Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 122/2025/HS-ST

Ngày: 29 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phi Long và ông Đỗ Xuân Hoài.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Xuân T, sinh ngày 19/7/1998 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn A, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T1 (đã chết) và bà: Vũ Thị T2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú ngày 16/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị M, sinh ngày 26/06/1980 tại Nghệ An; nơi cư trú: tổ C, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T3 (đã chết) và bà: Phạm Thị X; có chồng là: Phạm Đình P và có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2011; tiền sự: không.

Tiền án: 01 tiền án. Ngày 18/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử 36 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án.

Bị cáo đầu thú ngày 18/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Trung L, sinh ngày 23/10/1978 tại Thái Bình; nơi cư trú: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T3 và bà: Uông Thọ N; có vợ là: Phạm Thị N1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 09/02/2010 bị TAND quận Cầu Giấy, TP. xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 16 tháng, tính từ ngày tuyên án về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đã thi hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Đình P, sinh năm 1977; nơi cư trú: tổ C, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh), có mặt.

- Người làm chứng: Chị Phạm Thị N1, sinh năm 1997, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Xuân T là lao động tự do, làm nghề tiếp thị bán hàng bánh kẹo cho các cửa hàng tạp hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Năm 2024, T nhận thấy có nhiều người có nhu cầu mua thuốc lá điếu nhãn hiệu nước ngoài nên T vào mạng xã hội Facebook, tìm nguồn từ những người không quen biết có thể đặt mua thuốc lá điếu nhập lậu do nước ngoài sản xuất rồi đăng bài bán lại các loại thuốc lá này với giá cao hơn. Thấy T đăng bài rao bán thuốc lá trên mạng xã hội Facebook, Nguyễn Thị M là chủ cửa hàng bánh kẹo tại phường C, tỉnh Quảng Ninh cùng anh trai là Nguyễn Trung L liên lạc, thỏa thuận mua nhiều loại thuốc lá điếu nhãn hiệu nước ngoài với số lượng, nhãn hiệu cụ thể theo từng lần M và L đặt hàng. T đồng ý và cung cấp số tài khoản của chị gái T là Bùi Thị Thanh H để M chuyển tiền mỗi lần mua thuốc lá rồi T chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của chị H sang tài khoản của T để tránh bị phát hiện.

Sau khi nhận được tiền của M, T liên hệ với người bán thuốc lá điếu nhập lậu, cung cấp thông tin về loại thuốc, số lượng và tên người nhận không có thật như N2, T4, N3... nhưng cung cấp số điện thoại do T sử dụng là 0778.318.665 để người bán bọc kín thuốc lá điếu trong các thùng bìa cacton, gửi chuyển phát bảo đảm cho T. Sau khi thuốc lá về đến các Bưu cục thuộc Bưu điện tỉnh Q, T trực tiếp đến hoặc gọi điện cho L ra Bưu cục nhận hàng. Các thùng bìa cacton đều ghi thông tin người gửi không có thật là “Shop Phương T5, đường T, khu Trung tâm hành chính, D, thành phố D, Bình Dương” và ghi số điện thoại người gửi là số điện thoại của T.

Theo cách thức như trên, từ đầu năm 2024 đến trước ngày 09/12/2024, L và M nhiều lần mua thuốc lá điếu nhập lậu của T với số lượng 16.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu các nhãn hiệu gồm: 500 bao Esse Change, 1.000 bao Cayon Vanilla, 10.400 bao State Express, 500 bao Zest Marula, 1.000 bao Zest, 1.500 bao Esse Special Gold, 1.000 bao Richmond, 5.00 bao ZO UK, cất giấu tại kho do L thuê tại kho do L thuê tại số D, đường N, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường Q, tỉnh Quảng Ninh). Ngoài ra, L và M còn mua của những người không quen biết trên mạng xã hội 7.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu nước ngoài khác gồm: 6.480 bao Nanjing, 1.000 bao Diamond và 500 bao ShuangXi. Tổng số thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu nước ngoài M và L mua để cất giấu, bán kiếm lời là 24.380 bao.

Ngày 10/12/2024, L tiếp tục đặt mua của T 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero, E và chuyển khoản thanh toán trước 50 triệu đồng cho T. Khoảng 09 giờ ngày 16/12/2024, sau khi được T thông báo một phần thuốc lá điếu đã được vận chuyển đến bưu cục, L điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển số 14U1-417.01 đến bưu cục Q, tỉnh Quảng Ninh, nhận 03 thùng bìa cacton chứa 1.500 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero rồi mang về kho cất giấu thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q bắt quả tang; 2.500 bao thuốc lá còn lại gồm 1.000 bao H1 và 1.500 bao Esse được chuyển phát bảo đảm đến Bưu cục H2, tỉnh Quảng Ninh đã bị Cơ quan điều tra thu giữ sau đó.

Khoảng 11 giờ ngày 16/12/2024, tại khu vực chợ H3 thuộc phường H, tỉnh Quảng Ninh, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q kiểm tra, phát hiện Bùi Xuân T đang điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 14X1-377.00 chở hai thùng bìa cacton chứa 1.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu do nước ngoài sản xuất gồm: 500 bao thuốc lá nhãn hiệu Richmon và 500 bao thuốc lá nhãn hiệu Esse Change. T đầu thú và khai nhận về hành vi bán 20.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu cho Nguyễn Trung L và Nguyễn Thị M; ngoài 1.000 bao thuốc lá bị kiểm tra, thu giữ, T còn đặt mua thêm 1.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu State Express gửi về Bưu cục H2 rồi mang về phòng trọ ở phường C, tỉnh Quảng Ninh để cất giấu, bán cho những người có nhu cầu kiếm lời. Cơ quan điều tra đã thu giữ 1.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu State Express theo khai nhận của T.

Ngày 18/12/2024, Nguyễn Thị M đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q đầu thú, khai nhận về hành vi cùng Nguyễn Trung L buôn bán 28.380 bao thuốc điếu nhập lậu do nước ngoài sản xuất (24.380 bao cất giấu tại kho và 4.000 bao mua của T ngày 16/12/2025). Tiến hành khám xét nơi ở của M, cơ quan điều tra thu giữ 70 chai rượu nhãn hiệu nước ngoài gồm Chivas, M1 và B không dán tem nhập khẩu, không có giấy tờ hóa đơn chứng minh nguồn gốc xuất xứ và 07 quyển sổ ghi chép của M.

Tại Kết luận giám định số 3797/KL-KTHS và số 3925/KL-KTHS ngày 23/12/2024 và ngày 03/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H xác định: toàn bộ 30.880 bao thuốc lá điếu thu giữ của Bùi Xuân T, Nguyễn Trung L và thu giữ tại bưu cục H2, tỉnh Quảng Ninh đều do nước ngoài sản xuất, không dán tem nhập khẩu. Tổng số thuốc lá điếu còn lại sau giám định là 28.240 bao.

Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo Bùi Xuân T, Nguyễn Trung L và Nguyễn Thị M khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người làm chứng chị Phạm Thị N1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại cơ quan điều tra có lời khai phù hợp với nội dung vụ án.

Tại Cáo trạng số 7650/CT-VKSQN-P3 ngày 10/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Bùi Xuân T, Nguyễn Thị M và Nguyễn Trung L về tội: “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo: Bùi Xuân T, Nguyễn Thị M và Nguyễn Trung L về tội: “Buôn bán hàng cấm” và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Xuân T từ 08 năm đến 09 năm tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/12/2024.
  • - Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù (cho hưởng án treo) tại Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2020/HS-ST ngày 18/9/2020 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, được trừ đi 21 ngày đã tạm giam của Bản án ngày 18/9/2020 (từ 30/5/2020 đến ngày 19/6/2020), buộc bị cáo Nguyễn Thị M phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 10 năm 11 tháng 09 ngày đến 11 năm 11 tháng 09 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 18/12/2024.
  • -Áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung L từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: không đề nghị.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền do phạm tội mà có là 255.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước, được trừ đi số tiền 10.00.000 đồng bị cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra, bị cáo còn phải nộp số tiền 245.000.000 đồng.

Về vật chứng: đề nghị:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 28.240 bao thuốc lá được hoàn lại sau giám định.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen thu của Nguyễn Trung L; số tiền 10.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen biển số 14X1-377.00 (kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 033454) thu của Bùi Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu của Nguyễn Thị M.
  • - Trả lại bị cáo Bùi Xuân T: 01 Giấy phép lái xe mang tên Bùi Xuân T, 02 điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone và N4; trả lại bị cáo Nguyễn Thị M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.
  • - Trả lại anh Phạm Đình P 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ biển số 14U1-417.01.

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tổ tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Từ đầu năm 2024 đến ngày 09/12/2024, tại phường C và phường Q, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Xuân T có hành vi bán cho Nguyễn Thị M và Nguyễn Trung L tổng số 20.400 bao thuốc điếu nhập lậu do nước ngoài sản xuất với giá 255 triệu đồng, thu lợi bất chính 10.000.000 đồng, để M và L mang về cất giấu tại kho ở phường Q cùng 7.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu nước ngoài mua của những người không rõ lai lịch, địa chỉ nhằm mục đích bán kiếm lời. Tổng số thuốc lá điếu M và L cất giấu để bán kiếm lời là 28.380 bao.

Ngoài ra, Bùi Xuân T còn mua 2.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu nước ngoài của những người không rõ lai lịch, địa chỉ để mang về phòng trọ tại phường C, tỉnh Quảng Ninh để cất giấu, bán kiếm lời. Như vậy, tổng số thuốc lá điếu T đã bán và cất giấu để bán kiếm lời là 22.900 bao.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Bùi Xuân T, Nguyễn Thị M và Nguyễn Trung L đã phạm vào tội: “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý việc sản xuất, buôn bán hàng cấm trong phạm vi lãnh thổ nước ta. Các bị cáo biết rõ hành vi buôn bán hàng cấm là trái pháp luật nhưng vì động cơ, mục đích lợi nhuận nên vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải xử lý nghiêm để giáo dục các bị cáo, cũng như răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Về vai trò: trong vụ án, bị cáo T phạm tội độc lập; bị cáo L và M đồng phạm với nhau và mang tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó: bị cáo L biết rõ thuốc lá mà T bán là thuốc lá nhập lậu, không rõ nguồn gốc xuất xứ nhưng vẫn thỏa thuận mua với số lượng lớn để bán kiếm lời, là người trực tiếp liên hệ việc mua bán thuốc lá và vận chuyển thuốc lá về bán, bị cáo M giúp sức cho L trong việc ghi chép số sách mua bán thuốc lá và chuyển tiền thanh toán mua thuốc cho người bán nên L giữ vai trò cao hơn M.

[5] Về nhân thân: bị cáo T có nhân thân tốt và chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo L có nhân thân xấu; bị cáo M có 01 tiền án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo T nhiều lần mua, bán thuốc lá nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo M đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra: bị cáo T và bị cáo M ra đầu thú, bị cáo T tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt:

[6.1] Về hình phạt chính: khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt đến đâu thì việc cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.

Bị cáo M phạm tội trong thời gian thử thách của bản án cho hưởng án treo trước đó, căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ buộc M phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[6.2] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo buôn bán hàng cấm với số lượng lớn nhằm mục đích kiếm lời, nên căn cứ vào khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự, cần phạt bổ sung mỗi bị cáo 20.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về biện pháp tư pháp: bị cáo T bán thuốc lá cho bị cáo M và Lập thu được 255.000.000 đồng, bị cáo đã sử dụng số tiền này để trả cho người bán thuốc lá cho bị cáo, số tiền thu lợi bị cáo hưởng là 10.000.000 đồng. Xét thấy, số tiền 10.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính, cần buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã tự nguyện nộp đủ 10.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 30.880 bao thuốc lá điếu thu giữ của các bị cáo, sau giám định hoàn lại còn 28.240 bao được đựng trong 61 thùng giấy là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen cũ thu của Nguyễn Trung L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen cũ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng nâu cũ và 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen cũ, biển số 14X1-377.00 (kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 033454) thu của Bùi Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám đen cũ thu của Nguyễn Thị M. Quá trình điều tra xác định các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với các Sim điện thoại được gắn trong các điện thoại bị tịch thu sung ngân sách Nhà nước không có giá trị sử dụng cần tiêu huỷ.
  • - Đối với: 01 Giấy phép lái xe mang tên Bùi Xuân T là giấy tờ cá nhân của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo T; 02 điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone mặt lưng màu bạc cũ và N4 màu xanh cũ thu của Bùi Xuân T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen cũ thu của Nguyễn Thị M, các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho các bị cáo.
  • - Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ cũ, biển số 14U1-417.01 thu giữ của bị L. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc sở hữu của anh Phạm Đình P, anh P cho bị cáo L mượn để đi lại, anh không biết L sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên cần trả lại cho anh P.
  • - Đối với số tiền 10.000.000 đồng do T tự nguyện giao nộp. Bị cáo T thu lợi bất chính số tiền 10.000.000 đồng, do đó số tiền bị cáo tự nguyện nộp này được trừ vào số tiền bị cáo phải nộp để sung ngân sách Nhà nước (đã xử lý tại phần Biện pháp tư pháp ở phần trên).

[9] Nội dung khác:

  • - Đối với Bùi Thị Thanh H là chị gái của T cho T mượn tài khoản ngân hàng để sử dụng nhưng không biết việc T buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu do nước ngoài sản xuất nên không có căn cư xem xét trách nhiệm hình sự.
  • - Đối với những người bán thuốc lá điếu nhập lậu cho T, M, L qua mạng xã hội Facebook, quá trình điều tra không làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
  • - Đối với 70 chai rượu nhãn hiệu nước ngoài thu giữ của M, quá trình điều tra M khai nhận là rượu thật, Cơ quan điều tra đã làm việc với các đơn vị đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho các hãng M1, C và B nhưng không có mẫu so sánh, không chứng minh được yếu tố buôn bán, vận chuyển qua biên giới nên Cơ quan điều tra đã tách ra xử lý theo thủ tục hành chính theo quy định.

[10] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên cơ bản được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Bùi Xuân T, Nguyễn Thị M và Nguyễn Trung L, phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
    1. Căn cứ: điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; diểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

      Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024.

      Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Bùi Xuân T 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

    2. Căn cứ: điểm b khoản 3; khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, tổng hợp với hình phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù (cho hưởng án treo) về tội: “Tàng trữ hàng cấm” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2020/HS-ST ngày 18/9/2020 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, buộc bị cáo Nguyễn Thị M phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 10 (mười năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 18/12/2024, được trừ đi những ngày đã tạm giam của Bản án ngày 18/9/2020 (từ ngày 30/5/2020 đến ngày 19/6/2020).

      Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Thị M 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

    3. Căn cứ: điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung L 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/12/2024.

      Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Trung L 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

  3. Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

    Buộc bị cáo Bùi Xuân T phải nộp số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

    Xác nhận bị cáo T đã nộp đủ số tiền 10.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra (Tình trạng theo Phiếu hạch toán nộp tiền mặt số 72001 ngày 27/12/2024 của Phòng G- Chi nhánh H4- Ngân hàng TMCP Đ, số tiền được nộp vào tài khoản số 39490903986200000 của Công an tỉnh Q mở tại Kho bạc Nhà nước Q).

  4. Về vật chứng: áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 33 thùng giấy được dán niêm phong bên trong có 14.300 bao thuốc lá; 02 thùng giấy được dán niêm phong bên trong có 1.300 bao thuốc lá; 01 thùng giấy được dán niêm phong bên trong có 450 bao thuốc lá; 25 thùng giấy được dán niêm phong bên trong có 12.190 bao thuốc lá.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen cũ thu của Nguyễn Trung L; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen cũ, biển số 14X1-377.00 (kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 033454), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen cũ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng nâu cũ thu của Bùi Xuân T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám đen cũ thu của Nguyễn Thị M. Tịch thu tiêu huỷ các Sim điện thoại được gắn trong các điện thoại bị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
    • - Trả lại cho bị cáo: Bùi Xuân T: 01 Giấy phép lái xe mang tên Bùi Xuân T, 02 điện thoại di động nhãn hiệu: Iphone mặt lưng màu bạc cũ và N4 màu xanh cũ; Nguyễn Thị M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen cũ.
    • - Trả lại cho anh Phạm Đình P 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ cũ, biển số 14U1-417.01.

      (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 33 ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q).

      (01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 033454 và 01 Giấy phép lái xe mang tên Bùi Xuân T hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án được chuyển đến Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh kèm theo Bản án này để thi hành).

  5. Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo: Bùi Xuân T, Nguyễn Thị M và Nguyễn Trung L, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo, người liên quan;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQ CSĐT + CQ THAHS Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội;
  • - Viện phúc thẩm 1 VKSND tối cao;
  • - THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HS, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Duy Hải

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Phi Long - Đỗ Xuân Hoài

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 122/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo: Bùi Xuân T, Nguyễn Thị M và Nguyễn Trung L, phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger