|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 123/2025/HS-ST Ngày: 29 - 9 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài và ông Lê Phi Long.
Thư ký phiên tòa: Bà Trân Thị Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 100/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Tằng Phốc S, sinh ngày: 20/4/2000, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn A, xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tằng D và bà: Chíu Tài M; có vợ là: Chíu Thị C và có có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/12/2024, bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, có mặt.
-
Họ và tên: Chìu A, sinh ngày: 16/3/2000, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn T, xã D, huyện Đ (nay là xã Q), tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Dao; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chìu Dì V và bà: Chíu S; có vợ là: Chíu Thị T và chưa có con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú ngày 20/12/2024, bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Tằng Phốc S và bị cáo Chìu A L: Bà Vũ Thị Nguyệt N- là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, vắng mặt (có gửi bài luận cứ bào chữa cho các bị cáo).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Chìu Dì V1, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn T, xã D, huyện Đ (nay là xã Q), tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1980, vắng mặt.
- Anh Lê Đức M1, sinh năm 1997, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 50 phút ngày 20/12/2024, tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, Đồn biên phòng cửa khẩu H1 phối hợp với Đội Phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng tỉnh Q kiểm tra, bắt quả tang Tằng P điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Misubishi Xpander gắn biển kiểm soát (BKS) 14A-808.72 trên xe có 04 người quốc tịch Trung Quốc là Li Yu Y (Lý Vũ V2), Lin Z (L, He Qiu W (Hạ Thu V3), Zhou J (C) đều không có giấy tờ chứng minh nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam.
Tằng Phốc S khai nhận được Phùn Tắc S1 (sinh năm 1999, trú tại thôn B xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh) thuê đón, chở người 04 người Trung Quốc lên khu vực biên giới cột mốc 1330 đề xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Sinh được S1 nói cho biết có Chìu A L cùng tham gia là người cảnh giới.
Cùng ngày, tiến hành truy tìm tại khu vực mốc 1330, thuộc bản L, xã Q, huyện H, phát hiện Chìu A L đang đứng tại khu vực ngã 3 ra mốc 1330, cách đó có 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave a găn BKS 14M1- 04415. L đã đầu thú và khai nhận được Phùn Tắc S1 thuê để cảnh giới lực lượng chức năng khi tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép.
Quá trình điều tra đã xác định được như sau:
Tằng Phốc Sinh và Chìu A L, không quen biết nhau từ trước, nhưng đều quen biết Phùn Tắc S1 và đều không có công việc làm ổn định. Vào khoảng đầu tháng 12/2024, Tằng Phốc S và Phùn Tắc S1 gặp nhau và bàn bạc về việc đưa, đón người xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc để lấy tiền công, sẽ tìm xem có ai thuê đưa dẫn người xuất, nhập cảnh trái phép thì gọi nhau cùng đi làm và chia nhau tiền công, thỏa thuận gọi khách xuất, nhập cảnh trái phép là “kiện hàng” và liên lạc qua wechat, M2 để tránh bị phát hiện. Đến khoảng giữa tháng 12/2024, khi Phùn Tắc S1 gặp Chìu A, S1 rủ L đi trông đường, cảnh giới lực lượng chức năng để đưa người xuất cảnh trái phép Sếnh sẽ trả công cho L, L đồng ý và cho nhau tài khoản wechat để liên lạc.
Sáng ngày 20/12/2024, Phùn Tắc S1 liên lạc với Tằng Phốc Sinh báo có 04 khách Trung Quốc xuất cảnh trái phép về Trung Quốc, thuê Sinh đón, chở người Trung Quốc từ khu vực thôn C xã Q, huyện H đưa lên khu vực mốc biên giới 1330 để Sếnh đưa xuất cảnh trái phép qua khu vực mốc biên giới 1330, S1 hứa trả công cho S 1.000.000 đồng/khách. Đồng thời S1 liên lạc thuê L đi cảnh giới cho S1, S1 hứa khi xong việc sẽ trả công cho L 500.000 đồng, S và L đồng ý. Sau đó S1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS: 14L1-16413, S đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS: 14L1-17209 cùng nhau đến cửa hàng của anh Lê Đức M1 ở thôn E xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh mục đích để S vào thuê xe ô tô 7 chỗ nhãn hiệu Mishubishi Expander màu đen biển số 14A-80872 để Sinh chở người Trung Quốc xuất cảnh trái phép. Sinh, S1 gửi lại hai xe mô tô tại cửa hàng của anh M1 rồi S điều khiển xe ô tô Mishubishi Expander màu đen BKS14A-80872 Sếnh ngồi trên xe chỉ dẫn đến đoạn đường thuộc thôn C xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh thì đỗ xe lại để đợi. Sau đó S1 đón được 04 người Trung Quốc (3 nam, 1 nữ) từ chiếc xe 07 chỗ màu đen đưa lên xe của S điều khiển.
Sau khi nhận đủ người Sếnh chỉ đạo S chở những người này đi theo đường qua nông trường chè xã Q, huyện H (nay là xã Đ, tỉnh Quảng Ninh) lên xã Đ, huyện B (nay là xã H, tỉnh Quảng Ninh) theo đường Sông Móoc A ra đường Q để lên mốc 1330. Bản thân S1 tự đi lên khu vực mốc để đợi Sinh đến giao người, đồng thời S1 gọi điện cho L đón S1 để đi vào mốc 1330. L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave a BKS: 14M1- 04415 đón và chờ S1 đi theo đường xã Q, huyện H qua xã Đ, huyện B để lên mốc 1330. Khi đến gần khu vực mốc 1330, S1 bảo L dừng xe để S1 tự đi bộ vào mốc, chỉ đạo L quay lại ngã ba đường rẽ vào mốc 1330 đứng trông đường, cảnh giới lực lượng chức năng và chỉ đường cho xe ô tô của S đi vào mốc 1330. Tuy nhiên khi S điều khiển xe ô tô đi đến khu vực đường nhánh thuộc thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh thì bị Bộ đội biên phòng ra tín hiệu dừng xe kiểm tra, do lo sợ bị phát hiện chở người xuất cảnh trái phép nên S dừng xe bỏ chạy được khoảng 150 mét thì bị giữ lại, quay về xe ô tô để kiểm tra. Chìu A L giấu xe máy ở gần đó và đang đứng ở rìa đường gần đoạn ngã ba vào mốc 1330 để cảnh giới cho S1 cũng bị lực lượng chức năng kiểm tra và đầu thú, khai nhận hành vi cảnh giới đề S1 tổ chức đưa người Trung Quốc xuất cảnh trái phép.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Tằng Phốc S và Chìu A L khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 7368/CT-VKSQN-P1 ngày 03/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Tằng Phốc S và Chìu A L về tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo Tằng Phốc S và Chìu A L về tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tăng P Sinh từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 27/12/2024.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chìu A L từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 27/12/2024.
Về vật chứng: Đề nghị:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen thu giữ của T1 Phốc Sinh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen thu giữ của Chìu A; tịch thu tiêu huỷ 02 sim điện thoại lèm theo.
- Trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu trắng đỏ đen cũ, biển kiểm soát 14L1- 172.09 cho Tằng Phốc S và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A (a) màu đỏ đen bạc cũ, biển kiểm soát 14M1-044.15 cho anh Chìu Dì V1.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
Quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo: người bào chữa cho các bị cáo có quan điểm đồng tình với Cáo trạng truy tố Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về tội danh, điều khoản truy tố đối với các bị cáo; các bị cáo có nhân thân tốt, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn; sống ở vùng biên giới, là dân tộc thiểu số, thiếu hiểu biết pháp luật; đều là lao động chính trong gia đình; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, xử phạt các bị cáo dưới khởi điểm thấp nhất của khung hình phạt và cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa các bị cáo đồng tình quan điểm của người bào chữa; các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người bào chữa: tại phiên toà người bào chữa cho các bị cáo vắng mặt, các bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử khi vắng mặt người bào chữa của các bị cáo.
[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: tại phiên tòa các bị cáo Tằng Phốc S và Chìu A khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/12/2024, tại khu vực thôn C, xã Q, huyện H (nay là xã Q), tỉnh Quảng Ninh và khu vực thôn P, xã Đ, huyện B (nay là xã H), tỉnh Quảng Ninh, Tằng P và Chìu A cùng đối tượng Phùn Tắc S1 (đã bỏ trốn) đã tổ chức cho 04 người Trung Quốc lên mốc biên giới 1330 thuộc bản L, xã Q, huyện H (nay là xã Đ), tỉnh Quảng Ninh để xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, bắt giữ. Tằng Phốc S và Chìu A chưa được hưởng lợi.
Hành vi nêu trên của bị cáo Tằng Phốc S và Chìu A L đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép" quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần tuyên cho mỗi bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và đồng thời có tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về vai trò: vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó: bị cáo Tằng Phốc S và Chìu A đều là người được Phùn Tắc S1 thuê đưa đón, cảnh giới người từ Việt Nam qua Trung Quốc, mặc dù các bị cáo không quen biết nhau nhưng đều biết mình đang tham gia vào cùng một đường dây đưa người qua biên giới và cùng hướng tới mục đích phạm tội để nhận tiền công, do đó cả hai bị cáo đều được xác định là đồng phạm với vai trò là người thực hành tội phạm, trong đó bị cáo Tăng Phúc S2 là người trực tiếp đưa đón người Trung Quốc, L là người cảnh giới nên S2 giữ vai trò cao hơn L.
[5] Về nhận thân: các bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự;
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo L ra đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về mức hình phạt: khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt tới đâu thì việc bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù là cần thiết để giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích.
Các bị cáo thực hiện hành vi đưa người xuất cành trái phép sang Trung Quốc nhưng chưa đưa được qua biên giới đã bị phát hiện, bắt giữ, nên hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và được áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
[7] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có công ăn việc làm, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen (thu của Tằng Phốc S); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen (thu của Chìu A). Quá trình điều tra xác định các điện thoại trên là của các bị cáo, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với: 02 sim điện thoại kèm theo không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu trắng đỏ đen cũ, biển kiểm soát 14L1- 172.09 (thu của Tằng P) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu đỏ đen bạc cũ, biển kiểm soát 14M1-044.15 (thu của Chìu A). Quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu trắng đỏ đen là của Tằng Phốc Sinh không sử dụng vào việc phạm tội; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu đỏ đen bạc là của anh C1 Dì Voòng (bố bị cáo L), bị cáo L sử dụng đi cảnh giới cho S, anh V1 không biết, do đó cần trả lại 02 xe mô tô trên cho chủ sở hữu.
- Đối với xe ô tô Misubishi Xpander màu đen BKS:14A-808.72 tạm giữ của Tằng Phốc S, xác minh là của anh Lê Đức M1 cho Tằng Phốc Sinh thuê, anh M1 không biết việc S thuê xe để chở người xuất cảnh trái phép, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô này cho anh M1 nên Hội đồng xét xử không đề cập lại.
- Đối với 01 xe mô tô Honda Winner BKS 14L1-16413, xác minh là xe của Phùn Tắc S1, hiện tại S1 bỏ trốn không có mặt tại địa phương, nên tách ra xử lý sau.
[10] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên cơ bản được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo L là có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để quyết định một mức hình phạt cho phù hợp với quy định của pháp luật.
Quan điểm của người bào chữa đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo là không phù hợp nên không được chấp nhận.
[11] Nội dung khác:
- Trong vụ án này còn có Phùn Tắc S1 là người bàn bạc, thuê Tằng Phốc S, Chìu A tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép, hiện S1 đã bỏ trốn, không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với S1, nên tách ra, khi nào bắt được xử lý sau.
- Về 04 người Trung Quốc xuất cảnh trái phép gồm: Li Yu Y (Lý Vũ V2), Lin Z (L), He Qiu W (Hạ Thu V3), Zhou J (C) có hành vi nhập cảnh trái phép nhưng trước đó chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này nên không xử lý hình sự, Cơ quan An ninh điều tra đã có Công văn chuyển Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Q xử lý theo quy định.
[12] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Tằng Phốc S và Chìu A L, phạm tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
-
Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
-
Căn cứ: khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Tằng Phốc S 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 27/12/2024.
-
Căn cứ: khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Chìu A (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi những ngày bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 27/12/2024.
-
Căn cứ: khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
-
Về xử lý vật chứng: áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen cũ (thu của Tằng Phốc S); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen cũ (thu của Chìu A). Tịch thu tiêu huỷ 02 sim điện thoại kèm theo.
- Trả lại cho bị cáo Tằng Phốc S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu trắng đỏ đen cũ, biển kiểm soát 14L1- 172.09; trả lại cho anh C1 Dì Voòng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A (a) màu đỏ đen bạc cũ, biển kiểm soát 14M1-044.15.
- (Tình trạng như Biên bản giao vật chứng số 24 ngày 04/9/2025 giữa Cơ quan An Ninh điều tra Công an tỉnh và Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).
- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Tăng Phốc S và Chìu A L, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Duy Hải |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
||
|
Đỗ Xuân Hoài |
Lê Phi Long |
Bản án số 123/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
- Số bản án: 123/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tằng Phốc S và Chìu A L, phạm tội: “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
