|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI Bản án số: 128/2025/HSST Ngày 06/11/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cát
Ông Trương Công Tráng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Mai Lương Sơn – Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXXST-HS ngày 09/10/2025 đối với bị cáo:
Vũ Đình T, sinh năm 1987; hộ khẩu thường trú: Thôn P, V, B, Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo, đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Vũ Đình M, sinh năm 1960, con bà Vũ Thị L sinh năm 1962; vợ là Đỗ Thị N và có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2023); danh, chỉ bản số 399 lập ngày 15/5/2025 tại P; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Ngày 11/11/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H) khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
- - Ngày 23/4/2025 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
- - Ngày 11/6/2025 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác theo Lệnh tạm giam của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Lê Văn H, sinh năm 1989; trú tại: Thôn C, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội (nay là xã T, thành phố Hà Nội). Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lê Thị H1, sinh năm 1976; trú tại: Thôn T, xã T, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Lê Văn H và bị cáo Vũ Đình T là bạn bè quen biết xã hội với nhau do năm 2018, H nhờ T làm thủ tục cấp Visa cho H để H đi nước ngoài.
Năm 2020, T thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn D tourist, đặt trụ sở tại thôn P, xã K, có ngành nghề kinh doanh là tổ chức các tour du lịch trong và ngoài nước, bán buôn, bán lẻ thực phẩm; vận tải hành khách bằng đường bộ và đường biển (không có chức năng đưa người đi xuất khẩu lao động). Đến năm 2023, công ty của Thanh ngừng hoạt động do dịch Covid-19.
Tháng 11/2024, anh Lê Văn H có nhu cầu muốn đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc nên đã liên lạc với T để làm hồ sơ, thủ tục. Bản thân T lúc đó không làm công việc gì có chức năng đưa người đi xuất khẩu lao động ra nước ngoài, nhưng do đang làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều nên T đã nhận lời sẽ giúp H làm hồ sơ, thủ tục để H sang xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của H. Ngày 06/11/2024, T thống nhất với H về việc T sẽ làm hồ sơ, thủ tục để H đi xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc với tổng số tiền chi phí là 400.000.000 đồng, trong đó H phải đặt cọc trước cho T số tiền 200.000.000 đồng. T hứa hẹn đến ngày 23/11/2024 H sẽ được đi xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc.
Ngày 07/11/2024, anh H nhờ chị Lê Thị H1 (chị họ của anh H) sử dụng tài khoản số [...] tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M1) của chị H1 chuyển khoản số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng đến tài khoản số 19030483609016 tại ngân hàng thương mại cổ phần K (T1) của Vũ Đình T, mục đích để đặt cọc chi phí đi xuất khẩu lao động của H. Cùng ngày, T đã chuyển toàn bộ số tiền 200.000.000 đồng trên sang tài khoản số 9928800888 tại Ngân hàng T1 của T rồi sử dụng toàn bộ số tiền này vào mục đích cá nhân. Sau đó, H liên lạc với T nhưng không được nên ngày 18/12/2024, H làm
đơn tố giác Vũ Đình T gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H).
Tại Cáo trạng số 73/CT-VKS-HĐ ngày 24/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội đã truy tố Vũ Đình T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa trong phần tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi đánh giá hành vi phạm tội, mức độ, vai trò phạm tội các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Xử phạt bị cáo Vũ Đình T từ 06 đến 07 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
- + Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền chiếm đoạt 200.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã cho bị hại mượn 200.000.000 đồng để chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo, không đề nghị xem xét trong vụ án này nên không xét.
- + Xử lý vật chứng: Không có.
- - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Vũ Đình T không có chức năng, nhiệm vụ làm thủ tục đưa người Việt Nam
đi xuất khẩu lao động sang nước Hàn Quốc nhưng sau khi anh Lê Văn H có nhu cầu nhờ bị cáo làm thủ tục xuất khẩu lao động cho anh H sang nước Hàn Quốc, vì muốn chiếm đoạt tiền của anh H nên bị cáo đã đồng ý, cam kết ngày 23/11/2024 anh H sẽ đi xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc, chi phí làm thủ tục hết 400.000.000 đồng. Bị cáo yêu cầu anh H đặt cọc trước 200.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền để tạo tin tưởng của anh H bị cáo đã bảo anh H gửi ảnh và căn cước công dân của anh H vào mạng Messenger của bị cáo nhưng bị cáo không làm thủ tục xuất khẩu lao động sang nước Hàn Quốc cho anh H. Số tiền anh H đặt cọc bị cáo đã chiếm đoạt chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi lừa đảo của bị cáo nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, số tiền chiếm đoạt thuộc điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 đã truy tố bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt Hội đồng xem xét thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo cần xem xét áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt của anh H số tiền 200.000.000 đồng, hiện chưa bồi thường. Anh H yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên là có căn cứ nên buộc bị cáo phải bồi thường trả cho anh H số tiền 200.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị H1 đã cho anh H mượn số tiền 200.000.000 đồng để chuyển cho bị cáo, chị H1 có đơn đề nghị không xem xét trách nhiệm trả tiền của anh H cho chị trong vụ án này, anh H sẽ có trách nhiệm riêng với chị nên Tòa không xét. Chị H1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lê Văn H.
[6]. Về xử lý vật chứng: Không có.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584 của Bộ luật dân sự; Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Buộc bị cáo Vũ Đình T phải bồi thường cho anh Lê Văn H số tiền 200.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hạnh |
Bản án số 128/2025/HSST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 128/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Đình T có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt số tiển 200.000.000
