Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/DS-ST

Ngày: 29/9/2025

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trịnh Thanh Tùng
  • Ông Sơn Khem

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Gia An, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 134/2025/TLST-DS, ngày 06 tháng 5 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245A/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số B đường N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện hợp pháp: Bà Ngô Thị Hoàng V - là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 60/QUQ-PGDHL ngày 16/7/2024) (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số I đường Đ, ấp D, xã H, Huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số I đường Đ, ấp D, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh).

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều C; sinh năm: 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp T, phường V, Thành phố Cần Thơ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 29/7/2024 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, Bản tự khai và Đ yêu cầu xét xử vắng mặt của người đại diện hợp pháp của của nguyên đơn – bà Ngô Thị Hoàng V, phía nguyên đơn trình bày và yêu cầu:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Chi nhánh B – Phòng G cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Thị Kiều C với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 181123 ngày 30/11/2023 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng – quy định mức lãi suất thời điểm làm thẻ là 29,8/năm). Sau khi cấp thẻ, bà C đã thực hiện các giao dịch và dư nợ là 29.231.913 đồng. Do bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên toàn bộ dư nợ còn thiếu chuyển sang nợ quá hạn (theo quy định tại Điều 18 và Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Tính đến ngày 26/7/2024, bà C cần phải thanh toán khoản nợ là 29.231.913 đồng. Mặc dù ngân hàng yêu cầu bà C có trách nhiệm thanh toán khoản nợ quá hạn. Tuy nhiên, bà C vẫn chưa thanh toán nên đã vi phạm điều khoản đã quy định tại hợp đồng mà hai bên đã ký kết.

Nay ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị Kiều C thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 26/9/2025 là 45.556.355 đồng (trong đó: Dư nợ (gốc) 29.231.913 đồng, nợ lãi quá hạn 16.324.442 đồng) và yêu cầu bà C tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 27/9/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng mà hai bên ký kết.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều C: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nhưng bà C không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho bà C và đưa vụ án ra xét xử. Bà C vắng mặt tại phiên tòa và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là bà Nguyễn Thị Kiều C có địa chỉ tại ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp T, phường V, Thành phố Cần Thơ). Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.

[2] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều C đã được triệu tập hợp lệ lần hai tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về nội dung: Việc thỏa thuận mở thẻ tín dụng của bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều C theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 181123 ngày 30/11/2023 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng Thương mại Cổ phần S là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398 của Bộ luật dân sự. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất 29,8 %/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất được công bố phù hợp Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, bà C còn nợ lại số tiền tính đến ngày 26/9/2025 là 45.556.355 đồng (trong đó: Dư nợ (gốc) 29.231.913 đồng, nợ lãi quá hạn 16.324.442 đồng) nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều C thanh toán nợ nhưng bà C không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều C phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày bà C vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tính đến ngày 26/9/2025 là 45.556.355 đồng (trong đó: Dư nợ (gốc) 29.231.913 đồng, nợ lãi quá hạn 16.324.442 đồng) và yêu cầu bà C tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 27/9/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 181123 ngày 30/11/2023 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng Thương mại Cổ phần S mà hai bên đã thỏa thuận ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều C phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 398 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều C.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Kiều C thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tính đến ngày 26/9/2025 là 45.556.355 đồng (trong đó: Dư nợ (gốc) 29.231.913 đồng, nợ lãi quá hạn 16.324.442 đồng). Bà Nguyễn Thị Kiều C phải tiếp tục thanh toán lãi phát sinh từ ngày 27/9/2025 theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 181123 ngày 30/11/2023 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng Thương mại Cổ phần S mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều C chịu 2.277.818 đồng.
    • - Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 730.798 đồng theo biên lai thu số 0050563 ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11 (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh).
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 8 – Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 8-Cần Thơ;
  • - Phòng GĐ-KT-TT&THA TAND TPCT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 126/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 126/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngân hàng E - bị đơn: Nguyễn Thị Kiều Ch (Tranh chấp hợp đồng tín dụng)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger