Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/HNGĐ-ST

Ngày 29 – 9 – 2025

Về việc xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Đoàn Thị Bẩy.
  • - Bà Vũ Thị Mỹ Linh.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm, là Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 770/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng C, sinh ngày 01/01/1986 ; CCCD số [...] cấp ngày 08/7/2021 (xin vắng mặt).

Địa chỉ ĐKTT: Ấp D, xã K, tỉnh Cà Mau.

Địa chỉ tạm trú: số C, L, phường L, quận C (nay là phường C), Thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Anh Trần Quốc K; sinh năm 1984. CMND số [...] (vắng mặt);

Địa chỉ cư trú: Khóm G, phường T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, chị Nguyễn Hồng C trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc K chung sống vợ chồng vào năm 2011, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND phường F, thành phố C (nay là phường T), tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng trong suy nghĩ, quan điểm nên thường xảy ra cải vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể hàn gắn. Nay chị xét thấy cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn anh K.

Về con chung: Chị xác định có 01 con chung tên Trần Vạn P, sinh ngày 17/11/2015, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị đồng ý giao cháu P cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị khai không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.

- Đối với anh Trần Quốc K, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng anh K vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh Trần Quốc K đã được tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng C và anh Trần Quốc K chung sống vợ chồng vào năm 2011, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND phường F, thành phố C (nay là phường T), tỉnh Cà Mau vào ngày 27/4/2011 tại số 98/2011, quyển số 01/2011 nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ. Trong quá trình chung sống theo chị C trình bày thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng trong suy nghĩ, quan điểm nên thường xảy ra cải vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể hàn gắn, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay chị xét thấy cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn anh K. Đối với anh K không đến Tòa án tham gia phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc chị C xin ly hôn. Xét thấy: Đời sống hôn nhân của anh, chị đã không còn, mâu thuẫn là có xảy ra, mỗi người sống một nơi, anh K không có biện pháp hàn gắn vợ chồng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C, cho chị được ly hôn anh K.

[3] Về con chung: Chị C xác định có 01 con chung tên Trần Vạn P, sinh ngày 17/11/2015 hiện cháu đang sống với chị C. Khi ly hôn, chị C đồng ý giao con chung cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với anh K không đến Tòa án cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Xét thấy, hiện cháu P đang sống với chị C nhưng nguyện vọng cháu P muốn sống với cha là anh Trần Quốc K nếu cha mẹ ly hôn, chị C thống nhất giao con chung cho anh K chăm sóc, nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu P cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị C không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị C xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét;

[6] Về nợ chung: Chị C khai vợ, chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng nên không đặt ra xem xét.

[7] Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Hồng C về việc xin ly hôn anh Trần Quốc K.
  • - Về con chung: Giao cháu Trần Vạn P, sinh ngày 17/11/2015 cho anh Trần Quốc K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  • Chị Nguyễn Hồng C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
  • - Về tài sản chung: Chị C xác định không có.
  • - Về nợ chung: Chị C khai không có.
  • - Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Nguyễn Hồng C phải chịu 300.000đ. Ngày 14 tháng 8 năm 2025, chị C đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0011946 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn

  • Số bản án: 126/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Hồng Chi về việc xin ly hôn anh Trần Quốc Khải. - Về con chung: Giao cháu Trần Vạn Phước, sinh ngày 17/11/2015 cho anh Trần Quốc Khải tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Hồng Chi có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. - Về tài sản chung: Chị Chi xác định không có. - Về nợ chung: Chị Chi khai không có.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger