Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2025/DS-PT

Ngày: 04 - 12 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung và bà Nguyễn Thị Mỹ Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 03 và ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DSST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 2-Nghệ An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 207/2025/QĐPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Hồ Văn H, sinh năm 1964; địa chỉ: xóm C xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nay là khối C, phường V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông H: Bà Đinh Thị Thúy H1 - Luật sư thuộc Công ty TNHH L - Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Hà Văn C, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm G xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nay là xóm N, xã T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • Đại diện theo ủy quyền của anh Hà Văn C (Giấy ủy quyền lập ngày 26/11/2024, công chứng tại Văn phòng C2): Anh Hoàng Đình T, sinh năm 1988, địa chỉ thường trú: ấp P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nay là ấp P, xã L, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ liên hệ: Số A, đường Đ, ấp H, xã L, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Chị Nguyễn Thị D, địa chỉ: xóm G xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nay là xóm N, xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Đại diện theo ủy quyền của chị D (Giấy ủy quyền lập ngày 26/11/2024, công chứng tại Văn phòng C2): Anh Hoàng Đình Tất . Có mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1968; địa chỉ: xóm C xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nay là khối C, phường V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng:

  1. Anh Trần Văn N, sinh năm 1989; địa chỉ: xóm C phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nay là khối C, phường V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  2. Anh Trần Văn S – sinh năm 1987; địa chỉ: xóm C xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nay là khối C, phường V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn V – sinh năm 1984; Địa chỉ: xóm C phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Nay là khối C, phường V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

* Người kháng cáo: anh Hà Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/09/2024, ông Hồ Văn H và anh Hà Văn C ký kết Hợp đồng đặt cọc (về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất) với các nội dung:

Anh C (bên A) đồng ý bán cho ông H (bên B) thửa đất số 372, tờ bản đồ số 9, địa chỉ thửa đất tại xóm C, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, (nay là khối C, phường V, tỉnh Nghệ An); Diện tích: 192,1m², được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 796046 mang tên người sử dụng anh Hà Văn C và chị Nguyễn Thị D. Giá chuyển nhượng: 1.650.000.000 đồng. Ông H đặt cọc trước 300.000.000 đồng (tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc). Thời hạn đặt cọc là 38 ngày (kể từ ngày 07/09/2024 đến 15h ngày 15/10/2024). Sau khi bên A nhận đủ tiền cọc sẽ cùng bên B làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Khi thủ tục công chứng hoàn tất, bên B phải giao đủ số tiền còn lại cho bên A. Bên B phải chịu các loại thuế, phí. Bên A cam kết tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, có đủ các giấy tờ liên quan để chứng minh và bên A cam đoan tài sản này không có thừa kế gia đình, không có tranh chấp với bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Bên A bàn giao đủ đất cho bên B, đủ diện tích như trong bìa trước khi ra văn phòng công chứng. Đến ngày 15/9/2024 bên B sẽ cọc thêm cho bên A 500.000.000 đồng. Sau khi Hợp đồng được ký kết, quá thời hạn thỏa thuận trên, nếu bên A không bán, chuyển nhượng tài sản đặt cọc trên cho bên B, thì bên A phải bồi thường cho bên B gấp hai (2) lần số tiền mà bên B đã đặt cọc cho bên A. Tổng số tiền hoàn trả và bồi thường

là 600.000.000 đ (Sáu trăm triệu đồng). Ngược lại, nếu bên B không tiến hành mua thì phải chịu mất số tiền đã cọc nêu trên. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì trở ngại thì hai bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận dựa trên tinh thần tôn trọng quyền lợi lẫn nhau. Nếu hai bên không thống nhất được thì đề nghị khiếu nại lên Tòa án và giải quyết theo P quy định.

Sau khi ký kết, các bên thuê đơn vị đo đạc về định vị thửa đất thì phát hiện thấy có sự sai lệch mốc giới trên bản đồ địa chính và thực tế sử dụng thửa đất số 372 với các thửa đất liền kề (thửa 15 của bà Nguyễn Thị N1 và thửa 358 của anh Trần Văn S). Căn cứ vào kết quả định vị đất trên thực địa, anh S đã đóng cọc bê tông, sau đó, xây bờ bao diện tích đất mà anh C cho là thuộc quyền sử dụng của anh C.

Ngày 11/9/2024, anh C gửi cho ông H Thông báo về việc tạm dừng thực hiện hợp đồng do ngày 09/9/2024 có phát sinh tranh chấp đất giữa anh C và anh S nhưng không thương lượng được và đồng thời anh C đã gửi yêu cầu UBND xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An hòa giải. Anh C đề nghị tạm dừng việc thực hiện hợp đồng đặt cọc ngày 07/09/2024 và tạm thời không tiếp nhận số tiền đặt cọc lần hai là 500.000.000 đồng vào ngày 15/09/2024 như thỏa thuận. Sau khi nhận thông báo, hai bên liên tục trao đổi với nhau qua ứng dụng Zalo, trong đó, ngày 12/9/2024, anh C đề nghị hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và lập lại hợp đồng mới. Ngày 15/9/2024, ông H cũng không giao tiền cọc lần hai như Thông báo của anh C.

Ngày 22/9/2024, anh C lại nhắn tin cho ông H đề nghị hợp tác để anh C được trả lại tiền cọc. Đến ngày 09/10/2024, anh C gửi cho ông H Thông báo về việc đơn phương hủy bỏ hợp đồng (đề ngày 09/10/2024) với lý do đất đang có tranh chấp nên không thể ký kết hợp đồng chuyển nhượng, hai bên chưa thỏa thuận được về việc hủy bỏ hợp đồng đặt cọc nên anh C thông báo cho ông H về việc anh C đơn phương hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ngày 07/9/2024 giữa hai bên.

Ngày 15/10/2024, ông H và anh C cùng người làm chứng là anh V, anh N đến Văn phòng công chứng Trung tâm để ông C trao tiếp số tiền 500.000.000 đồng. Tại đây, anh C yêu cầu ông Hữu K vào Biên bản thỏa thuận do anh C lập sẵn thì mới đồng ý nhận cọc lần 2. Sau khi xem xong nội dung, ông H vẫn đề nghị tiếp tục thực hiện hợp đồng, thống nhất với diện tích đất không đủ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng giá chuyển nhượng như cũ nhưng không đồng ý ký Biên bản vì cho rằng có quá nhiều bất lợi cho ông.

Ngày 25/10/2024, ông H nộp Đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2-Nghệ An) khởi kiện: buộc anh C tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc ngày 07/9/2024; trường hợp không thể thực hiện hợp đồng đặt cọc được thì buộc anh C phải hoàn trả

tiền cọc 300.000.000 đồng, tiền phạt cọc 300.000.000 đồng theo thỏa thuận và tiền lãi chậm trả theo mức 10%/năm.

Anh C và vợ là chị D đề nghị chấm dứt hợp đồng đặt cọc, đồng ý trả lại tiền cọc 300.000.000 đồng, không chấp nhận tiền phạt cọc. Anh C cho rằng việc mình chấm dứt hợp đồng đặt cọc là đúng pháp luật, không có lỗi vì không thể ký hợp đồng chuyển nhượng được, việc giải quyết tranh chấp đất đai cũng không biết đến lúc nào mới kết thúc; việc đất thế chấp cho Ngân hàng E không ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch đặt cọc và vào thời điểm các bên giao kết hợp đồng đặt cọc ông H đã biết việc anh yêu cầu nhận cọc 500.000.000 đồng vào ngày 15/9/2024 là để giải chấp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H rút yêu cầu buộc trả lãi chậm trả.

Tại Bản án sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2-Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ các Điều: 26, 35, 39, 147, 217, 227, 229, 244, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều: 117, 275, 278, 328, 420, 423, 428, 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  • - Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn H về việc buộc bị đơn anh Hà Văn C phải tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07/9/2024 liên quan đến thửa đất số 372.
  • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H về việc chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày 07/9/2024 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 372. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc buộc anh Hà Văn C phải hoàn trả tiền cọc và chịu phạt cọc: Buộc anh Hà Văn C phải trả cho ông Hồ Văn H 300.000.000 đồng tiền đặt cọc và phải chịu 300.000.000 đồng tiền phạt cọc. Tổng số tiền anh C phải trả cho ông H là 600.000.000 đồng.
  • - Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông H về việc buộc anh C phải trả tiền lãi cho số tiền chậm trả đối với số tiền 600.000.000 đồng cho đến khi hoàn trả đủ số tiền trên theo lãi suất 10%/năm.
  • - Về án phí: Buộc bị đơn anh Hà Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 28.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, quyền kháng cáo và chế định thi hành án dân sự cho các đương sự

Ngày 23/9/2025 bị đơn anh Hà Văn C nộp Đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo quy định của pháp luật. Ngày 21/11/2025, anh C nộp bản tự khai trình bày về các vi phạm tố tụng của tòa án cấp sơ thẩm gồm: xác định quan hệ pháp luật tranh chấp không đúng dẫn đến xác định thẩm quyền xét xử sai quy định tại Điều 39 và Điều 188

của Bộ luật Tố tụng dân sự; thu thập lời khai của ông Trần Văn S không đúng; không triệu tập những người làm chứng đến phiên tòa và không cho đương sự đối chất với người làm chứng có lời khai mâu thuẫn với đương sự; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng tại phiên tòa (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trả lời thay cho ông H; hội thẩm nhân dân tranh luận với bị đơn); bản án đánh giá chứng cứ thiếu khách quan; không xác định án phí đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên đề nghị Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Hiện nay, tranh chấp đất đai với anh S do anh C khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực 1-Nghệ An vẫn chưa giải quyết xong nên không thể chuyển nhượng đất được. Vì vậy, bị đơn vẫn không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Nguyên đơn không đồng ý với các yêu cầu kháng cáo và đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Những người làm chứng (anh Nguyễn Văn V, anh Trần Văn N) có mặt thừa nhận lời khai của họ đã được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm về kháng cáo như sau: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Buộc anh C phải nộp án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo ngày 23/9/2025 của bị đơn anh Hà Văn C được nộp trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; ngày 21/11/2025 anh C nộp bản khai đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của anh C theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo:

[2.1]. Xét ý kiến của bị đơn về việc Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm quy định về phạm vi xét xử, vi phạm thẩm quyền xét xử quy định tại Điều 39, Điều 188 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong Đơn khởi kiện đề ngày 25/10/2024 và ngày 11/11/2024, người khởi kiện ông Hồ Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc anh C tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc ngày 07/9/2024; trường hợp không thể thực hiện hợp đồng đặt

cọc được thì buộc anh C phải hoàn trả tiền cọc 300.000.000 đồng, tiền phạt cọc 300.000.000 đồng theo thỏa thuận và tiền lãi chậm trả theo mức 10%/năm. Xét đây là yêu cầu khởi kiện liên quan đến tranh chấp hợp đồng dân sự (đặt cọc); người bị kiện (bị đơn) có nơi cư trú tại xóm G xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nguyên đơn có quyền quyết định việc khởi kiện quan hệ tranh chấp nào nên Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2-Nghệ An) thụ lý giải quyết sơ thẩm theo Thông báo thụ lý số 85/2024/TLST-DS ngày 11/11/2024 là đúng quy định tại khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2]. Ngày 07/9/2024, ông Hồ Văn H và anh Hà Văn C đã giao kết Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất số 372, tờ bản đồ số 09, vị trí: xóm C xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An (nay là khối C, phường V, tỉnh Nghệ An). Hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng đặt cọc có hiệu lực pháp luật là đúng. Theo quy định tại Điều 401 của Bộ luật Dân sự, Hợp đồng đặt cọc phát sinh hiệu lực kể từ ngày 07/9/2024 và các bên có nghĩa vụ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận tại hợp đồng.

Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc, ngày 08/9/2024, ông H và anh C thuê máy móc về đo đạc thì phát hiện có sự sai lệch mốc giới ranh giới giữa hiện trạng sử dụng đất và bản đồ địa chính, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bị đơn. Theo đó, anh Trần Văn S, chủ sử dụng thửa đất liền kề (thửa 358) đã căn cứ kết quả đo đạc hiện trạng, vào ngày 10/9/2024 tiến hành đóng các cọc bê tông vào sâu trong thửa đất số 372 kích thước 0,5m chiều rộng, sâu kéo dài hết đất gây ra tình trạng tranh chấp đất đai giữa anh S với gia đình anh C. Xét thấy, sự việc tranh chấp đất đai xảy ra là có thật (qua việc thông báo của anh C cho ông H, việc UBND xã N hòa giải ngày 17/10/2024 và Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết tranh chấp ngày 02/4/2025) nhưng diễn ra sau khi giao kết hợp đồng, không có căn cứ nào chứng minh việc một trong hai bên đã biết hoặc phải biết trước về sự kiện này nên anh C thông báo cho ông H về việc tạm dừng tiếp nhận tiền đặt cọc đợt 2 (ngày 15/9/2024) để giải quyết tranh chấp là phù hợp, thể hiện sự thiện chí của bên nhận cọc; ông H không tiếp tục giao tiền cọc đợt 2 là thể hiện việc chấp nhận đề nghị tạm dừng hợp đồng của anh C. Hai bên không thỏa thuận gia hạn hợp đồng đặt cọc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 420 của Bộ luật Dân sự thì đây là “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” để các bên có thể sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý theo quy định tại Điều 421 của Bộ luật Dân sự.

Tuy nhiên, đến ngày 09/10/2024 (khi chưa hết thời hạn thực hiện hợp đồng đặt cọc – là ngày 15/10/2024 và cũng chưa được UBND xã N tổ chức hòa giải – ngày 17/10/2024), anh C đã gửi thông báo cho ông H về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng. Trong thông báo này, anh C xác định, cho đến nay (ngày 09/10/2024), hai bên vẫn không thỏa thuận được việc hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ngày 07/9/2024; với lý do đất có tranh chấp không thể chuyển nhượng được nên anh C “thông báo đến ông (H) về việc đơn phương hủy bỏ hợp đồng đặt cọc giữa tôi (anh C) và ông (H)”. Trong thông báo cũng như thừa nhận của anh C tại phiên tòa phúc thẩm thì ông H chưa có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Lẽ ra, khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, nếu không đạt được sự thỏa thuận, theo khoản 2 Điều 420 của Bộ luật Dân sự, anh C phải thực hiện quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp. Ông H không có bất kỳ vi phạm nào theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 423; Điều 424; Điều 425; Điều 426 của Bộ luật Dân sự nên pháp luật không cho phép anh Cường quyền được tự ý hủy bỏ hợp đồng (việc hủy bỏ hợp đồng là quyền của người có quyền lợi bị vi phạm). Việc bị đơn viện dẫn lý do không thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đơn phương hủy bỏ hợp đồng đặt cọc là không phù hợp vì hợp đồng đặt cọc và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hai hợp đồng độc lập; trong hợp đồng đặt cọc không thỏa thuận việc nếu một trong hai hợp đồng vô hiệu sẽ dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng còn lại. Như vậy, việc anh C đơn phương hủy bỏ hợp đồng là không có căn cứ nên theo khoản 5 Điều 427 của Bộ luật Dân sự, anh C là người vi phạm dẫn đến việc hợp đồng đặt cọc không thể tiếp tục thực hiện được. Theo thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc và quy định tại Điều 328 của Bộ luật Dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn phải hoàn trả tiền cọc và tiền phạt cọc 600.000.000 đồng cho nguyên đơn là đúng pháp luật.

Việc anh C gửi Biên bản thỏa thuận ngày 13/10/2024 do anh C tự soạn thảo cho ông H về việc thỏa thuận giao kết hợp đồng chuyển nhượng đất mới nhưng mang nhiều yếu tố bất lợi cho ông H là chưa thực hiện đúng giao kết là “hai bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận dựa trên tinh thần tôn trọng quyền lợi lẫn nhau”. Vì vậy, ông H không chấp nhận là phù hợp pháp luật.

[2.3]. Đối với ý kiến của bị đơn về việc tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trả lời thay câu hỏi của bị đơn là vi phạm. Hội đồng xét xử thấy: khoản 3 Điều 250 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Nguyên đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trả lời thay cho nguyên đơn và sau đó nguyên đơn trả lời bổ sung.”, nên việc chị H1 trả lời thay cho ông H tại phiên tòa sơ thẩm và ông H chấp nhận các câu trả lời của chị H1 là đúng quy định.

[2.4]. Việc Thẩm phán cấp sơ thẩm lấy lời khai và xác minh thông tin tại người làm chứng (anh S) do anh S là người biết, liên quan trực tiếp đến sự kiện tranh chấp đất đai (không phải với tư cách công chức của UBND xã N) là phù hợp với quy định tại Điều 97 và Điều 99 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thẩm phán không tiến hành đối chất giữa anh C với những người làm chứng hoặc không triệu tập những người làm chứng đến phiên tòa sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến xác định tính có căn cứ của hành vi anh C đơn phương hủy bỏ hợp đồng vì tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời thừa nhận của nguyên đơn, bị đơn đã thể hiện rõ. Như vậy, thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.5]. Đối với nội dung Hội thẩm không đặt ra câu hỏi mà tranh luận với đương sự tại phiên tòa ngày 12/9/2025: căn cứ vào Bản án, Biên bản phiên tòa thì “Phần tranh tụng” bao gồm “Phần Hỏi” đã diễn ra, kết thúc trong chiều ngày 10/9/2025; vào cuối giờ chiều ngày 10/9/2025 sau khi kết thúc tranh tụng, Hội đồng xét xử quyết định kéo dài thời gian nghị án và tuyên án vào lúc 14 giờ ngày 12/9/2025. Như vậy, không có hoạt động “Hỏi” nào diễn ra ngày 12/9/2025 nên việc bị đơn cho rằng, Hội thẩm nhân dân tranh luận với bị đơn ngày 12/9/2025 là không có căn cứ.

[2.6]. Đối với ý kiến của bị đơn về việc Tòa án cấp sơ thẩm không buộc ông H phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện (tiếp tục thực hiện hợp đồng) không được chấp nhận. Hội đồng xét xử thấy: ông Hữu sinh năm 1964, tại thời điểm xét xử sơ thẩm, ông H đã trên 60 tuổi, là người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi; có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí ngày 25/10/2024 nên Tòa án cấp sơ thẩm cho miễn án phí là đúng luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không nhận định lý do cho miễn trong bản án là thiếu sót nhưng không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự cũng như nội dung quyết định của bản án.

[3]. Từ những nhận định trên thì thấy, kháng cáo của bị đơn anh Hà Văn C là không có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4]. Về án phí: yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên anh C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Xử: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Hà Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2-Nghệ An.
  2. Về án phí: anh Hà Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000990 do Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An phát hành ngày 08/10/2025.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Nghệ An;
  • -Các đương sự;
  • -TAND KV2-Nghệ An;
  • -VKSND KV2-Nghệ An;
  • -Phòng THADS KV2-Nghệ An;
  • -THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Hồng Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/DS-PT ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 129/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bác kháng cáo, y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger