|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số 128/2025/HS-ST Ngày 27-10-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Kim Dung;
- Bà Hồ Thị Lan.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Như Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Văn Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2025, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn C; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 30/12/1963, tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ D, khu Q, phường T, tỉnh Quảng Ninh; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; đoàn thể: không; con ông: Bùi Văn D và bà: Lê Thị H; có vợ và 2 con; tiền án, tiền sự: chưa; Bị bắt quả tang ngày 03/9/2025, trả tự do ngày 05/9/2025, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày kết thúc phiên toà sơ thẩm. Có mặt.
Họ và tên: Lê Công S; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 01/01/1967, tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ A, khu M, phường T, tỉnh Quảng Ninh; trình độ học vấn: 05/10; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; đoàn thể: không; con ông: Lê Công D1 và bà: Nguyễn Thị Đ; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa; Bị bắt quả tang ngày 03/9/2025, trả tự do ngày 05/9/2025, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày kết thúc phiên toà sơ thẩm. Có mặt.
Họ và tên: Lê Thị H1; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; sinh ngày: 21/7/1984, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ A, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Con ông Lê Kỳ C1 và bà Bùi Thị Đ1;có chồng (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang ngày 03/9/2025, trả tự do ngày 05/9/2025, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày kết thúc phiên toà sơ thẩm. Có mặt.
Họ và tên: Lê Minh Đ2; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 07/02/1959, tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ A, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; đoàn thể: không; con ông: Lê Văn C2 và bà: Phạm Thị D2; có vợ và 4 con; tiền án, tiền sự: chưa; Bị bắt quả tang ngày 03/9/2025, trả tự do ngày 05/9/2025, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày kết thúc phiên toà sơ thẩm. Có mặt.
*. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị L, sinh năm 1958;
Nơi cư trú: Tổ A, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh.
Có mặt tại phiên toà.
*. Người làm chứng: Nguyễn Văn T. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 ngày 03/9/2025, lần lượt Lê Minh Đ2, Bùi Văn C, Lê Thị H1, Lê Công S đến nhà bà Phạm Thị L, sinh năm 1958, nơi thường trú tại tổ A, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh ngồi chơi uống nước ở ngoài hiên nhà, nhưng bà L đi làm vắng không có ở nhà. Tại đây, C thấy góc hiên nhà có 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá nên đã rủ mọi người cùng chơi bài được thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm 08 lá, thì H1, S và Đ2 đồng ý. Sau đó, C lấy bộ bài đưa cho H1 và cầm chiếc chiếu cùng với Đ2 đi vào phòng khách cạnh cửa ra vào nhà bà L rồi trải ra để ngồi chơi bài. Trong lúc cả nhóm ngồi đánh bài thì Nguyễn Văn T, sinh năm 1972, trú tại tổ C, khu M, phường T, đến nhà bà L chơi và ngồi xem cả nhóm đánh bạc. Khi cả nhóm chơi đến ván thứ 2 thì Đ2 đi vệ sinh và nhờ T vào chơi bài hộ bằng tiền của Đ2 thì T đồng ý. T chơi hộ được 02 ván thì Đ2 tiếp tục vào thay T đánh tiếp, còn T ngồi ngoài xem. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, khi H1, S, Đ2, C đang đánh bạc thì bị tổ công tác của Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang, thu giữ: của Lê Công S số tiền 50.000 đồng và 01 ví da, màu nâu bên trong có 3.200.000 đồng; của Lê Thị H1 số tiền 70.000 đồng và 01 ví da, màu đen bên trong có 900.000 đồng; của Lê Minh Đ2 số tiền 360.000 đồng trên chiếu và 50.000 đồng lấy từ trong túi quần đùi phía sau bên phải là tiền dùng vào việc đánh bạc; của Bùi Văn C 600.000 đồng; của Lê Công S và Lê Minh Đ2 số tiền 29.000 đồng là tiền các đối tượng thắng bạc bỏ ra để mua nước.
Tại thời điểm bắt quả tang ngoài H1, Đ2, S, C đang đánh bạc còn có Nguyễn Văn T đang ngồi xem đánh bạc.
Tại cơ quan điều tra: Lê Thị H1, Lê Công S, Bùi Văn C, Lê Minh Đ2 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Các bị cáo khai Chuyện là người khởi xướng rủ mọi người đánh bạc, chiếu và bộ bài Chuyện lấy ở hiên nhà bà L. Số tiền các bị cáo bỏ ra để đánh bạc như sau:
Lê Thị H1 khi đánh bạc bỏ chiếc ví da, màu đen bên trong có số tiền 1.150.000 đồng để trước mặt với mục đích sử dụng hết số tiền trong ví để đánh bạc. Ban đầu H1 lấy từ trong ví ra số tiền 250.000 đồng để cạnh ví, nếu thua sẽ dùng hết số tiền còn lại trong ví để đánh tiếp. Khi bị bắt quả tang, Công an thu giữ tại phía trước vị trí ngồi của chị H1 số tiền 70.000 đồng và 01 ví da, màu đen bên trong có 900.000 đồng. Lúc này H1 đang thua 180.000 đồng.
Lê Công S khi đánh bạc bỏ chiếc ví da, màu nâu bên trong có số tiền 3.409.000 đồng để trước mặt với mục đích dùng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Ban đầu, S lấy từ trong ví ra số tiền 209.000 đồng để cạnh ví, nếu thua sẽ dùng hết số tiền còn lại trong ví để đánh tiếp. Khi chơi S ù 01 ván và để 9.000 đồng ra cạnh chiếu để góp tiền mua nước. Khi bị bắt quả tang, Công an thu giữ tại phía trước vị trí ngồi của S số tiền 50.000 đồng và 01 ví da, màu nâu bên trong có 3.200.000 đồng. Lúc này S đang thua số tiền 159.000 đồng.
Lê Minh Đ2 cầm theo 70.000 đồng để đánh bạc, Đ2 để tiền ở túi quần đùi sau bên phải. Ban đầu Đ2 bỏ ra 20.000 đồng để trước mặt, nếu thua sẽ lấy tiền trong túi quần để đánh tiếp. Khi bị bắt quả tang, Công an thu giữ tại phía trước vị trí ngồi của Đ2 số tiền 360.000 đồng. Đồng thời Đ2 tự nguyện giao nộp số tiền 50.000 đồng lấy từ trong túi quần trước bên phải. Tại thời điểm bắt quả tang Đ2 thắng số tiền 340.000 đồng. Trong lúc đánh bạc, Đ2 ù 02 ván nên bỏ ra 20.000 đồng cạnh chiếu để góp tiền mua nước.
Bùi Văn C cầm theo số tiền 630.000 đồng để đánh bạc, C để tiền ở túi quần phía trước bên phải. Ban đầu C bỏ ra 30.000 đồng để trước mặt, nếu thua sẽ lấy tiền trong túi quần để đánh tiếp. Khi bị bắt quả tang, Chuyện thua số tiền 30.000 đồng. Đồng thời Chuyện tự nguyện giao nộp số tiền 600.000 đồng lấy từ trong túi quần trước bên phải.
Về cách thức đánh bạc như sau: mọi người sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) lá bài chơi bài theo hình thức bài Phỏm, ăn ba lá đồng chất liên tiếp nhau (ví dụ 2 cơ, 3 cơ, 4 cơ) hoặc 3 lá bài đồng hạng (ví dụ: 6 cơ, 6 rô, 6 tép), người chia bài cầm 09 (chín) lá bài, ba người còn lại mỗi người cầm 08 (tám) lá bài. Người cầm 09 (chín) lá bài sẽ đánh một lá bài, đến lượt người tiếp theo nếu ăn phỏm thì sẽ bốc lá đó lên, còn không thì sẽ bốc một lá trong bộ bài nọc và tiếp tục đến lượt người sau. Lượt chơi như vậy cứ thế tiếp diễn cho đến khi bốc hết bài. Trong quá trình chơi quy ước các từ ngữ như sau: Cháy: Trong trường hợp mọi người đã kết thúc ván bài, đồng thời các lá bài ở bộ bài nọc đã được bốc hết mà người nào không có phỏm sẽ được coi là cháy bài. Ù: Nếu tất cả lá bài trên tay một người đều tạo thành phỏm thì người đó ù và thắng. Ăn chốt: Trong lượt cuối cùng, người chơi đánh ra những lá bài chốt, nếu người nào ăn được lá bài đó thì sẽ được coi là ăn chốt. Đ3: Nếu một người để cho một người khác ăn ba lá bài dẫn đến ù thì người chơi đó sẽ phải đền ù cho người ù.Quy ước: Khi trên tay còn 1 điểm là cây “át” thì tương đương với “ù”. Trường hợp không có ai “ù” thì sau khi bốc hết bài, tất cả mọi người sẽ hạ bài của mình để tính điểm. Cách tính điểm là cộng tổng tất cả số bài còn lại của mỗi người (bài A là 01 điểm, bài J là 11 điểm, bài Q là 12 điểm, bài K là 13 điểm), nếu ai được điểm thấp nhất là người thắng, những người khác xếp theo thứ tự số điểm lần lượt từ thấp đến cao và trả tiền cược cho người thắng. Người ít điểm thứ hai thì mất 10.000 đồng, người ít điểm thứ ba thì mất 20.000 đồng, người nhiều điểm nhất thì mất 30.000 đồng. Trường hợp người nào “ù” thì những người chơi khác sẽ phải trả cho người “ù” 50.000 đồng, người nào “chốt” thì sẽ được người bị ăn “chốt” trả 40.000 đồng, người nào bị “đền” thì sẽ phải trả cho những người chơi khác 150.000 đồng, người nào bị “cháy” thì mất 40.000 đồng. Tất cả thống nhất với nhau là trong trường hợp có người “ù” sau khi nhận tiền từ những người còn lại sẽ để lại 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) là tiền để mọi người cùng mua nước uống sau này.
Ngoài ra, trong quá trình đánh bạc thì còn có Nguyễn Văn T đến chơi và ngồi xem cả nhóm đánh bạc. Khi cả nhóm đánh xong ván thứ 2 thì Đ2 đi vệ sinh và nhờ T cầm bài đánh hộ Đ2 bằng tiền của Đ2 thì T đồng ý. T đánh hộ được 2 ván, trong đó 01 ván thắng 60.000 đồng, 01 ván thua 20.000 đồng thì Đ2 đi ra đánh tiếp rồi T ra ngồi xem. T không được hưởng lợi gì từ việc đánh bài hộ Đận.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: Khi đến nhà bà L uống nước, T chỉ ngồi xem. Khi Đ2 đi vệ sinh và nhờ T cầm bài đánh hộ bằng tiền của Đ2 thì T đồng ý; T đánh 02 ván trong đó có 01 thắng 60.000 đồng và 01 ván thua 20.000 đồng, toàn bộ số tiền được T để ở vị trí Đận ngồi. T không vay tiền của ai và cũng không cho ai vay tiền để đánh bạc. T không hưởng lợi gì từ việc đánh bài hộ Đận. Khi ngồi đánh bài hộ thì T thấy tại vị trí trước mặt S có một chiếc ví da màu nâu và một số tiền mặt không rõ cụ thể bao nhiêu tiền, tại vị trí trước mặt H1 có 1 ví da màu đen và một số tiền mặt không rõ bao nhiêu tiền, trước mặt ngồi và trước mặt Chuyện có một số tiền mặt không rõ cụ thể bao nhiêu tiền. Ngoài ra bên cạnh chỗ T ngồi có 29.000 đồng là tiền Đ2 và S góp để mua nước.
Tại bản Cáo trạng số 6138/CT-VKSKV1 ngày 26/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh đã truy tố Bùi Văn C, Lê Thị H1, Lê Minh Đ2 và Lê Công S, về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn C, Lê Công S từ 25 – 30 triệu đồng, về tội “Đánh bạc”; xử phạt Lê Thị H1 từ 20 đến 25 triệu đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh Đ2 từ 20 – 25 triệu đồng, về tội “Đánh bạc”.
*. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 01 chiếu cói, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, 01 chiếc ví màu nâu, 01 chiếc ví màu đen; Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 5.259.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh; đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Q và điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh và kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, cơ quan Điều tra Công an tỉnh Q và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và truy tố. Vì vậy, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về đánh giá chứng cứ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ 12 giờ 50 phút đến 13 giờ 15 phút, ngày 03/9/2025, tại nhà bà Phạm Thị L, thường trú tại tổ A, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Văn C, Lê Công S, Lê Thị H1, Lê Minh Đ2 có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi phỏm thì bị Công an phường T kiểm tra, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số tiền dưới chiếu, trong ví và trên người của C, S, H1, Đ2 dùng vào việc đánh bạc là 5.259.000 đồng (Năm triệu hai trăm lăm mươi chín nghìn đồng), 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, 01 ví da màu nâu, 01 ví da màu đen, 01 chiếc chiếu cói, hình chữ nhật, kích thước (145x188)cm, viền chiếu màu sơn đỏ, bên trong màu vàng nhạt, đã qua sử dụng.
[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có thể nhận thức được tác hại của hành vi đánh bạc đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố tình vi phạm. Hành vi nêu trên của các bị cáo Bùi Văn C, Lê Công S, Lê Thị H1 và Lê Văn Đ4 đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh và quan điểm của kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa truy tố các bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan, cần chấp nhận. Việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi các bị cáo đã gây ra là cần thiết.
[4] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn. Bị cáo Bùi Văn C là người khởi xướng rủ mọi người đánh bạc nên giữ vai trò cao hơn và chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại trong vụ án. Các bị cáo S, H1, Đ4 là những người thực hành tích cực, có vai trò ngang nhau sau bị cáo C.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: không có;
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Minh Đ2 là thương binh hạng 4/4, thương tật hạng 23%, nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS.
[6] Về quyết định hình phạt:
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy: các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Số tiền thu giữ của các bị cáo là tiền các bị cáo dùng (hoặc mục đích) để đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
01 chiếu cói, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, 01 chiếc ví màu nâu, 01 chiếc ví màu đen không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy;
[9] Về án phí: các bị cáo Lê Minh Đ2, Bùi Văn C thuộc trường hợp được miễn án phí nhưng không đề nghị miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật như các bị cáo khác trong vụ án.
[10] Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn T có hành vi giúp sức, cầm bài đánh giúp Lê Minh Đ2 02 ván, nhưng tại thời điểm Tuân giúp sức đánh bạc, không xác định được tổng số tiền T đánh bạc là bao nhiêu, có đủ 05 triệu đồng hay không; mặt khác, xét tính chất, mức độ nguy hiểm không đáng kể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q căn cứ Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự chuyển hồ sơ đến Công an phường T để xử phạt vi phạm hành chính. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Phạt tiền bị cáo Bùi Văn C 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng,về tội “Đánh bạc” sung ngân sách Nhà nước.
Phạt tiền bị cáo Lê Công S 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc” sung ngân sách Nhà nước.
Phạt tiền bị cáo Lê Thị H1 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng về tội “Đánh bạc” sung ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo Lê Minh Đ2 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc” sung ngân sách Nhà nước.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu cói, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, 01 chiếc ví màu nâu, 01 chiếc ví màu đen;
Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 5.259.000 (năm triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn) đồng.
(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 07/BB-THA/KV1 ngày 01/10/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1 – Quảng Ninh).
(Theo phiếu nhập kho nợ TK 9911 ngày 18/9/2025 của Kho bạc nhà nước Khu vực I – Phòng KTNN bộ phận Quảng Ninh)
Áp dụng: Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điểu 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Buộc Bùi Văn C, Lê Công S, Lê Thị H1 và Bùi Minh Đ5, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo và bà Phạm Thị L biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Bình |
Bản án số 128/2025/HS-ST ngày 27/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 128/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ 12 giờ 50 phút đến 13 giờ 15 phút, ngày 03/9/2025, tại nhà bà Phạm Thị L, thường trú tại tổ A, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Văn C, Lê Công S, Lê Thị H1, Lê Minh Đ2 có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi phỏm thì bị Công an phường T kiểm tra, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số tiền dưới chiếu, trong ví và trên người của C, S, H1, Đ2 dùng vào việc đánh bạc là 5.259.000 đồng (Năm triệu hai trăm lăm mươi chín nghìn đồng)
