng

Tại Bản kết luận định giá số 07/KL-HĐĐG ngày 10/02/2025 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xám đen không đeo biển số, số khung RLHHC12119Y207999, số máy HC12E1408856 mua mới đưa vào sử dụng tháng 11/2009, bị mất trộm ngày 19/07/2024 tại thời điểm định giá có giá là 1.000.000 đồng.
  • - 01 điện thoại Iphone XS màu vàng 256GB mua cũ và sử dụng năm 2022, bị mất trộm ngày 19/07/2024 (Trước khi bị mất điện thoại vẫn hoạt động sử dụng bình không thu giữ được tang vật) tại thời điểm định giá có giá là 3.000.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản định giá là: 4.000.000 đồng.

Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 04/12/2024 cùng với Phạm Quang A thì Đặng Văn N đã bỏ trốn. Ngày 27/02/2025, Cơ quan điều tra ra quyết định tách vụ án hình sự số 250/QĐ-ĐTTH. Ngày 11/4/2025, Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã đối với Đặng Văn N. Ngày 20/7/2025, Đặng Văn N bị bắt giữ tại xã P, thành phố Hà Nội.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai không trộm cắp chiếc điện thoại di động Iphone XS màu vàng 256GB và số tiền khoảng 500.000 đồng có trong cốp xe của chị T2.

Tại Bản án số 44/2025/HSST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xét xử Phạm Quang A về tội Trộm cắp tài sản và xử lý vật chứng, về dân sự theo quy định pháp luật (án đã có hiệu lực pháp luật).

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 30X5-9488 màu đỏ N điều khiển đi trộm cắp tài sản ngày 19/7/2024 và ngày 04/12/2024. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Đặng Văn T5 (Sinh năm: 1990, HKTT: thôn L, xã P, thành phố Hà Nội) là anh trai của N. Anh T5 không biết việc N điều khiển chiếc xe mô tô này đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã bàn giao lại chiếc xe mô tô này cho anh T5 quản lý sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKSKV11 ngày 29/9/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Hà Nội truy tố bị cáo Đặng Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, công nhận nội dung bản cáo trạng là đúng và mong hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Các bị hại của vụ án vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án của họ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần áp dụng đối với bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tại bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn N từ 20 - 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Không xem xét vấn đề bồi thường dân sự.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại...

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bản kết luận định giá tài sản, lời khai của người làm chứng, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ... cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Với mục đích trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2024 đến tháng 12/2024, Đặng Văn N và Phạm Quang A đã cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể: Khoảng 12 giờ ngày 19/7/2024, tại cánh đồng thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (nay là: xã C, thành phố Hà Nội), Đặng Văn N và Phạm Quang A có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen không biển kiểm soát trong cốp xe có 01 điện thoại Iphone XS màu vàng dung lượng 256GB của chị Trần Thị T2, tổng trị giá tài sản là 4.000.000 đồng; Khoảng 13 giờ ngày 04/12/2024, tại nghĩa trang thôn B, xã T, huyện T, TP ., Đặng Văn N và Phạm Quang A có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen BKS: 29BA-078.78 của anh Trần Hoàng T3, vợ là chị Đỗ Thị D, trị giá 17.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà Đặng Văn N và Phạm Quang A trộm cắp là 21.000.000 đồng. Hành vi của Đặng Văn N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi nhưng vì không làm chủ được bản thân nên đã nhiều lần trộm cắp tài sản của người khác. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần nhận được sự giáo dục của pháp luật. Vì vậy cần phải đưa ra một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã thực hiện 02 hành vi trộm cắp trong khoảng thời gian ngắn nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về bồi thường dân sự:

Tại bản án số 44/2025/HSST ngày 22/4/2025, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội đã giải quyết xong phần bồi thường dân sự, buộc bị cáo Phạm Quang A phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Trần Thị T2 số tiền 3.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen không biển kiểm soát. Quá trình điều tra làm rõ chủ sở hữu là chị Trân Thị T6. Ngày 31/12/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T6 chiếc xe trên quản lý, sử dụng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xét

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen BKS: 29BA-078.78. Quá trình điều tra làm rõ chủ sở hữu là chị Đỗ Thị D, là vợ của anh Trần Hoàng T3. Ngày 28/12/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị D chiếc xe trên để quản lý, sử dụng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 30X5-9488 màu đỏ N điều khiển đi trộm cắp tài sản ngày 19/7/2024 và ngày 04/12/2024. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Đặng Văn T5 là anh trai của N. Anh T5 không biết việc N điều khiển chiếc xe mô tô này đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã bàn giao lại chiếc xe mô tô này cho anh T5 quản lý sử dụng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Từ các nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn N (tức Đặng Văn T) phạm tội “Trộm cắp tài sản"
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật Hình sự 2015;
  3. Áp dụng: Các Điều 135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;
  4. Áp dụng: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
  5. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn N (tức Đặng Văn T) 01(một) năm 08(tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ 20/07/2025.
  6. Về xử lý vật chứng: Không xét
  7. Về bồi thường dân sự: Không xét
  8. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội ;
  • - VKSND Khu vực 11- Hà Nội;
  • - Phòng THADS Khu vực 11- Hà Nội;
  • - Bị cáo
  • - Bị hại
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Long

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/HSST ngày 04/11/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Hà Nội về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 129/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: n phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger