|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:122/2025/HS-PT Ngày:10/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Chung; Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 10/12/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm kín vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 156/TLPT-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trần Việt T, do có kháng cáo của bị cáo Trần Việt T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 181/2025/HSST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.
- Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Trần Việt T, sinh năm 2000
Nơi cư trú: Ngõ E, ngách G, đường P, tổ B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh).
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12. Họ và tên bố: Trần Tiến D, sinh năm 1969; Họ và tên mẹ: Trần Thị H, sinh năm 1973 (đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không
Bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh B. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Trần Việt T: Luật sư Nguyễn Văn T1 - Công ty L2, đoàn luật sư thành phố H. ( Có mặt)
Địa chỉ: Số A ngõ C T, phường C, thành phố Hà nội.
* Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị Thu G, sinh ngày 31/01/2007 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã M, tỉnh Bắc Ninh).
Hiện ở: P Tòa A chung cư Q, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Thu G:
- Chị Giáp Thị L, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã M, tỉnh Bắc Ninh).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 16/12/2024, Vũ Minh Q, sinh năm 2002, trú tại số nhà B đê C, phường L, thành phố B; Trần Việt T, sinh năm 2000, trú tại tổ B, phường T, thành phố B và anh Vũ Anh T2, sinh năm 2002, trú tại Chung cư G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang uống rượu với nhau tại quán “Ốc 45” trên đường P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh).
Một lúc sau, chị Nguyễn Thị Thu G, sinh ngày 31/01/2007, trú tại thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (hiện ở P Tòa A chung cư Q) cùng chị Phùng Hoàng A, sinh năm 1994 trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và một số người khác đến quán “Ốc 45”. Do anh T2 có quen biết chị G từ trước nên rủ Q sang mời rượu giao lưu. Một lúc sau, T cũng đi sang bàn của chị G mời rượu giao lưu cùng mọi người. Khoảng hơn 23 giờ cùng ngày sau khi ăn uống xong, mọi người đi về nhà.
Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, T sử dụng tài khoản Facebook “Trần Việt T” gửi kết bạn với tài khoản Facebook “Thugiang Nguyen” của chị G. Sau đó, T lập nhóm chat trong ứng dụng M để T, Q và chị G nói chuyện với nhau. Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, T rủ chị G đi ăn đêm thì chị G đồng ý và gửi hình ảnh vị trí để T đến đón. T gửi lại vị trí của chị G cho Q biết. Q thuê xe taxi đi đến chung cư Q. Một lúc sau, T thuê xe taxi đi đến đón Q và chị G cùng đi đến quán H4 trên đường N, phường T, thành phố B. Ba người uống hết khoảng 01 lít rượu. Trong lúc ăn uống, Q và chị G nói chuyện trêu đùa nhau. Q tưởng chị G có tình cảm với mình nên nảy sinh ý định quan hệ tình dục với chị G.
Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, chị G bảo đi về nhà. Q gọi điện thoại đến tổng đài hãng taxi M1 thuê xe. Một lúc sau, anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1995, trú tại thôn G, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang lái xe taxi đi đến điểm hẹn để đón khách. Q, T, chị G ngồi ở hàng ghế phía sau. T bảo anh T3 đưa đến khách sạn L3. Chị G thấy T bảo đưa đến khách sạn nên nói: “Cho em về Q”. Thời điểm này, Q hiểu ý T lợi dụng chị G đang trong tình trạng say rượu, không còn tỉnh táo nên muốn đưa đến khách sạn để quan hệ tình dục nên nói với chị G: “Ra đây nằm một tí đỡ say thì về” nhưng chị G không đồng ý, nhiều lần yêu cầu cho về nhà. Do chị G không phải là người thuê xe nên anh T3 lái xe taxi chở ba người đến khách sạn L3 ở số B đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh). Khi đến nơi, Q xuống xe, mở cửa và bảo chị G xuống xe nhưng chị G không đồng ý mà vẫn ngồi trên xe và liên tục chửi, đòi về nhà. Q bế xốc nách đưa chị G xuống xe rồi đưa lên vỉa hè
sau đó quay lại trả tiền xe taxi. Trong lúc Q đang trả tiền thì chị G bỏ chạy về phía chợ N Q và T chạy đuổi theo chị G. Q đuổi theo khoảng 20m thì đuổi kịp, dùng tay giữ chị G lại và nói: “Lên nằm tí rồi về”. Chị G không đồng ý và nói: “Cho em về”. Q dùng hai tay bế chị G đi lên cửa khách sạn rồi để chị G đứng và đẩy vào quầy lễ tân. T đi đến quầy lễ tân gặp anh Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1991 là quản lý khách sạn và được cho thuê phòng 602. Q dùng tay kéo chị G đi vào bên trong thang máy và giữ lại đợi T lấy chìa khoá phòng. T sau khi nhận khoá phòng thì đi vào trong thang máy bấm lên tầng 6. Chị G liên tục chửi, đòi về nhà và ngồi xuống thang máy.
Khi thang máy đi lên đến tầng 6, T đi ra ngoài dùng chìa khoá mở cửa phòng 602 và bật điện phòng. Lúc này, Q dùng hai tay kéo chị G ra khỏi thang máy nhưng chị G chống cự lại bằng cách dùng tay phải cầm chặt vào cạnh cửa thang máy giữ lại nên Q không kéo chị G ra ngoài thang máy được. Thấy vậy, T mở cửa phòng xong thì quay lại dùng tay phải kéo, gỡ tay chị G đang cầm ở cửa thang máy ra. Q và T cùng nhau lôi kéo chị G từ thang máy đến phòng 602. Chị G chửi, đòi về và ngồi xuống cửa phòng. Q bế chị G đi vào trong phòng đặt chị G nằm lên giường gần cửa ra vào rồi vật đè chị G nằm ngửa ra. Thời điểm này, T đi vào trong nhà vệ sinh trong phòng 602. Q nằm lên phía trên bụng chị G, dùng tay phải giữ tay trái chị G còn tay trái giữ tay phải chị G và hôn vào miệng. Chị G giãy giụa chân tay nhưng do bị say rượu và yếu hơn nên không chống cự được nữa. Q cởi áo ngoài rồi cởi áo ngực của chị G thì bị chị G dùng tay tát 01 cái vào mặt. Q tiếp tục vừa hôn chị G, vừa dùng tay cởi áo ngực của chị G bật ra. Sau đó, Q dùng tay cởi quần soóc bò của chị G thì chị G dùng tay giữ quần lại và chửi. Q kéo quần bò và quần lót của chị G ra rồi vứt xuống nền nhà sau đó tự cởi quần của mình; dùng chăn chùm lên người Q và chị G. Q ở tư thế nằm đè lên người chị G, dùng tay phải giữ tay trái chị G và dùng tay trái cầm dương vật đã cương cứng tiếp xúc với bộ phận sinh dục của chị G; dùng hai tay nhấc hai chân chị G lên và đưa dương vật vào trong âm đạo chị G để giao cấu. Chị G giãy giụa nhưng không chống cự được. Khi Q đang giao cấu với chị G thì T từ trong nhà vệ sinh đi ra nhìn thấy sau đó nằm lên giường phía bên trong. Q giao cấu khoảng 03 phút thì dương vật hết cương cứng nên dừng lại rồi nằm xuống giường tiếp tục dùng tay sờ vào ngực và hôn chị G. Lúc này, T nằm phía bên trong dùng tay sờ vào ngực chị G thì bị chị G gạt tay ra và chửi.
Khoảng 05 phút sau, Q thấy dương vật cương cứng trở lại nên nảy sinh ý định giao cấu với chị G lần thứ 2. Q nằm đè lên người chị G và cho dương vật vào trong âm đạo của chị G thì chị G chửi và dùng tay tát 01 cái vào mặt nhưng Q vẫn tiếp tục giao cấu khoảng 02 phút thì dương vật hết cương cứng mặc dù chưa xuất tinh. Q rút dương vật ra và nằm bên trái chị Giang H2, tay vẫn sờ ngực. Sau đó, T đi về trước. Chị G vào nhà vệ sinh tắm, mặc quần áo rồi đi xuống gọi xe taxi về nhà. Q mặc quần
áo rồi thanh toán trả phòng và về sau cùng. Buổi sáng cùng ngày, chị Dương Thị L1 là nhân viên khách sạn đã dọn dẹp phòng và thay giặt vỏ ga, chăn.
Ngày 18/12/2024, chị G có đơn trình báo. Cơ quan điều tra triệu tập Vũ Minh Q thì Q đầu thú, khai nhận về hành vi hiếp dâm và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax lắp sim số 0352.826.557 (bút lục 201). Ngày 25/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Việt T về hành vi hiếp dâm.
Cơ quan điều tra cho Vũ Minh Q xác định hiện trường. Q xác định địa điểm hiếp dâm chị G trên giường trong phòng 602 khách sạn L3 ở số B đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh).
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định tổn thương của chị Nguyễn Thị Thu G do bị xâm hại tình dục; trưng cầu giám định AND trên dịch âm đạo và trên quần áo do chị G giao nộp.
Kết luận giám định số 2879/24/KLXHTD-TTPY ngày 24/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính:
- Màng trinh giãn rộng. Vị trí 5 giờ, 7 giờ có vết rách đến hết gốc màng trinh, không chảy máu, không bầm tím.
- Âm đạo: Không bầm tím, không tổn thương.
- Xét nghiệm dịch âm đạo: Không thấy tinh trùng
- Siêu âm tử cung phần phụ: Không thấy bất thường
- Kết luận:
- Màng trinh giãn rộng. Vị trí 5 giờ, 7 giờ có vết rách đến hết gốc màng trinh, không chảy máu, không bầm tím.
- Không thấy tinh trùng trong dịch âm đạo
- Hiện tại chị Nguyễn Thị Thu G không có thai.
- Kết luận khác:
Trên cơ thể chị Nguyễn Thị Thu G không có thương tích (bút lục 27-28).
Kết luận giám định số 719/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của V - Bộ C kết luận: Không phát hiện thấy tinh trùng và ADN của người khác trong mẫu ghi thu dịch âm đạo của Nguyễn Thị Thu G (bút lục 39-40).
Kết luận giám định số 3712/KL-KTHS ngày 02/6/2025 của V - Bộ C kết luận: Không phát hiện thấy tinh trùng, ADN của Vũ Minh Q và Trần Việt T bám dính trên các mẫu gửi giám định (bút lục 50-51).
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 03 file video thu tại camera ở tầng 1 và tầng 6 khách sạn L3.
Kết luận giám định số 29/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 file video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
- Trích xuất được 24 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong 03 file video gửi giám định (bút lục 67).
Kết luận giám định số 3765/KL-KTHS ngày 23/6/2025 của V - Bộ C kết luận:
- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các file video mẫu cần giám định.
- Không đủ cơ sở đưa ra kết luận về tiếng nói của Nguyễn Thị Thu G, Vũ Minh Q và Trần Việt T trong mẫu cần giám định (do các mẫu cần giám định có chất lượng âm thanh kém).
- Không chuyển nội dung các cuộc hội thoại trong mẫu cần giám định thành văn bản do không giám định tiếng nói và chất lượng âm thanh kém (bút lục 59).
Cơ quan điều tra cho Vũ Minh Q, Trần Việt T và chị Nguyễn Thị Thu G xem 03 file video nêu trên. Kết quả, Q, T và chị G xác định có hình ảnh Q dùng tay xốc nách chị G từ trong ô tô ra ngoài, bế chị G lên vỉa hè đặt lên bậc cầu thang; hình ảnh T đi đến quầy lễ tân thuê phòng; hình ảnh Q đẩy chị G vào trong thang máy và T đi vào bấm nút cầu thang đi lên tầng 6; hình ảnh T mở cửa phòng 602; hình ảnh Q và T lôi kéo chị G từ thang máy vào phòng 602 (bút lục 88, 103, 296)
Cơ quan điều tra cho chị G nhận dạng ảnh của Q và T. Kết quả, chị G nhận đúng ảnh và xác định Q và T đã cưỡng ép chị G đưa vào khách sạn L3 để quan hệ tình dục trái ý muốn (bút lục 105-107).
Ngày 15/7/2025, Cơ quan điều tra cho Vũ Minh Q thực nghiệm hành vi hiếp dâm Nguyễn Thị Thu G. Kết quả, Q thực hiện thuần thục các động tác 2 lần hiếp dâm chị G như đã khai (bút lục 109-123)
Kiểm tra dữ liệu điện tử điện thoại di động do chị G giao nộp và điện thoại di động do Q giao nộp thấy tại ứng dụng Messenger có các tin nhắn giữa tài khoản Facebook “Thugiang Nguyen” với tài khoản Facebook “Trần Việt T” và tài khoản Facebook “Minh Q” vào rạng sáng ngày 17/12/2024.
Trong quá trình điều tra, chị G khai sau khi Q hiếp dâm chị G lần thứ nhất xong thì cảm nhận T có giao cấu với chị G trong khoảng 01 phút nhưng không nhìn thấy T đưa dương vật vào âm đạo chị G; do chị G khóc to và chống cự lại nên T dừng lại không giao cấu nữa. Bị cáo Q khai nhìn thấy T dùng tay sờ ngực chị G sau đó chui vào trong chăn ở phía dưới chân chị G; thấy chăn chuyển động phập phồng nên đoán T có thể giao cấu với chị G; khoảng 1 phút sau thì nhìn thấy T chui ra khỏi chăn. Bị cáo T khai nằm phía bên phải chị G dùng tay trái sờ vào ngực chị G nhưng không có hành
vi giao cấu. Cơ quan điều tra đã cho chị G và Q đối chất với T nhưng các bên giữ nguyên lời khai (bút lục 124-127). Căn cứ kết quả điều tra ngoài lời khai của chị G thì không còn chứng cứ khác nên không đủ cơ sở xác định T có giao cấu với chị G.
Đối với Nguyễn Văn T3 lái xe taxi đưa Q, T, chị G đến khách sạn L3; Nguyễn Tiến H1 là quản lý khách sạn L3 cho T thuê phòng nhưng không biết Q, T đưa chị G đến khách sạn để hiếp dâm nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 181/2025/HSST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh đã xét xử và quyết định:
Về hình phạt:
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 141; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Trần Việt T 07 năm 03 tháng tù về tội "Hiếp dâm". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/12/2024.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo Vũ Minh Q, trách nhiệm dân sự, về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 11/9/2025, bị cáo Trần Việt T kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Trần Việt T trình bày: Bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “ Hiếp dâm” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên bị cáo cho rằng việc Tòa cấp sơ thẩm xét xử bị cáo ở mức án 07 năm 03 tháng tù là nặng, bị cáo xin được giảm nhẹ hingf phạt. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới nào nữa.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Việt T: Luật sư Nguyễn Văn T1 trình bày: Bị cáo T là đồng phạm với vai trò giúp sức cho bị cáo Q trong vụ án này. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét, tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét về nhân thân của bị cáo trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tố, hoàn cảnh bị cáo mẹ mất, bố ốm đau bệnh tật, chưa vợ con, bản thân là người lao động chính của gia đình. Ngoài ra bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường cho bị hại, thể hiện bị cáo đã biết ăn năn hố cải, muốn sửa chữa.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Việt T. Giữ nguyên án sơ thẩm xử đối với bị cáo.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Phần tranh luận, người bào chữa cho bị cáo Trần Việt T: Luật sư Nguyễn Văn T1 tranh luận: Về cơ bản tôi đồng tình với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Như trình bày ở trên, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ qui định ở khoản 1 Điều 51 BLHS và 1 tỉnh tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng Điều 54 BLHS, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt của khung hình phạt liền kề.
Bị cáo Trần Việt T nhất trí với tranh luận của luật sư, không bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Viện kiểm sát xác định cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt thấp nhất ở khung hình phạt cho bị cáo. Sau khi nghiên cứu hồ sơ VKS thấy luật sư nêu những tình tiết giảm nhẹ là hoàn toàn đúng và cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng cho bị cáo. Trong vụ án, cấp sơ thẩm xử bị cáo Q 08 năm 03 tháng tù, bị cáo T 07 năm 03 tháng tù thấp hơn bị cáo Q có vai trò chính là 01 năm tù. Hai bị cáo xâm hại đến trẻ vị thành niên nên VKS vẫn giữ nguyên quan điểm giữ nguyên mức án 07 năm 03 tháng tù của Tòa án cấp sơ thẩm đối với bị cáo Trần Việt T.
Bị cáo Trần Việt T, luật sư Nguyễn Văn T1 và đại diện Viện kiểm sát không có tranh luận gì thêm
Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Việt T: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo Trần Việt T đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo: Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm thấy đủ cơ sở xác định: Buổi tối ngày 16/12/2024, Vũ Minh Q, Trần Việt T đi ăn, uống rượu tại quán “Ốc 45” trên đường P, phường B, tỉnh Bắc Ninh thì quen biết chị Nguyễn Thị Thu G, sinh ngày 31/01/2007. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, T, Q đi xe taxi đến chung cư Q đón chị G đưa đến quán H4 trên đường N, phường B tiếp tục ăn, uống rượu với nhau. Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, Q gọi xe taxi thì T bảo đưa chị G đến khách sạn L3 ở số B đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường B, tỉnh Bắc Ninh) mục đích để quan hệ tình dục. Chị G không xuống xe và liên tục đòi về nhà thì bị Q xốc nách bế xuống. Chị G bỏ chạy thì T và Q đuổi theo ép buộc vào khách sạn. T trực tiếp thuê phòng 602. Q kéo chị G vào trong thang máy để T bấm đi lên tầng 6.
Chị G chống cự, đòi về nhà và dùng tay bám chặt vào thang máy. Q và T cùng nhau lôi kéo chị G đưa vào phòng 602. Tại đây, Q đã 2 lần hiếp dâm chị G. Bị cáo T phải chịu trách nhiệm đồng phạm giúp sức cho bị cáo Q về hành vi hiếp dâm chị G. Tại thời điểm bị xâm hại tình dục thì chị G dưới 18 tuổi.
[3]. Hành vi của bị cáo Trần Việt T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 141 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh xét xử bị cáo Trần Việt T theo tội danh và áp dụng điều luật, hình phạt như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Việt T thấy: Vụ án này bị cáo T có đủ năng lực hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền tình dục, danh dự và nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng tới tình hình trị án xã hội, gây bất bìn trong quần chúng nhân dân. Do vậy, việc phải xét xử và áp dụng một mức án phù hợp với bị cáo theo qui định của pháp luật là hoàn toàn cần thiết, không những cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng mà còn răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[5]. Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T thì thấy:
[6]. Về tình tiết tăng nặng TNHS: Không có.
[7]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Việt T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo Trần Việt T có bà nội là Phạm Thị H3 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo T được được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của BLHS.
[9]. Án sơ thẩm sau khi đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo đã xử phạt bị cáo 07 năm 03 tháng tù về tội “Hiếp dâm” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và không nặng đối với bị cáo.
[10]. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới so với cấp sơ thẩm nên HĐXX xét thấy cần không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định của pháp luật.
[11]. Căn cứ các Điều 109,113, 119 và Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Việt T 45 ( bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 10/12/2025 để đảm bảo thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
[12] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
[13] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm được qui định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Việt T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 181/2025/HSST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.
Về hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 141; điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 109, Điều 113, Điều 119 và Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Việt T 07 năm 03 tháng tù về tội "Hiếp dâm". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Việt T 45 ( bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 10/12/2025 để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Trần Việt T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Văn Quyết |
Bản án số 122/2025/HS-PT ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự phúc thẩm (tội hiếp dâm)
- Số bản án: 122/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Hiếp dâm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Việt T phạm tội " Hiếp dâm"
