|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG Bản án số: 120/2025/HS-ST Ngày 10-12-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Lý Thị Thiên Nga
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2025/HSST-QĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Dương Phương N, sinh ngày 16/5/1993 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng (nay là phường N, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quang Q và bà Bạch Y; có vợ là Nguyễn Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/12/2024; có mặt.
- Nguyễn Như H, sinh ngày 23/02/1991 tại Hưng Yên. Nơi thường trú: Thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là Đ, thôn P, xã C, tỉnh Hưng Yên); nơi ở hiện nay: Không nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Như N1 và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Đỗ Thị Nam H1 (đã ly hôn) và 05 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt truy nã, tạm giữ ngày 04/8/2025, chuyển biện pháp ngăn chặn tạm giam ngày 06/8/2025; có mặt.
- Lê Tiến D, sinh ngày 25/10/1983 tại Thái Bình. Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (nay là xã N, tỉnh Hưng Yên); nơi ở hiện nay: Số H L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng (nay là phường N, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiến Q1 và bà Phùng Thị L1; có vợ là Nguyễn Thị Như N2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2025; có mặt.
- Lương Thanh B, sinh ngày 22/6/1983 tại Hà Nội. Nơi thường trú: Thôn H, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là xã K, tỉnh Hưng Yên); nơi ở hiện nay: số I V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là phường Đ, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xuân T1 và Đỗ Thị S; có vợ là Nguyễn Thị Kim Q2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 09/10/2024, bà Phạm Thị T2; nơi cư trú: số C L, M, Ngô Q3, thành phố Hải Phòng (nay là phường N, thành phố Hải Phòng) gọi đến số điện thoại cửa hàng gas của Lương Thanh B tại địa chỉ số I V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là phường Đ, thành phố Hải Phòng) được dán trên vỏ bình gas để thay mới. Một lúc sau, Nguyễn Như H là nhân viên của B chở 01 bình gas đến thay cho bà T2. Trong lúc H đang thay bình gas thì Lê Tiến D đi ngang qua và thấy có người đang thay gas cho bà T2 nên đã vào nhà bà T2 hỏi. Lúc này bà T2 mới biết cửa hàng mình vừa gọi không phải cửa hàng gas quen của D. D chửi H và dùng tay phải tát vào mặt H một cái. H lấy 01 con dao nấu ăn đang treo ở trên tường bếp nhà bà T2 và nhặt cái cân dưới đất lên để doạ D nhưng được bà T2 can ngăn nên lại vứt xuống đất. Thấy vậy, D nhặt con dao đe doạ và đuổi H bỏ chạy ra ngoài nhà bà T2, khi đến cổng khách sạn K số 01/04/227 Lê Thánh T3 thì D không đuổi kịp nên quay lại nhà bà T2 trả con dao. Một lúc sau, H quay lại nhà bà T2 để thu dọn đồ thì D vẫn đứng ngoài cửa nhà bà T2 to tiếng thách thức chửi nhau to tiếng. Sợ xảy ra đánh nhau nên bà T2 khoá cổng để H ở trong nhà và không cho D vào. Cả hai vẫn tiếp tục chửi nhau ở ngoài cửa nhà bà T2. H lấy điện thoại gọi cho Lương Thanh B đến để giải quyết. D cũng lấy điện thoại ra gọi cho Dương Phương N (là em rể của D) đến. Một lúc sau, N một mình đi đến nhà bà T2 thấy D và H vẫn đang to tiếng với nhau qua cánh cổng sắt, N ngồi phía bên trái cổng và quan sát. Khoảng 10 giờ cùng ngày, B một mình đến và chửi nhau với D. Sau đó B và D đấm, đá nhau, N thấy vậy cũng lao đến đánh B. Nhìn thấy B bị N và D cùng đánh nên H bảo bà T2 mở khóa cổng. Khi bà T4 mở cổng,
H chạy từ trong nhà lao ra, nhặt 02 (hai) viên gạch chỉ màu đỏ ở trước cổng nhà bà T2 lao đến phía sau lưng D và ném một viên gạch vào lưng D nhưng không trúng, viên gạch rơi xuống ngay vị trí N đang đứng. N cúi xuống, dùng tay phải nhặt viên gạch chỉ đập trúng vào vùng mặt của B khiến B chảy nhiều máu, viên gạch chỉ rơi xuống đất vỡ làm đôi. H cầm viên gạch chỉ còn lại trên tay trái chạy đến khu vực bãi đất có nhà đang xây dựng ngó lại thấy B bị chảy máu nên vất viên gạch xuống đất và quay lại chỗ B. Được mọi người can ngăn nên D, N bỏ đi. Sau đó, B được mọi người đưa đi cấp cứu.
Tiến hành kiểm tra hiện trường, xác định là phần đường ngách số 4/227 Lê Thánh T3, trước cửa nhà số C L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng (nay là phường N, thành phố Hải Phòng). Thu giữ tại hiện trường: 02 viên gạch chỉ màu đỏ, loại gạch đặc có kích thước 5cm x 10cm x 20cm, trong đó một viên đã bị vỡ làm đôi.
Bà Phạm Thị T2 giao nộp 01 con dao dài khoảng 35cm, cán gỗ màu nâu có đường kính khoảng 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có bản rộng khoảng 05cm là vật Dương cầm để rượt đuổi H và 01 USB chứa 03 clip có hình ảnh liên quan đến vụ việc.
Trong quá trình các đối tượng đánh nhau, B bị các thương tích ở vùng mặt là do N dùng gạch đập; còn quá trình D xô xát với H và B, cả ba không bị thương tích gì.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người Lương Thanh B số 848/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 26/11/2024 kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Thanh B tại thời điểm giám định là 55% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương cung mày trái gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng môi dưới trái gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết xây xước da gò má trái gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết phẫu thuật đầu ngoài cung mày trái gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết phẫu thuật niêm mạc ngách lợi tiền đình hàm trên phải gây nên là 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương hàm trên 2 bên, gãy mỏm trán xương hàm trên bên trái còn phương tiện kết hợp xương hàm trên phải gây nên là 10%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vỡ thành trước và sau xoang hàm gây nên là 09%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương thành ngoài hốc mắt trái, vỡ sàn ổ mắt trái, còn phương tiện kết hợp xương, không ảnh hướng thị lực gây nên là 07%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vỡ sàn ổ mắt phải, không ảnh hưởng thị lực gây nên là 05%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy cung tiếp gò má 2 bên gây nên là 08% và 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy cánh lớn xương bướm trái, gãy mỏm chân bướm 2 bên gây nên là 16%.
Bản kết luận giám định số 3658/KL-KTHS ngày 06/12/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: 03 tập tin video có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 79,5 MB được lưu trong USB nhãn hiệu Kingston 4GB đã qua sử dụng (Ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung. Trích xuất 09 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đều khai nhận như nội dung trên.
Về đồ vật, tài sản tạm giữ và xử lý vật chứng: Chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hải Phòng quản lý: 02 viên gạch chỉ màu đỏ có kích thước khoảng 5cm x 10cm x 20cm (loại gạch chỉ đặc), trong đó có 01 viên đã vỡ làm đôi; 01 con dao dài khoảng 35cm, cán gỗ màu nâu có đường kính khoảng 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có bản rộng khoảng 05cm.
Vấn đề dân sự: Dương Phương N cùng với Lê Tiến D đã bồi thường cho Lương Thanh B số tiền 450.000.000 đồng, B có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho N và không có yêu cầu gì khác.
Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSNQ ngày 29/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Dương Phương N phạm tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 (trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Như H, Lương Thanh B và Lê Tiến D đã phạm tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 3 (trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Dương Phương N phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Xử phạt bị cáo Dương Phương N với mức án với mức án 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Như H;
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Tiến D;
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Thanh B;
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Như H, Lương Thanh B và Lê Tiến D phạm tội Gây rối trật tự công cộng
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Như H với mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Lương Thanh B với mức án từ 27 tháng đến 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 54 tháng đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Lê Tiến D với mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo (Dương Phương N, Lê Tiến D và Lương Thanh B).
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 02 viên gạch chỉ màu đỏ có kích thước khoảng 5cm x 10cm x 20cm (loại gạch chỉ đặc), trong đó có 01 viên đã vỡ làm đôi; 01 con dao dài khoảng 35cm, cán gỗ màu nâu có đường kính khoảng 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có bản rộng khoảng 05cm do là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
- - Về dân sự: Bị cáo Dương Phương N cùng Lê Tiến D đã bồi thường cho Lương Thanh B số tiền 450.000.000 đồng, B có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho N và không có yêu cầu gì khác.
- - Về án phí: Mỗi bị cáo trong vụ án đều phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Nói lời sau cùng: Các bị cáo đều ăn năn hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng (Khu V - Hải Phòng); Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
+ Về căn cứ xác định các bị cáo có tội:
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, lời khai thể hiện:
Xuất phát trong việc kinh doanh gas nên khoảng 10 giờ ngày 09/10/2024, Dương Phương N dùng 01 viên gạch chỉ màu đỏ có kích thước khoảng 5cm x 10cm x 20cm (loại gạch chỉ đặc xác định là hung khí nguy hiểm) đập một nhát vào mặt Lương Thanh B khiến B bị thương tích, tổn hại 55% sức khoẻ. Ngoài ra, Lê Tiến D và Nguyễn Như H, Lương Thanh B có hành vi chửi bới, đánh đấm và dùng dao rượt đuổi nhau gây mất trật tự công cộng tại khu vực ngõ D L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng (nay là phường N, thành phố Hải Phòng) đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Như vậy, hành vi của bị cáo Dương Phương N phạm đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Như H, Lương Thanh B và Lê Tiến D đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
[3] Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đã truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
+ Về vai trò của các bị cáo Gây rối trật tự công cộng:
[4] Trong vụ án này, các bị cáo Nguyễn Như H và Lương Thanh B Nguyễn Như H, Lương Thanh B cùng nhau chửi bới, đánh đấm nhau nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần căn cứ vào tính chất và mức độ tham gia cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi của các bị cáo theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự, cụ thể:
Lê Tiến D và Nguyễn Như H, Lương Thanh B chửi bới, đánh đấm và dùng dao rượt đuổi nhau. D chửi H, H lấy dao doạ D nhưng vứt lại, D nhặt dao đuổi H chạy ra ngoài; H gọi B đến chửi nhau với D, D gọi N; H cầm gạch ném D trước gây mất trật tự công cộng, hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy có thể đánh giá D và H có vai trò ngang nhau, B có vai trò thấp nhất trong vụ án.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
+ Về nhân thân:
[6] Các bị cáo trong vụ án đều là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7] Quá trình điều tra, xét xử tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Bị cáo N đã bồi thường cho bị hại số tiền 450.000.000 đồng và bị hại có đơn xin giảm nhẹ, bản thân bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo N, D đều khai số tiền bồi thường nêu trên thì một nửa là tiền của D vì bị cáo xác định mình cũng có lỗi trong sự việc xảy ra.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc bồi thường khác phục hậu quả tuy thuộc trách nhiệm dân sự của bị cáo khác trong cùng vụ án nhưng bị cáo Lê Tiến D đã tự nguyện dùng tiền, tài sản của mình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra nên căn cứ điểm b khoản 2 Nghị Quyết số 04/2025 của HĐTP thì có đủ căn cứ cho bị cáo D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra bị cáo D có mẹ đẻ là bà Phùng Thị L1 là thương binh 4/4, được tặng huy hiệu Chiến sỹ Trường Sơn, được Chủ tịch nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì. Bị cáo B có mẹ đẻ là bà Đỗ Thị S tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì. Do đó cả hai bị cáo D và B đều được thêm tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về áp dụng hình phạt chính đối với các bị cáo:
[9] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần xử lý thoả đáng bằng pháp luật hình sự để giáo dục và phòng ngừa chung.
[9.1] Đối với bị cáo Dương Phương N: Nguyên nhân của tội phạm phát sinh từ việc bị cáo H cầm gạch ném D từ phía sau nhưng không trúng. Viên gạch rơi xuống chân N, N nhặt lên và trong lúc sô sát đã đập 1 lần trúng mặt B. Hành vi này xảy ra mang tính bộc phát, không có sự chuẩn bị hung khí từ trước, không tấn công liên tục, không thể hiện tính quyết liệt hay côn đồ. Sau khi gây thương tích cho B thì bị cáo N đã tác động đến D để cùng xin lỗi và bồi cho bị hại số tiền 450.000.000 đồng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho N và không còn yêu cầu gì khác.
Xét có bị cáo N được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có thể xem xét xử bị cáo mức hình phạt dưới khung của điều luật theo khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Ngoài có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên thì bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, không cần thiết phải buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự, giao các bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý và giáo dục cũng đủ răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[9.2] Đối với bị cáo Nguyễn Như H: Do bị cáo bỏ trốn sau khi phạm tội và bị bắt truy nã. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại cơ sở giam giữ một thời gian theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[9.3] Đối với các bị cáo Lê Tiến D và Lương Thanh B:
Xét các bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, không cần thiết phải buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự, giao các bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý và giáo dục cũng đủ răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
+ Về biện pháp ngăn chặn:
[10] Các bị cáo (Dương Phương N, Lương Thanh B và Lê Tiến D) bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo nên cần huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú theo điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Việc thực hiện nghĩa vụ, xử lý vi phạm, giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Người chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo trong thời gian chấp hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự không được xuất cảnh.
+ Về trách nhiệm dân sự:
[11] Đã được giải quyết xong, bị hại không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
+ Về xử lý vật chứng:
[12] Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 02 viên gạch chỉ màu đỏ có kích thước khoảng 5cm x 10cm x 20cm (loại gạch chỉ đặc), trong đó có 01 viên đã vỡ làm đôi; 01 con dao dài khoảng 35cm, cán gỗ màu nâu có đường kính khoảng 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có bản rộng khoảng 05cm do không còn giá trị sử dụng và là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
- Về án phí:
[13] Mỗi bị cáo trong vụ án đều phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về quyền kháng cáo:
[14] Các bị cáo, bị hại đều được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng điểm c khoản 3 (trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Dương Phương N phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Xử phạt bị cáo Dương Phương N 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Dương Phương N cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Hải Phòng cùng chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng thêm khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Như H; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Tiến D; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Thanh B;
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Như H, Lương Thanh B và Lê Tiến D phạm tội Gây rối trật tự công cộng;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Như H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2025.
- Xử phạt bị cáo Lê Tiến D 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Lê Tiến D cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Hải Phòng cùng chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Xử phạt bị cáo Lương Thanh B 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Lương Thanh B cho Ủy ban nhân phường Đ, thành phố Hải Phòng cùng chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
- - Về biện pháp ngăn chặn:
- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo (Dương Phương N, Lê Tiến D và Lương Thanh B).
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 02 viên gạch chỉ màu đỏ có kích thước khoảng 5cm x 10cm x 20cm (loại gạch chỉ đặc), trong đó có 01 viên đã vỡ làm đôi; 01 con dao dài khoảng 35cm, cán gỗ màu nâu có đường kính khoảng 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có bản rộng khoảng 05cm.
- (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Hải Phòng).
- - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo cáo (Dương Phương N, Nguyễn Như H, Lê Tiến D, Lương Thanh B) đều phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo:
- Các bị cáo (Dương Phương N, Nguyễn Như H, Lê Tiến D, Lương Thanh B)và bị hại (Lương Thanh B) đều được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 120/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 120/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Phương Nam
