TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:124/2025/HS-ST Ngày: 30-10-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trương Hiển
Ông Cao Thanh Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Minh Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025 tại Khu C tỉnh An Giang (thuộc ấp M, xã B, tỉnh An Giang) xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2025/TLST-HS ngày 17/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Duy T, sinh ngày 23/08/1981 tại Rạch G - An Giang. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số A khu phố D, phường R, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn H (Đã chết) và bà Đỗ Thị T1 (Đã chết); Có vợ là Hình Thị Thúy H1, sinh năm 1993 (Đã ly hôn); Con có 02 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm, 2017;
- Tiền án: Không.
- Tiền sự: Ngày 23/4/2025 Lê Duy T bị Bộ Tư lệnh Vùng cảnh sát biển 4 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 17.500.000 đồng về hành vi sử dụng tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12m đến dưới 15m khải thác thủy sản ở vùng khơi, đã nộp phạt xong ngày 23/4/2025.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/10/2025 tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh A, cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Văn T2, sinh năm 1970 (có mặt)
Địa chỉ: 1 N, phường R, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng:
- Ông Trần Hải Thanh L, sinh năm 1970
- Ông Nguyễn Phước H2, sinh năm 1990
- Ông Tô Thanh T3 sinh năm 1987
- Ông Trịnh H3, sinh năm 1965
- Ông Trịnh Đ, sinh năm 1965
- Ông Châu Minh T4, sinh năm 1981
- Anh Lê Gia H4, sinh năm 2007
- Ông Lê Thanh N, sinh năm 1991
Địa chỉ: 1 N, phường R, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số C N, phường R, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số A N, phường R, tỉnh An Giang.
Cùng địa chỉ: Số C khu phố V, phường R, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số A N, phường R, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Số A N, phường R, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Tổ A, H, phường R, tỉnh An Giang.
(Những người làm chứng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 15 phút ngày 15/5/2025, Tổ tuần tra quan sát trên Radar, tàu Kiểm ngư 216 Biên đội chống khai thác IUU (Đ) phát hiện 01 mục tiêu là tàu cá ở tọa độ φ = 07°22′N - λ = 103°30′E (thuộc vùng biển Malaysia), hướng đi 50° vận tốc 5,5 hải lý/giờ, đang hành trình về vùng biển Việt Nam. Lúc 20 giờ 45 phút cùng ngày, tại tọa độ φ = 07°31′N - 2 = 103°36′E Tổ kiểm tra, kiểm soát trên tàu Kiểm ngư 216 tiếp cận, kiểm tra xác định tàu cá có số đăng ký CM-99064-TS do ông Lê Duy T (địa chỉ: V, Rạch G, Kiên Giang) làm thuyền trưởng, trên tàu có 08 thuyền viên khai thác thủy sản trái phép trên vùng biển nước ngoài nên đã lập biên bản vụ việc xử lý theo thẩm quyền.
Quá điều tra xác định: Trần Văn T2 hợp đồng thuê Lê Duy T làm thuyền trưởng tàu cá CM-99064-TS, theo thỏa thuận phân chia lợi nhuận sau đánh bắt là 50:50, chỉ đánh bắt ở những nơi theo quy định của Nhà nước và T tự tuyển thuyền viên. Ngày 17/4/2025 T điều khiển tàu cá CM-99064-TS cùng các thuyền viên xuất bến tại Trạm kiểm soát B. Đến khoảng 20 giờ 20 phút ngày 23/4/2025, Tàu của T đến tọa độ φ=07°05′36″N – λ = 104°01′42″E (thuộc vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam) thì bị Tổ kiểm tra, kiểm soát tàu Cảnh sát biển 4039 phát hiện, xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Duy T (do tàu không đủ điều kiện đánh bắt tại vùng khơi, tàu dài từ 12-15m) Tính viết cam kết không vi phạm.
Sau khi chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, T điều khiển tàu CM-99064-TS về khu vực biển gần Nhà giàn DK1/10, bãi cạn Cà Mau khoảng 03 ngày. Ngày 27/4/2025,T điều khiển tàu CM-99064-TS cùng 08 thuyền viên gồm: Lê Thanh N, Trịnh Đ, Trịnh H3, Trần Hải Thanh L, Nguyễn Phước H2, Châu Minh T4, Tô Thanh T3 và Lê Gia H4 (do T tuyển và cho thuyền viên ứng tiền trước khi đi biển từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/người, không bàn bạc hay thông báo cho thuyền viên biết về khu vực hoạt động khai thác hải sản) qua vùng biển Malaysia, cách phía Nam vùng chồng lấn khoảng 30 hải lý. Tính cho tàu CM-99064-TS kéo câu xuống nhiều tọa độ khác nhau, gồm: φ = 06°50.142'Ν - λ = 103°5.700'Ε; φ =06°40.869'Ν - λ = 102°54.421'E; φ =06°40.869’Ν - λ = 102°54.421'E; φ =06°45.166'Ν - λ = 103°8.43'Ε; φ =06°41.51'Ν - λ = 103°22.461'E và φ =06°36.443′N - λ = 102°54.198’E để đánh bắt trong vùng biển Malaysia được khoảng 20 ngày, với số lượng cá gần 02 tấn. Đến ngày 15/5/2025, T điều khiển tàu CM-99064-TS về vùng biển Việt Nam để bán hải sản và mua nước đá, khi đến tọa độ φ = 07°31'N-λ = 103°36'E thì bị Tổ kiểm tra kiểm soát tàu kiểm ngư 216 tiếp cận, kiểm tra, bắt giữ.
Quá trình điều tra, bị can Lê Duy T thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
* Kiểm tra thiết bị định vị GPS Navigator, model: HGP-358A, Serial No: NO.HGP358181480 gắn trên tàu CM-99064-TS lưu giữ vết đi của tàu CM-99064-TS từ 13 giờ 15 phút ngày 27/4/2025 đến 18 giờ 10 phút ngày 15/5/2025 hoạt động trong vùng biển Malaysia, Lê Duy T cho rằng đó là vết đi của tàu CM-99064-TS đã hoạt động câu cá lạc trong vùng biển Malaysia. Kết quả trích xuất dữ liệu phù hợp với lời khai của Lê Duy T. (BL số: 154 đến 160).
- Công văn số 418/UBBG-PD ngày 12/10/2025 của Ủy ban B1 xác định: Trong 37 tọa độ thể hiện tại 06 hình ảnh được trích xuất từ thiết bị định vị GPS Navigator HUAHANG Model: HGP-358A; SERIAL NO: NO.HGP358181480 trên Tàu cá CM-99064-TS đính kèm Kết luận giám định số 508/KL-KTHS ngày 07/9/2025 của Phòng
K Công an tỉnh A có 09 tọa độ thuộc vùng biển Malaysia, gồm:
| STT | Tên | Hướng | Vĩ độ | Kinh độ |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 0004 | 195º | 06º50'142" vĩ Bắc | 103º5'700" kinh Đông |
| 2 | 0006 | 198º | 06º40'869" vĩ Bắc | 102º54'421" kinh Đông |
| 3 | 0007 | 198º | 06º40'869" vĩ Bắc | 102º54'421" kinh Đông |
| 4 | 0009 | 195º | 06º39'231" vĩ Bắc | 103º5'070" kinh Đông |
| 5 | 0012 | 183º | 06º56'707" vĩ Bắc | 103º51'015" kinh Đông |
| 6 | 0013 | 194º | 06º45'166" vĩ Bắc | 103º8'043" kinh Đông |
| 7 | 0013 | 194º | 06º45'166" vĩ Bắc | 103º8'043" kinh Đông |
| 8 | 190º | 06º41'051" vĩ Bắc | 103º22'461" kinh Đông | |
| 9 | 197º | 06º36'443" vĩ Bắc | 102º54'198" kinh Đông |
* Tài liệu, đồ vật thu giữ tại thời điểm bắt quả tang, khám xét khẩn cấp:
- 01 (một) thiết bị GPS Navigator HUAHANG Model:HGP-358A; SERIAL NO: NO.HGP358181480 đã qua sử dụng;
- 01 (một) Tàu cá số đăng ký là CM-99064-TS đã qua sử dụng;
- 15.800.000 đồng tiền bán hải sản bị tạm giữ của Lê Duy T, gửi vào tài khoản 39410103958600000 của Sở Tài chính tỉnh K (BL số 60).
Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKSKG-P1, ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Lê Duy T về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận:
Bị cáo Lê Duy T quá trình đưa tàu đi đánh bắt hải sản đã có hành vi tổ chức cho 08 ngư dân xuất cảnh trái phép ra vùng biển Malaysia để câu cá lạc, khi quay về thì bị phát hiện bắt giữ.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với chứng cứ khách quan và phần tranh tụng công khai tại phiên tòa, Viện Kiểm sát có đủ cơ sở giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Đề nghị tuyên bố các bị cáo Lê Duy T phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật hình sự và áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 05 đến 06 năm tù.
* Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 15.800.000 đồng (tiền bán cá lạc trên tàu CM-99064-TS do Lê Duy T là thuyền trưởng)
- Đề nghị trả lại cho ông Trần Văn T2 01 (một) thiết bị GPS Navigator HUAHANG Model: HGP-358A; SERIAL NO: NO.HGP358181480 và 01 (một) Tàu cá số đăng ký là CM-99064-TS đã qua sử dụng, do không liên quan đến việc phạm tội.
- Ý kiến của người có liên quan: Ông T2 trình bày, không biết việc bị cáo T chạy tàu ra nước ngoài đánh bắt, khi T đi ra biển ông không liên lạc được với T.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và trình bày lời nói sau cùng: Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Duy T khai nhận, nhằm mục đích câu được nhiều cá lạc hơn, bị cáo đã đưa tàu chở 08 thuyền viên qua vùng biển Malaysia đánh bắt ở nhiều tọa độ từ ngày 27/4 đến 15/5/2025, khi quay về thì bị phát hiện bắt giữ.
[3] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với tài liệu, chứng cứ, lời khai những người liên quan đã được thu thập và thẩm tra tại phiên tòa. Kết quả kiểm tra thiết bị định vị, Công văn của Ủy ban B1 và Kết luận giám định của phòng K xác định, thiết bị GPS gắn trên tàu cá CM-99064-TS do Lê Duy T điều khiển thể hiện có 09 tọa độ thuộc vùng biển Malaysia. Với hành vi tổ chức cho 08 thuyền viên xuất cảnh để đưa tàu cá, ngư dân qua vùng biển nước ngoài khai thác thủy sản trái phép như trên của bị cáo Lê Duy T là đã phạm vào tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật hình sự nước C năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh theo pháp luật Việt Nam nói chung và trật tự, an toàn ranh giới, lãnh hải vùng biển nói riêng. Bị cáo vì mục đích vụ lợi, cố ý thực hiện tội phạm, bất chấp quy định liên quan đến chống khai thác hải sản trái phép đang được triển khai, thực hiện quyết liệt trong thời gian qua của Nhà nước ta.
Xét bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là đúng quy định. Nhằm góp phần lập lại trật tự của hoạt động đánh bắt trên vùng biển, để tháo gỡ thẻ vàng cảnh báo về tình trạng khai thác hải sản trái phép của Ủy ban C đối với Việt Nam, thì cần thiết phải xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án. Tuy nhiên cũng cần xem xét, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, từ đó quyết định cho các bị cáo một mức án tương xứng, có thời gian cách ly bị cáo để cải tạo, giáo dục cũng như nâng cao tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi bị khởi tố, điều tra trong vụ án, ngày 23/4/2025 bị cáo bị Cảnh sát biển xử phạt hành chính về hành vi khai thác hải sản không đúng nơi quy định đối với tàu cá có chiều dài từ 12-15m.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.
[7] Về quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát: Về tội danh; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về biện pháp tư pháp: Số tiền thu lợi 15.800.000đ (bán cá lạc trên tàu) tịch thu sung quỹ Nhà nước; Đối với thiết bị GPS và tàu cá trả lại cho chủ tàu là ông Trần Văn T2, do không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội.
[9] Những vấn đề khác của vụ án: Ông Trần Văn T2 do không biết bị cáo tổ chức đưa ngư dân qua đánh bắt trái phép ở vùng biển nước ngoài, nên không bị truy cứu trách nhiệm là phù hợp.
Đối với 08 thuyền viên trên tàu gồm: Trần Hải Thanh L, Nguyễn Phước H2, Tô Thanh T3, Trịnh H3, Trịnh Đ, Châu Minh T4, Lê Gia H4 và Lê Thanh N1 là ngư dân được T thuê đi trên tàu và được T tổ chức đưa ra nước ngoài trái phép. Quá trình điều tra đã xác định, những người này đều không được bàn bạc, không biết là tàu đang đánh bắt ở vị trí nào. Các thuyền viên chỉ thực hiện công việc đánh bắt, không tiếp xúc với thiết bị định vị, nên cũng không thể biết được tàu đã rời khỏi vùng biển trong nước. Từ đó, các thuyền viên đều không bị xử lý và không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan trong vụ án là phù hợp.
[10] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Lê Duy T phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép";
Xử phạt bị cáo Lê Duy T 05 (năm) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/10/2025.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính là tiền bán hải sản trên tàu của Lê Duy T bằng 15.800.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền 15.800.000 được gửi vào số tài khoản 39410103958600000 của Sở tài chính tỉnh K.
Trả lại cho ông Trần Văn T2 01 (một) thiết bị GPS Navigator HUAHANG Model: HGP-358A; SERIAL NO: NO.HGP358181480 và 01 (một) Tàu cá số đăng ký là CM-99064-TS đã qua sử dụng, do không liên quan đến việc phạm tội.
(Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 05/QĐ-VKSAG-P1 ngày 17 tháng 10 năm 2025 và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17 tháng 10 năm 2025 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh An Giang).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Lê Duy T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/10/2025)
Bản án số 124/2025/HS-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm (tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép)
- Số bản án: 124/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Duy T - tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
