|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 125/2025/HS-ST Ngày 24/10/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thanh Vân
Ông Nguyễn Văn Nam
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Kỳ Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hứa Hải Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/TLST-HS ngày 09/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/QĐXXST-HS ngày 10/10/2025, đối với các bị cáo:
1. TRẦN VĂN H, sinh năm 1990 tại Nghệ An. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Xóm D, xã Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Trần Văn K (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1; Vợ: Nguyễn Thị H2; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2018 và nhỏ sinh năm 2024; D chỉ bản số 2946 do PC11A lập ngày 07/8/2025; Tiền sự, tiền án: Không; Bị tạm giữ từ ngày 01/8/2025 đến ngày 07/8/2025. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. HỒ HUY V, sinh năm 1996 tại Nghệ An. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn G, phường H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Hồ Huy T; Họ tên mẹ: Lê Thị T1; Vợ: Hồ Thị T2; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2017 và nhỏ sinh năm 2021; D chỉ bản số 2951 do PC11A lập ngày 07/8/2025; Tiền sự, tiền án: Không; Bị tạm giữ từ ngày 01/8/2025 đến ngày 07/8/2025. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
3. LÊ ĐÌNH Đ, sinh năm 1991 tại Thanh Hóa. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn B, xã T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Lê Đình Đ1; Họ tên mẹ: Lê Thị H3 (Đã chết); Vợ: Lê Thị T3; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2023 và nhỏ sinh năm 2024; D chỉ bản số 2947 do PC11A lập ngày 07/8/2025; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Tại bản án số 06/2016/HSST ngày 11/5/2016, Tòa án quân sự khu vực Thủ Đô H xử phạt 26 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2017), đã được xóa án tích. Bị tạm giữ từ ngày 01/8/2025 đến ngày 07/8/2025. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
4. MAI VĂN HỢP, sinh năm 1977 tại Nghệ An. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn H, xã Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Mai Văn B (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị K1; Vợ: Trần Thị H4; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000 và nhỏ nhất sinh năm 2013; D chỉ bản số 2950 do PC11A lập ngày 07/8/2025; Tiền sự, tiền án: Không; Bị tạm giữ từ ngày 01/8/2025 đến ngày 07/8/2025. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
5. VŨ VĂN K2, sinh năm 1986 tại Thanh Hóa. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố số A Đ, phường T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Vũ Đình K3; Họ tên mẹ: Mai Thị D1; Vợ: Hoàng Thị H5; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016 và nhỏ sinh năm 2024; D chỉ bản số 2949 do PC11A lập ngày 07/8/2025; Tiền sự, tiền án: Không; Bị tạm giữ từ ngày 01/8/2025 đến ngày 07/8/2025. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
6. HÀ TRỌNG HIỂN, sinh năm 1986 tại Hải Phòng. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn L, xã V, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Hà Trọng T4; Họ tên mẹ: Hà Thị C; Vợ: Lê Thu H6 (Đã chết); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011 và nhỏ sinh năm 2016; D chỉ bản số 2949 do PC11A lập ngày 07/8/2025; Tiền sự, tiền án: Không; Bị tạm giữ từ ngày 01/8/2025 đến ngày 07/8/2025. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 05 phút ngày 01/8/2025, Trần Văn H (Sinh năm 1990, trú tại: Xóm D, xã Q, tỉnh Nghệ An) sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax vỏ màu vàng, lắp số sim “0965700619” gọi vào điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu xanh, lắp số sim 0369516093 của Mai Văn H7 (Sinh năm 1977, trú tại: Thôn H, xã Q, tỉnh Nghệ An) rủ đến giờ nghỉ trưa sẽ đánh bạc, Hợp đồng ý. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Hồ Huy V (Sinh năm 1996, trú tại: Thôn G, phường H, tỉnh Nghệ An) cùng Mai Văn H7 và Trần Văn H ngồi uống nước tại thôn T, xã Đ, thành phố Hà Nội. H rủ tất cả về container của anh Nguyễn Mạnh H8 (Sinh năm 1986, trú tại: Thôn Y, xã Y, tỉnh Phú Thọ) đánh bạc dưới hình thức “ba cây” được thua bằng tiền, cả nhóm đồng ý. Để tham gia đánh bạc, H7 bảo V mua 01 bộ bài tú lơ khơ mang đến container của anh H8 ở khu vực thi công A7 thuộc công trường Vinhomes Cổ L để đánh bạc, V đồng ý và đi mua bộ bài tú lơ khơ đem về để cùng các đối tượng chơi đánh bạc.
Khi bắt đầu chơi, V cầm bộ tú lơ khơ lọc bỏ các quân bài 10, J, Q, K để tất cả ngồi xuống bắt đầu đánh bạc dưới hình thức đánh ba cây. Các đối tượng thống mức sát phạt như sau: Người làm chương chia cho mỗi người còn lại 3 quân bài, đánh trống cửa mỗi ván thấp nhất 100.000 đồng, nhiều nhất 300.000 đồng. Sau mỗi ván ngửa bài, các đối tượng tính điểm so với người làm chương, cao nhất là 10 điểm, thấp nhất là 01 điểm. Nếu ai cao hơn chương là thắng, nếu thấp hơn chương là thua, trong quá trình chơi nếu ai được 10 điểm sẽ được làm chương, ai được 10 sẽ được gấp đôi số tiền đặt cược, ai được “sáp” (3 quân giống nhau cùng hàng ngang khác chất) sẽ được gấp 3 số tiền đặt cược, ai được “đồng hoa” (tức 3 quân bài cùng chất liền kề nhau) sẽ được gấp 4 số tiền đặt cược.
Đến khoảng hơn 12 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Đình Đ (Sinh năm 1991, trú tại: Thôn B, xã T, tỉnh Thanh Hóa) ăn cơm xong vào container của anh H8 để nghỉ trưa thấy V, H7, H đang đánh bạc nên Đ vào cùng tham gia đánh bạc. Tiếp sau đó, Vũ Văn K2 (Sinh năm 1986, trú tại: Tổ dân phố số A Đ, phường T, thành phố Hà Nội) đi đến thấy H, H7,V, Đ đang đánh bạc nên cùng tham gia. Sau đó khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, Hà Trọng H9 (Sinh năm 1986, trú tại: thôn L, xã V, thành phố Hải Phòng) gọi điện rủ K2 đi uống nước nhưng K2 bảo đang ngồi nghỉ ở container nên H9 đi vào thấy V, H7, H, Đ và K2 đang đánh bạc dưới hình thức ba cây nên H9 vào tham gia đánh bạc cùng. Quá trình đánh bạc, Đ lấy chiếc chăn ở trong góc phòng trải xuống sàn cho cả nhóm đánh bạc. Trong lúc đang đánh bạc, thì anh Hồ Đức P (Sinh năm 1989, trú tại: Thôn F, xã Q, tỉnh Nghệ An) đến gặp H bàn chuyện công việc, thấy H, H7, K2, V, H9 và Đ đang đánh bạc, anh P không tham gia mà ngồi sử dụng điện thoại chờ H. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị Tổ công tác Công an xã Đ, thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang (BL 86 - 88).
* Vật chứng tạm giữ gồm:
- Trên chiếu bạc gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh gồm 36 quân bài từ quân A đến quân 9 (không có các quân bài 10, J, Q, K); số tiền 21.400.000 đồng; 01 chiếc chăn màu xanh có các hình trái tim màu vàng, trái tim màu xanh, trái tim kẻ sọc màu da cam, kích thước 150x190cm.
- Của Trần Văn H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max vỏ màu vàng, bên trong lắp số sim: 0965700619.
- Của Lê Đình Đ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 vỏ màu xám ghi bên trong lắp số sim: 0986822235.
- Của Hà Trọng H9: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A56 vỏ màu bạc, bên trong lắp số sim: 0814876666 và 0941091326
- Của Vũ Văn K2: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 11 Pro vỏ màu đen, bên trong lắp số sim: 0978842946.
- Của Mai Văn H7: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu xanh, bên trong lắp số sim: 0369516093.
- Của Hồ Huy V: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Readme C71 vỏ màu xám, số bên trong lắp số sim: 0396938386.
Quá trình điều tra, xác định được hành vi đánh bạc và số tiền sử dụng để đánh bạc của từng đối tượng như sau:
- Trần Văn H rủ Mai Văn H7 và Hồ Huy V đến container của anh Nguyễn Mạnh H8 để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “ba cây”, H sử dụng số tiền 3.500.000 đồng để đánh bạc.
- Hồ Huy V là người chuẩn bị bộ bài tú lơ khơ để các đối tượng đánh bạc; sử dụng 6.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt đang thua số tiền thua khoảng 3.000.000 đồng.
- Lê Đình Đ là người trải chăn để các đối tượng ngồi đánh bạc; đem theo 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt quả tang, Đ đang thắng khoảng 1.000.000 đồng.
- Mai Văn H7 sử dụng 4.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt quả tang, H7 đang thua khoảng 1.500.000 đồng.
- Vũ Văn K2 sử dụng 3.200.000 đồng; khi bị bắt quả tang, K2 đang thắng khoảng 1.000.000 đồng.
- Hà Trọng H9 sử dụng 2.700.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt H9 đang thắng khoảng 1.000.000 đồng.
Đối với anh Nguyễn Mạnh H8, khi các đối tượng đánh bạc tại container của anh thì anh H8 hoàn toàn không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với anh Hồ Đức P, khi Cơ quan Công an vào bắt quả tang thì anh P đang có mặt ở đó nhưng không tham gia đánh bạc, không có tài liệu nào chứng minh anh P tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không để cập xử lý.
Đối với số tiền 21.400.000 đồng, 36 quân bài và 01 chiếc chăn màu xanh (kích thước 150x190cm); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max vỏ màu vàng, bên trong lắp số sim: 0965700619 của Trần Văn H ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu xanh, bên trong lắp số sim: 0369516093 của Mai Văn H7 đã thu giữ đều là công cụ, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc nên cần chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 bảo quản, phục vị cho xét xử và thi hành án.
Quá trình điều tra xác định, Trần Văn H, Hà Trọng H9, Vũ Văn K2, Mai Văn H7 và Hồ Huy V chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 30/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội đã truy tố các bị cáo Trần Văn H, Mai Văn H7, Hồ Huy V, Hà Trọng H9 và Vũ Đình K4 về Tội đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn H, Lê Đình Đ, Hà Trọng H9, Vũ Văn K2, Mai Văn H7 và Hồ Huy V phạm Tội đánh bạc.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hồ Huy V H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Đình Đ từ 12 từ đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Mai Văn H7 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Văn K2 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hà Trọng H9 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì các bị cáo không có thu nhập ổn định.
Về vật chứng: Tịch thu sung công số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội: 21.400.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max vỏ màu vàng, bên trong lắp số sim: 0965700619 của Trần Văn H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu xanh, bên trong lắp số sim: 0369516093 của Mai Văn H7.
Tịch thu tiêu huỷ: 36 quân bài và 01 chiếc chăn màu xanh.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/8/2025, tại container của anh Nguyễn Mạnh H8 ở khu vực thi công A7, công trường Vinhomes Cổ L thuộc địa phận xã Đ, thành phố Hà Nội, Trần Văn H, Lê Đình Đ, Hà Trọng H9, Vũ Văn K2, Mai Văn H7 và Hồ Huy V đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “ba cây” ăn tiền thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo bị cáo sử dụng để đánh bạc là 21.400.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, bốn trăm nghìn đồng). Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“Điều 321. Tội đánh bạc.
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội truy tố các bị cáo về Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam, tư lợi nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Trong vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có tổ chức vì không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm.
Đánh giá tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Trần Văn H có vai trò khởi xướng, bị cáo Hồ Huy V là người trực tiếp chuẩn bị công cụ đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo còn lại phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo.
[3]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Trần Văn H, Hà Trọng H9, Vũ Văn K2, Mai Văn H7 và Hồ Huy V đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Hà Trọng H9 có bác ruột là Liệt sỹ; bị cáo Hồ Huy V có ông ngoại được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì, bị cáo Vũ Văn K2 có bác ruột là Liệt sỹ, bị cáo Lê Đình Đ có chú là Liệt sỹ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về nhân thân: Các bị cáo Trần Văn H, Hà Trọng H9, Vũ Văn K2, Mai Văn H7 và Hồ Huy V có nhân thân tốt và lần đầu phạm tội. Bị cáo Lê Đình Đ có nhân thân xấu, năm 2016 bị xử phạt 26 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, bản án đã được xóa.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:
Các bị cáo đều nhất thời phạm tội, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn, đã thành khẩn, khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có nơi cư trú rõ ràng. Đối với bị cáo Lê Đình Đ đã bị xét xử về Tội trộm cắp tài sản từ năm 2016 và đã chấp hành xong các quyết định của bản án và được coi là trường hợp không có tiền án. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5]. Về vật chứng của vụ án: Xác định số tiền 21.400.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 thu giữ của Trần Văn H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung vỏ màu xanh thu giữ của Mai Văn H7 là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu ngân sách Nhà nước; đối với 02 phôi sim điện thoại, 01 bộ tú lơ khơ và 01 chiếc chăn màu xanh là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội tại phiên tòa: Phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn H, Hồ Huy V, Lê Đình Đ, Mai Văn H7, Vũ Văn K2 và Hà Trọng H9 phạm Tội đánh bạc.
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự (Áp dụng đối với bị cáo Trần Văn H, Mai Văn H7);
- Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự (Áp dụng đối với bị cáo Hồ Huy V, Vũ Văn K2, Hà Trọng H9);
- Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự (Áp dụng đối với bị cáo Lê Đình Đ);
- Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về hình phạt:
- Xử phạt: Trần Văn H 16 (Mười sáu) tháng tù về Tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
- Xử phạt: Hồ Huy V 15 (Mười lăm) tháng tù về Tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hồ Huy V cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
- Xử phạt: Lê Đình Đạt 1 (Mười ba) tháng tù về Tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
- Xử phạt: Mai Văn Hợp 11 (Mười hai) tháng tù về Tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Mai Văn H7 cho Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
- Xử phạt: Vũ Văn Kiện 12 (Mười một) tháng tù về Tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Vũ Văn K2 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
- Xử phạt: H (Mười một) tháng tù về Tội đánh bạc nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hà Trọng H9 cho UBND xã V, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù cho bản án đã được hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
2. Về vật chứng:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền: 21.400.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, bốn trăm nghìn đồng).
(Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 15/10/2025, nộp vào tài khoản số: 3949.0.1054168.00000 tại Kho bạc Nhà nước: Phòng G - KBNN khu vực I. Đơn vị nhận tiền: Thi hành án dân sự thành phố H.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max vỏ màu vàng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu xanh.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 Bộ tú lơ khơ màu xanh gồm 36 lá bài từ quân A đến quân 9, 01 chiếc chăn màu xanh và 02 phôi sim điện thoại.
(Vật chứng đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Hà Nội, tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/10/2025, giữa: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố H).
3. Về án phí sơ thẩm:
Buộc các bị cáo Trần Văn H, Hồ Huy V, Lê Đình Đ, Mai Văn H7, Vũ Văn K2 và Hà Trọng H9 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
4. Về kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Duy Khoa |
Bản án số 125/2025/HS-ST ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 125/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về Tội đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/8/2025, tại container của anh Nguyễn Mạnh Hà ở khu vực thi công A7, công trường Vinhomes Cổ Loa thuộc địa phận xã Đông Anh, thành phố Hà Nội, Trần Văn Hải, Lê Đình Đạt, Hà Trọng Hiển, Vũ Văn Kiện, Mai Văn Hợp và Hồ Huy Việt đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “ba cây” ăn tiền thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo bị cáo sử dụng để đánh bạc là 21.400.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, bốn trăm nghìn đồng). Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự
